Bản án số 350/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 350/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 350/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 350/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 350/2026/DS-PT Bản án số 350/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 350/2026/DS-PT Bản án số 350/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Chương.
Các Thẩm phán: Ông Dương Hà Ngân và ông Nguyễn Thế Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Đinh Thị Huê, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét
xử phúc thẩm công khai v án dân sự thụ số: 200/2026/TLPT-DS ngày 09
tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng bị kháng cáo,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2026/QĐ-PT ngày 05 tháng 5
năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 280/2026/QĐ-PT ngày 27 tháng 5
năm 2026, gia các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng N, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ C, khu
phố A, phường V, thành phố Hồ Chí Minh Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phú T Nguyễn Thị X; địa chỉ: Bon J, N,
tỉnh Lâm Đồng Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Thị O, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ C, khu phố A, phường V, thành
phố Hồ Chí Minh Vắng mặt.
2. Ông Phú H Bùi Thị L; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh
Thanh Hóa Ông H có mặt, L vắng mặt.
3. Ông Phạm Kim T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, Đ, tỉnh Lâm
Đồng Vắng mặt.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân N, tỉnh Lâm Đồng, địa chỉ: Bon Đ, xã N,
tỉnh Lâm Đồng.
Người tham gia tố tụng tại Tòa án: Ông Văn Phú L1, chức vụ Phó trưởng
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 350/2026/DS-PT
Ngày 25-6-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
phòng kinh tế N Vắng mặt.
5. H1, sinh năm 1970; anh Y T2, sinh năm 1999; chị H N1, sinh năm
2004; anh Y N2, sinh năm 2006; cháu H’ Kiếm, sinh năm 2012; cùng địa chỉ:
Bon J, xã N, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt.
Người giám hộ cho cháu H’ Kiếm:H1 (mẹ đẻ); địa chỉ bon J, xã N, tỉnh
Lâm Đồng Vắng mặt.
6. Ông Dương Danh T3, Trần Thị N3, địa chỉ: địa chỉ bon J, N, tỉnh
Lâm Đồng Vắng mặt.
7. Ông Tào Duy T4, bà Trần Thị T5, địa chỉ: địa chỉ bon J, N, tỉnh Lâm
Đồng Vắng mặt.
8. Ông Nguyễn Đình N4, Thị M, địa chỉ: địa chỉ bon J, xã N, tỉnh
Lâm Đồng Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Tào Duy T4, sinh năm 1971, địa chỉ: Bon J, N, tỉnh Lâm Vắng
mặt.
- Ông Nguyễn Mạnh C, địa chỉ thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt.
- H J, sinh năm 1961 (tên gọi khác H Dưng); chị H D, sinh năm 1979; chị
H B, sinh năm 1988; chị H C1, sinh năm 1997; cùng địa chỉ: Bon Y, N, tỉnh
Lâm Đồng Vắng mặt.
- Bà Trần Thị T6, Địa chỉ: Bon J, xã N, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Đăng N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 18/6/2024, trong qtrình tố tụng tại Tòa án
và tại phiên tòa ông Nguyễn Đăng N trình bày:
Vào tháng 01/2010, ông N nhờ ông Phú H nhận sang nhượng cho
ông N 01 lô đất của ông Phạm Kim T1, địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk
Nông với giá 52.000.000 đồng. Sau khi được ông Phú H đồng ý thì ông N đã
chuyển tiền cho ông H 10.000.000 đồng đặt cọc giúp, đất ông N nhờ ông H
nhận sang nhượng giúp, thửa đất có tứ cận:
+ Phía Nam giáp đường liên huyện.
+ Phía Tây giáp đất của bà Trần Thị T6, sinh năm 1991.
+ Phía Bắc giáp đất của ông Nguyễn Phú T.
+ Phía Đông giáp đất của ông N5.
Cụ thể, ngày 20/01/2010 ông H đã nhận tiền và đặt cọc giúp ông N nhận
sang nhượng đất của ông T1 được UBND N xác nhận. Đến ngày
29/01/2010 ông N đã trực tiếp đến nhận đất làm thủ tục nhận sang nhượng.
Do ông N đã nhờ ông H đứng ra nhận sang nhượng giúp vậy, các bên đã hợp
thức hóa giấy tờ bằng cách thỏa thuận ông H sang nhượng lại đất ông T1
đã sang nhượng cho ông N. vậy, ngày 29/01/2010 ông Lê Phú H đã viết giấy
3
sang nhượng lại đất cho ông N và ông N trực tiếp giao đtiền cho ông T1 số
tiền còn lại 42.000.000 đồng. Việc ông H viết giấy sang lại cho ông N sự
chứng kiến của ông T1 và ông Tào Duy T4. Ông N có liên lạc qua điện thoại với
ông Tào Duy T4 thì được biết, thửa đất này trước đây ông Phạm Kim T1 nhận
sang nhượng của ông Ma T7, địa chỉ: Y, N, huyện K, tỉnh Đăk Nông (ông N
chỉ biết thông tin như vậy, ông N không về lai lịch ông Ma T7). Sau khi mua
thửa đất trên ông N cùng gia đình đi làm thuê mưu sinh tại khu phố A, phường
H, thị B, tỉnh Bình Dương nên chưa làm thủ tục cấp sổ theo quy định. Đến
năm 2019, ông N lên làm thủ tục cấp sổ thì ông Nguyễn Phú T đã chiếm gi
thửa đất trên của ông N để trồng cây, đồng thời ông T cho rằng thửa đất trên ông
T mua lại của ông Phú H nhưng không cung cấp được giấy tờ mua bán gì. Do
đó ông N đã làm đơn gửi đến UBND xã N để tố cáo hành vi của ông T như trên.
Ngày 08/7/2019, Ủy ban nhân dân N đã mời các bên lên giải quyết
nhưng sau đó ông T vẫn không chấm dứt hành vi chiếm đất của ông N đến
nay còn xây nhà và kinh doanh cây Kiểng trên toàn bộ diện tích thửa đất của ông
N. vậy, ông N đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
Nguyễn Phú T phải tự tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất nhà và sở kinh
doanh y kiểng tại bon J, N, huyện K, tỉnh Đăk Nông ông Nguyễn Đăng
N đã nhận sang nhượng của ông Phú H ngày 20/01/2010 để trả lại nguyên
trạng ban đầu của thửa đất trả lại toàn bdiện tích đất 240m
2
(chiều ngang
mặt đường 8m, chiều dài 30m) đã lấn chiếm cho ông Nguyễn Đăng N, tứ cận
thửa đất như sau:
+ Phía Nam giáp đường liên huyện.
+ Phía Tây giáp đất của bà Trần Thị T6.
+ Phía Bắc giáp đất của ông Nguyễn Phú T.
+ Phía Đông giáp đất của ông N5,
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Đăng N
thay đổi bổ sung yêu cầu buộc ông Nguyễn Phú T, Nguyễn Thị X phải tự
tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất là nhà ở và cơ sở kinh doanh cây kiểng để trả
lại nguyên trạng ban đầu của thửa đất và trả lại toàn bộ diện tích đất theo kết quả
đo đạc 219,5 m
2
đất (trong đó: đất quy hoạch giao thông 24.8 m
2
+ đất tranh
chấp 194.7 m
2
), chiều ngang mặt đường 8m, chiều dài 24.19 m) đã lấn
chiếm cho ông N, tứ cận thửa đất như sau:
+ Phía Đông giáp đất của ông Nguyễn Phú T, bà Nguyễn Thị X.
+ Phía Tây giáp đất của bà Trần Thị T6.
+ Phía Nam giáp đường Đ.
+ Phía Bắc giáp đất của ông Nguyễn Phú T, bà Nguyễn Thị X.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai tại phiên tòa bị đơn ông
Nguyễn Phú T và bà Nguyễn Thị X trình bày:
4
Ông Nguyễn Phú T và bà Nguyễn Thị X không đồng ý với lời trình bày của
ông N. Vì, mối quan hệ gia ông Nguyễn Đăng N và ông Lê Phú H con ,
cậu ruột với nhau. Ông N chưa bao giờ mua 8m đất trên khu vực của chúng tôi
đang ở. Suốt 15 năm qua cho đến nay, vợ chồng ông T, X làm và bán y
giống lúc nào cũng có người trực bán. Mảnh đất ông N5ông T, bà X mua và
làm y giống trên mảnh đất đó. n mảnh đất của anh H c đầu chúng tôi
mượn và làm cây giống trên mảnh đất đó. Đến năm 2014 chúng tôi mua luôn
mảnh đất của anh H. Trong thời gian 15 năm qua gia đình i chưa bao giờ thấy
anh Nguyễn Đăng N đến mua đất, kể cả đo đạc, cắm ranh giới, cắm mốc. Giờ
ông N bảo chúng tôi dọn dẹp tháo dỡ để lấy đất, thậm chí ông N còn không nhớ
ranh giới đất của mình, chúng tôi n chỉ đất cho ông N biết. Đến năm 2020
chúng tôi đo đạc và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cán bộ địa chính
cho biết diện tích đất 8m đất của anh H bán cho chúng tôi đã có người kiện,
do đó địa chính hoãn không m được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này
na.
Diện tích đất ông N đang tranh chấp với chúng tôi thì ngày 16/9/2014
chúng tôi đã mua của ông Lê Phú H với giá 106.000.000 đồng, cùng ngày chúng
tôi đưa trước 36.000.000 đồng, còn lại 70.000.000 đồng , năm 2014 chúng tôi đã
trả thêm cho ông H để là bìa đỏ là 40.000.000 đồng (cụ thể ngày 27/10/2014 đưa
cho ông H 20.000.000 đồng, ngày 8/11/2014 đưa cho ông H 5.000.000 đồng,
ngày 14/12/2014 đưa cho ông H 15.000.000 đồng) hẹn ông H khi nào m
xong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sđưa hết tiền 30.000.000 đồng. Sau
một năm ông H không làm được sổ đỏ, ông H cũng không hỏi số tiền còn lại. Bị
đơn không yêu cầu phản tố.
* Ý kiến người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị O trình bày:
Ông Phú H vợ chồng ông N, O mối quan hệ con với nhau.
Vào tháng 01/2010, bà O và chồng là ông Nguyễn Đăng N có nhờ ông Lê Phú H
nhận sang nhượng cho chúng tôi 01 đất của ông Phạm Kim T1, địa chỉ: thôn
T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông với giá 52.000.000 đồng. Sau khi được ông
Phú H đồng ý thì vợ chồng ông N, O đã chuyển tiền cho ông H 10.000.000
đồng đặt cọc giúp, đất vợ chồng tôi nhờ ông H nhận sang nhượng giúp
diện tích 240m2, tứ cận:
+ Phía Nam giáp đường liên huyện.
+ Phía Tây giáp đất của bà Trần Thị T6.
+ Phía Bắc giáp đất của ông Nguyễn Phú T.
+ Phía Đông giáp đất của ông N5.
Đến ngày 29/01/2010 vợ chồng tôi đã trực tiếp đến nhận đất và làm thủ tục
nhận sang nhượng. Do vợ chồng tôi đã nhờ ông H đứng ra nhận sang nhượng
giúp vậy, chúng tôi đã hợp thức hóa giấy tbằng cách thỏa thuận anh H sang
nhượng lại đất ông T1 đã sang nhượng cho vợ chồng tôi. vậy, ngày
29/01/2010 anh Phú H đã viết giấy sang nhượng lại đất cho vợ chồng tôi
5
vợ chồng tôi trực tiếp giao đủ tiền cho ông T1 số tiền còn lại 42.000.000
đồng. Việc ông H viết giấy sang lại cho vợ chồng tôi sự chứng kiến của ông
T1. Sau khi mua thửa đất trên vợ chồng tôi cùng gia đình đi làm thuê mưu sinh
tại khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương nên chưa làm thủ tục cấp sổ
theo quy định.
Đến năm 2019, vchồng tôi lên làm thủ tục cấp sổ thì ông Nguyễn Phú
T (địa chỉ: Bon J, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông) đã chiếm gi thửa đất trên của
vợ chồng tôi để trồng cây, đồng thời ông T cho rằng thửa đất trên ông T mua lại
của ông Phú H nhưng không cung cấp được giấy tmua bán gì. Do đó vợ
chồng tôi đã làm đơn gửi đến UBND xã N để tố cáo hành vi của ông T như trên.
Ngày 08/7/2019, UBND xã N đã mời các bên lên giải quyết nhưng sau đó ông T
vẫn không chấm dứt hành vi chiếm đất của tôi đến nay còn xây nhà kinh
doanh cây kiểng trên toàn bộ diện tích thửa đất của vợ chồng tôi.
vậy ông N đã làm đơn khởi kiện yêu cầu ông T, bà X trả lại đất đã lấn
chiếm đất của chúng tôi. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của ông
Nguyễn Đăng N, buộc ông T, X trả lại đất đã lấn chiếm đất của chúng tôi.
Tôi không yêu cầu độc lập.
* Ý kiến người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phú H
Bùi Thị L:
Trước đây tôi có mua cho anh Nguyễn Đăng N một mảnh đất có chiều rộng
8 mét, chiều dài 30 mét, năm 2010 của ông T1 Ủy ban nhân dân xã N xác
nhận. Trong thời gian 4 năm sau anh N nói với Tôi “có ai mua thì bán”, lúc
đấy ông T mua nhưng tôi viết giấy tbán cho ông T, đặt cọc một số tiền
rồi không đưa, tôi không gọi ông N để làm giấy tsang nhượng cho ông T na,
trong giấy tờ có ghi trong thời gian không đưa tiền, giấy tờ này không có giá trị.
Đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt.
* Ý kiến người quyền lợi nghĩa vụ liên quan hộ ông Y K (gồm
ông Y K (đã chết năm 2018), H1, anh Y T2, chị H N1, anh Y N2, cháu H’
Kiếm (người giám hộ cho cháu H’ Kiếm:H1 (mẹ đẻ)) trình bày:
Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 20, diện tích: 7.330
2
, mục đích sử dụng: Đất
tại nông thôn (Trong đó: Đất ở: 400m
2
, đất trồng cây lâu năm: 6.930m
2
, hạn sử
dụng: Đất ở: Lâu dài, đất trồng cây lâu năm: Đến năm 2043 thửa đất số
143,
tờ bản đồ số: 20, diện tích: 200m
2
, mục đích sử dụng: Đất trồng lúa; thửa đất
số:
328, tờ bản đồ số: 20, diện tích: 500m
2
, mục đích sử dụng: Đất trồng lúa
thửa
đất số: 329, tờ bản đồ số: 20, diện tích: 125m2 , mục đích sử dụng: Đất
trồng lúa,
thời hạn sử dụng: Đến năm 2013, số phát hành: R 509122, số vào số:
291387, do
UBND huyện K cấp ngày 10/12/2001, mang tên hộ ông: Y Krơi.
Tuy nhiên, diện tích 219,5 m
2
đất (trong đó: 24.8 m
2
+ 194.7 m
2
), chiều
ngang mặt đường 8m, chiều dài 24.19 m) gia ông N ông T X đang
tranh chấp không phải đất của hộ gia đình ông Y K và bà H1.
6
Đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt.
* Ý kiến người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân
huyện K, tỉnh Đăk Nông trình bày: Qua kiểm tra lồng ghép trên thửa đất đo đạc
thì diện tích 194.7 m
2
tranh chấp nêu trên chồng lên một phần thửa đất s11, tờ
bản đồ số 20 đã được cấp giấy cho ông Y D1 tại Quyết định số 1509/QĐ-UB
ngày 28/12/2001, theo bản đồ hiện trạng sử dụng đất của năm 2005 và năm 2010
là đất trồng cây lâu năm (mã ký hiệu LNC)
* Ý kiến quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời người làm chứng
ông Tào Duy T4 trình bày: Khoảng năm 2010 ông T4 chứng kiến việc ông
Phạm Kim T1 bán cho ông Phú H một thửa đất chưa giấy chứng nhận
quyền sử đất tại bon J, N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay bon J, N, tỉnh
Lâm Đồng). Ngoài ra ông T4 không biết gì thêm.
Tuy nhiên lời khai của ông T4 khai rằng, diện tích 219,5 m
2
đất (trong đó:
24.8 m
2
+ 194.7 m
2
), chiều ngang mặt đường 8m, chiều dài 24.19 m) gia
ông N và ông T X đang tranh chấp không phải đất của ông Tào Duy T4, bà
Trần Thị T5 và không yêu cầu độc lập, đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt.
* Ý kiến quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dương Danh T3, Trần
Thị N3 trình bày:
Ông Dương Danh T3, Trần Thị N3 nhận sang nhượng đất của ông
Hoàng Công H3, Thị T8, ông H3, T8 nhận sang nhượng đất từ ông
Phú H, bà Bùi Thị L trên thửa 12, tờ bản đsố 20 khai rằng hiện tại thửa đất
tranh chấp gia ông N với ông T X không phải đất của ông Dương Danh
T3, Trần Thị N3 không yêu cầu độc lập, đnghị giải quyết xét xử vắng
mặt.
* Ý kiến quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình N4,
Thị M trình bày:
Vợ chồng ông Nguyễn Đình N4, Thị M nhận sang nhượng của ông
Phú H, Bùi Thị L trên thửa 12, tbản đồ số 20 khai rằng hiện tại thửa
đất tranh chấp gia ông N với ông T X không phải đất của ông Nguyễn
Đình N4, Lê Thị M không yêu cầu độc lập, đề nghị giải quyết xét xử vắng
mặt.
* Ý kiến người làm chứng của hộ gia đình ông Y D1 (gồm ông Y D1
(đã chết năm 2002), H J (tên gọi khác H D2), chị H D, chị H BLêm, ông Y
T9, chị H C1 trình bày: Hộ gia đình H J đều thừa nhận hộ gia đình thửa
đất số 11, tờ bản đồ số 20, diện tích: 1.540m
2
mục đích sử dụng là đất ở: 400m
2
đất trồng cây hàng năm: 1.140 m
2
, thời hạn sử dụng đất ở: lâu dài và đất
trồng cây hàng năm: 2013, số vào sổ: 291408 được Ủy ban nhân dân huyện K
cấp ngày 28/12/2001 cấp cho Hộ ông: Y Djrang. Tuy nhiên, diện tích 219,5 m
2
đất (trong đó: 24.8 m
2
+ 194.7 m
2
), chiều ngang mặt đường 8m, chiều dài
24.19 m) gia ông N ông T X đang tranh chấp không phải đất của hộ gia
đình ông Y Djrang .
7
* Ý kiến người làm chứng ông Nguyễn Mạnh C trình bày:
Thửa đất của ông C đã sang nhượng cho Trần Thị T6 thửa đất giáp
ranh diện tích đất tranh chấp gia ông N và ông T, bà X. Vì vậy, diện tích 219,5
m
2
đất (trong đó: 24.8 m
2
+ 194.7 m
2
), chiều ngang mặt đường 8m, chiều i
24.19 m) gia ông N ông T X đang tranh chấp nằm chồng lên thửa 11,
tờ bản đồ số 20, thửa đất tại bon J, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay bon J, xã
N, tỉnh Lâm Đồng) không phải thửa đất ông C đã chuyển nhượng cho chị
Trần Thị T6.
Bản án dân sự thẩm số: 01/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 Lâm Đồng đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều
35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 180, Điều 228, Điều 266, Điều
271 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2025);
- Áp dụng khoản 1 Điều 166, Điều 167, Điều 170, Điều 203 của Luật đất
đai 2013; Điều 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Đăng
N yêu cầu buộc ông Nguyễn Phú T, Nguyễn Thị X trả lại trả lại toàn bộ diện
tích đất theo kết quả đo đạc 219,5 m2 đất (trong đó: đất quy hoạch giao thông
24.8 m2 + đất tranh chấp 194.7 m2), chiều ngang mặt đường 8m, chiều
dài 24.19 m) đã lấn chiếm ông Nguyễn Phú T, Nguyễn Thị X phải tự
tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất nhà sở kinh doanh cây kiểng để
trả lại nguyên trạng ban đầu của thửa đất tại Bon J, N, huyện K, tỉnh Đăk
Nông (nay Bon J, xã N, tỉnh Lâm Đồng).
2. Về án phí, chi phí tố tụng khác:
[2.1]. Lệ phí thông báo trên phương tiện đại chúng: Ông Nguyễn Đăng N
phải chịu chi phí s tiền 6.522.000 đồng, đã nộp theo Phiếu thu ngày
15/11/2024 tại Cơ quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam; Hóa đơn giá trị gia
tăng ngày 22/11/2024 của B1 đăng trên Cổng thông tin điện tử TAND tỉnh
Đắk Nông (nay TAND tỉnh Lâm Đồng).
Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chậm thi hành án, chi phí
tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05-2-2026 nguyên đơn ông Nguyễn Đặng N6 kháng cáo toàn bộ bản
án của Tòa án nhân dân khu vực 9 Lâm Đồng đề nghị xét xử theo thủ tục phúc
thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn gi nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng
cáo; bị đơn ông Nguyễn Phú T Bùi Thị X1 đồng ý trả lại cho ông Nguyễn
Đăng N số tiền đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn thiếu
8
30.000.000 đồng 120.000.000 đồng tiền trượt giá đất. Các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư
ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận stự nguyện trả tiền của
ông Nguyễn Phú T Bùi Thị X1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, gi nguyên bản án sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đăng N nộp trong thời hạn luật định,
đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[1.2]. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị O, Bùi Thị L,
ông Phạm Kim T1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Lâm Đồng, Bà H1, anh Y
T2, chị H N1, anh Y N2, cháu H’ Kiếm, ông Dương Danh T3, Trần Thị N3, ông
Tào Duy T4, Trần Thị T5, ông Nguyễn Đình N4, Thị M mặc đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều
227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt nhng người trên.
[1.3]. Về cách tham gia tố tụng: Theo đồ lồng ghép hiện trạng thửa
đất tranh chấp chồng lên một phần của thửa 12, tờ bản đồ số 20 mang tên hộ
ông: Y K và chồng lên một phần của thửa đất 11, tờ bản đồ 20 mang tên hộ ông
Y Djrang . Do đó để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của đượng sự, cần xác
định ông Y K, bà H' Chuôi, anh Y T2, chị H N1, Y N7, H Kiếm ông Y D1, bà H
J, chị H D, chị H BLêm, ông Y T9; chị H C1 người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án mới đảm bảo quyền lợi cho đương sự. Tuy nhiên quá trình
giải quyết vụ án tại cấp thẩm có lấy lời khai của nhng người nêu trên và đều
xác định không sử dụng và không liên quan đếm thửa đất gia nguyên đơn và bị
đơn đang tranh chấp xét thấy không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp
pháp của họ. Do đó, Tòa án phúc thẩm nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
[2]. Xét kháng cáo ca ông Nguyễn Đăng N; căn cứ vào các tài liệu, chứng
cứ thu thập trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng
tại phiên tòa:
[2.1]. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại trả lại toàn bộ diện tích
đất theo kết quả đo đạc 219,5 m² đất (trong đó: 24.8 (lộ giới) + 194.7 m²),
chiều ngang mặt đường 8m, chiều dài là 24.19m đã lấn chiếm và phải tự tháo dỡ
toàn bộ công trình trên đất nhà skinh doanh cây kiếng để trả lại
nguyên trạng ban đầu của thửa đất.
9
[2.2]. Theo đồ lồng ghép hiện trạng thửa đất tranh chấp do Chi nhánh
văn phòng Đ cung cấp ngày 17/02/2025, kết quả diện tích đất tranh chấp chồng
lên một phần của thửa 12, tờ bản đồ s20 mang tên hộ ông: Y K chồng lên
một phần của thửa đất 11, tờ bản đồ 20 mang tên hộ ông Y Djrang . Quá trình
giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành lấy lời khai của các hộ dân được cấp
GCNQSDĐ tại thửa 11 thửa 12, cũng như nhng hộ gia đình thửa đất
được tách ra từ thửa 12, tờ bản đồ số 20 đều lời khai rằng diện tích 219,5m
2
đất (trong đó 24.8m
2
+ 194.7m
2
), chiều ngang mặt đường 8m, chiều dài
24.19m) gia ông N ông T X1 đang tranh chấp không phải đất của nhng
người trên.
[2.3]. Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cùng lời trình bày thống nhất
của các đương sự thể hiện: Ngày 29/01/2010, ông N nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng thửa đất đang tranh chấp từ ông T1 bằng giấy chuyển nhượng viết tay
xác nhận của Ủy ban nhân dân N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (cũ). Sau khi
nhận chuyển nhượng, ông N đã giao cho ông H thay mặt mình thực hiện việc
chuyển nhượng lại thửa đất cho ông T X1 với giá 106.000.000 đồng. Việc
ông N ủy quyền cho ông H thực hiện việc chuyển nhượng là tình tiết được chính
ông N ông H cùng thừa nhận, không sự tranh chấp gia các bên, nên theo
quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015, đây tình tiết, sự
kiện không phải chứng minh.
[2.4]. Hồ vụ án đồng thời thể hiện sau khi nhận tiền đặt cọc từ ông T
X1, ông H không thanh toán lại tiền chuyển nhượng cho ông N theo thỏa
thuận gia hai bên. Mặt khác, ông T X1 cũng chưa thanh toán hết số tiền
nhận chuyển nhượng do ông H không thực hiện được việc làm thủ tục cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất như đã cam kết. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến
việc các bên chưa hoàn tất nghĩa vụ thanh toán không xuất phát từ việc phủ nhận
hay tranh chấp vgiao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xuất phát từ
việc nghĩa vụ của ông H trong việc hoàn thiện thủ tục pháp đối với thửa đất
không được thực hiện, kéo theo nghĩa vụ thanh toán của các bên cũng chưa được
hoàn tất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T X1 đều xác nhận vẫn tiếp tục thừa
nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xác lập, không yêu cầu
hủy bỏ giao dịch, đồng thời tnguyện cam kết thanh toán cho ông N toàn bộ số
tiền còn thiếu cùng khoản tiền chênh lệch do biến động giá đất với tổng số tiền
là 150.000.000 đồng.
[2.4]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ nên
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5]. Từ nhng vấn đề phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét
thấy không căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng
N, gi nguyên bản án sơ thẩm ghi nhận sự tnguyện của ông Nguyễn Phú T
Bùi Thị X1 về việc trả lại cho ông Nguyễn Đăng N số tiền 150.000.000
đồng, trong đó 30.000.000 đồng tiền đất còn thiếu 120.000.000 đồng tiền
trượt giá đất.
10
[3]. Lệ phí thông báo trên phương tiện đại chúng: Về lệ phí thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng là số tiền 6.522.000 đồng, nguyên đơn phải chịu
chi phí số tiền 6.522.000 đồng theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng
dân sự, đã nộp theo Phiếu thu ngày 15/11/2024 tại Cơ quan thường trú Đài tiếng
nói Việt Nam; Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 22/11/2024 của B1 đăng trên
Cổng thông tin điện tử TAND tỉnh Đắk Nông (nay TAND tỉnh Lâm Đồng).
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá với số tiền 11.758.000 đồng do nguyên đơn ông
Nguyễn Đăng N nộp tạm ứng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không
được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Ông Nguyễn
Đăng N đã nộp đủ số tiền này tại Tòa án.
[5]. Về án phí:
[5.1]. Án phí dân sự thẩm: Do yêu cầu của Nguyên đơn không được
chấp nhận, vậy nguyên đơn phải chịu án phí dân sự thẩm không giá ngạch
300.000 đồng, được trừ tạm ứng 5.000.000 đồng ông N đã nộp theo biên
lai số 0000599 ngày 18/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông
(nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9- Lâm Đồng). Hoàn trả ông Nguyễn
Đăng N số tiền 4.700.000 đồng.
[5.2]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo
quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng N, gi nguyên Bản án
dân sự thẩm số: 01/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 9 – Lâm Đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 166, Điều 167, Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai
2013; Điều 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Phú T và bà Bùi Thị X1 về việc
lại cho ông Nguyễn Đăng N số tiền 150.000.000 đồng, trong đó 30.000.000
đồng tiền đất còn thiếu và 120.000.000 đồng tiền trượt giá đất.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Đăng
N yêu cầu buộc ông Nguyễn Phú T, Nguyễn Thị X trả lại trả lại toàn bộ diện
tích đất theo kết quả đo đạc 219,5 m2 đất (trong đó: đất quy hoạch giao thông là
24.8 m2 + đất tranh chấp là 194.7 m2), có chiều ngang mặt đường 8m, chiều dài
24.19 m) đã lấn chiếm ông Nguyễn Phú T, Nguyễn Thị X phải tự tháo
dỡ toàn bộ công trình trên đất nhà sở kinh doanh cây kiểng để trả lại
11
nguyên trạng ban đầu của thửa đất tại Bon J, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông (nay
Bon J, xã N, tỉnh Lâm Đồng).
3. Về chi phí tố tụng:
[3.1]. Lệ pthông báo trên phương tiện đại chúng: Ông Nguyễn Đăng N
phải chịu chi phí số tiền 6.522.000 đồng, đã nộp theo Phiếu thu ngày 15/11/2024
tại quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam; Hóa đơn giá trị gia tăng ngày
22/11/2024 của B1 đăng trên Cổng thông tin điện tử TAND tỉnh Đắk Nông
(nay TAND tỉnh Lâm Đồng).
[3.2]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Đăng N phải chịu
chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản 11.758.000 đồng. Ông
Nguyễn Đăng N đã nộp đủ số tiền này tại Tòa án.
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Đăng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không gngạch
300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 5.000.000 đồng mà ông N đã
nộp theo biên lai số 0000599 ngày 18/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện Krông (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9- Lâm Đồng). Hoàn
trả ông Nguyễn Đăng N số tiền 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn
đồng).
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Đăng N phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án
phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số của Thi
hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9
của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 9 – Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 9 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 9 – Lâm Đồng;
- THADS tỉnh Lâm Đồng
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Chương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 350/2026/DS-PT Bản án số 350/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 350/2026/DS-PT Bản án số 350/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất