Bản án số 591/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 591/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 591/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 591/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: qsd đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 591/2026/DS-PT Bản án số 591/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 591/2026/DS-PT Bản án số 591/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hồng
Ông Lê Minh Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên a: Ông
Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 299/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng
5 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 278/2025/DS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 516/2026/QĐ-PT ngày 14
tháng 5 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 673/2026/QĐ PT ngày 08
tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn:
1. Bà Bùi Thị Thu T, sinh năm 1979 (có mặt)
2. Ông Phạm Hữu T1, sinh năm 1974 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của T, ông T1: Luật Nguyễn
Anh T2 Thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Phước L, sinh năm 1953 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 591/2026/DS - PT
Ngày 26 - 6 - 2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng
đất, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
2. Bà Võ Thị Xuân L1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long.
3. Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn M nguyên đơn; Bùi Thị Thu T bị
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn ông Huỳnh Văn M lời khai của
ông Thái Kim S người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên
Trần Thị X mẹ ruột của ông Huỳnh Văn M chuyển giao quyền sử dụng đất cho
ông M từ trước năm 2001. Sau đó ông M được Ủy ban nhân dân xã PỦy ban nhân
dân huyện B xét duyệt cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất số 796773/QSDĐ-
1639/QĐ-UB ngày 04/12/2001, thửa số 1297, tờ bản đồ số 02, diện tích 225m
2
đất
thổ cư. Trong thời gian đã qua ông Lê Phước L đã sang bán hợp đồng giấy tay cho bà
Thị Xuân L1 L1 đã sang bán hợp đồng bằng giấy tay cho Bùi Thị Thu T
không biết họ sang bán bao nhiêu tiền theo thời giá khác nhau của tng thời kỳ.
Nhưng chỉ biết hiện nay T người trực tiếp s dụng tài sản đất đai nên ông
Huỳnh Văn M khiếu nại bà T, ông L, L1. Lần đầu Ủy ban nhân dân P chỉ mời
ông L nên không giải quyết được do ông L người không trực tiếp sử dụng tài sản.
Hiện nay Bùi Thị Thu T đã đăng thửa 09, tờ bản đồ số 16, diện tích 244m
2
tọa
lạc tại ấp P, P, tỉnh Vĩnh Long. Nay nguyên đơn yêu cầu ông Phạm Hữu T1
Bùi Thị Thu T trả lại gtrị của thửa số 09, tbản đồ số 16, tọa lạc ấp P, P, tỉnh
Vĩnh Long với số tiền của diện tích theo sổ 225m
2
quy ra giá trị theo giá Hội đồng
định giá có cao nhưng ông chỉ lấy số tiền 200.000.000 đồng.
Theo đơn phản tố ngày 20/11/2017, đơn phản tố bổ sung ngày 27/10/2025
trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Hữu T1, Bùi Thị Thu T trình
bày:
Vào năm 1976, Trần Thị X cho đất vợ chồng ông Phước L, sau đó
ông L lên nền nhà khoảng 150m
2
bán nền nhà cho Thị Xuân L1, L1 bán
lại cho bà Bùi Thị Thu T.
Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 03/7/2008 Bùi Thị Thu T chủ sử
dụng đối với thửa đất số 09, tờ bản đồ số 16, diện tích 244m
2
trong đó 161m
2
nhận
chuyển nhượng của bà Thị Xuân L1 vào năm 1997 83m
2
nhận chuyển
nhượng của ông Trần Văn N vào năm 1998. Tại thời điểm năm 1998, T đã xây
dựng nhà kiên cố trên thửa đất này, sử dụng n định lâu dài liên tục công khai từ
năm 1998, thực hiện các nghĩa vụ thuế ông M chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Nay nguyên đơn ông M yêu cầu bị đơn trả giá trị quyền sử dụng
đất đối với thửa 09, tờ bản đồ số 16 với số tiền của 225m
2
quy ra giá trị theo giá Hội
đồng định giá có cao nhưng ông M chỉ lấy số tiền 200.000.000 đồng thì bị đơn không
đồng ý phản tố yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
04/12/2001 cấp cho ông Huỳnh Văn M và công nhận hợp đồng chuyển nhượng
3
quyền sử dụng đất giữa Phước L Thị Xuân L1 vào năm 1995, giữa Võ Thị
Xuân L1 Bùi Thị Thu T vào năm 1997, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho
Bùi Thị Thu T đối với thửa 09, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại xã P, tỉnh Vĩnh Long.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Xuân L1 trình bày: Vào
năm 1995, mua đất của ông Phước L với giá 6 chỉ vàng hai bên làm
giấy giao kèo, lúc mua đất ông L nói đất đã được cấp sổ rồi nhưng sổ mẹ vợ ông L
vay ngân hàng chưa lấy ra được cũng thấy vợ ông L mới chết con n nhỏ nên
mới đồng ý mua. Lúc mua ông L đo thước ngang 10,8 mét, dài 23 mét. Mua
02 năm sau do bị mắc nợ nên bà mới bán lại cho T vào năm 1997 với giá 18 chỉ
vàng 24k làm giấy tay. bán đã lâu nên không liên quan đến bà, đề nghị
Tòa án xử theo quy định pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phước L trình bày: Vào năm
1976, mẹ ôngTrần Thị X cho ông và vợ ông Huỳnh Thị B 02 công đất
ruộng, quá trình sử dụng vợ chồng ông lên nền nđể ở. Sau đó vchồng ông
chuyển chượng phần đất mà mẹ vợ ông là bà X cho này cho ông Ngô Đ, đối với phần
đất nền nhà thì không chuyển nhượng cho ông Ngô Đạm . Sau khi vợ ông chết,
vào năm 1995 ông đã chuyển nhượng lại phần đất nền nhà cho cho Thị Xuân
L1, lúc bán hai bên làm giấy tay lấy thước đo. Ông chuyển nhượng đã lâu
nên không có liên quan đến ông, ông đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân P: Xin gải quyết
vắng mặt.
Tại bản án dân sự thẩm số: 278/2025/DS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Vĩnh Long đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Văn M về việc
yêu cầu ông Phạm Hữu T1 Bùi Thị Thu T trả lại giá trị của thửa số 09, tờ bản
đồ số 16 (thửa cũ số 1297, tờ bản đồ số 02), tọa lạc tại ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long với
số tiền của diện tích theo sổ là 225m
2
quy ra giá trị số tiền 200.000.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị Thu T, Phạm Hữu T1. Công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Tờ giao kèo bán đất nền nhà ngày
25/7/1995” giữa Lê Phước L Thị Xuân L1, “Tờ giao kèo bán đất nền nhà ngày
15/10/1997” giữa Võ Thị Xuân L1 và Bùi Thị Thu T đối với thửa số 09, tờ bản đồ số
16 (thửa cũ số 1297, tờ bản đồ số 02), tọa lạc tại ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
Kiến nghị quan thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa 09, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại P, tỉnh Vĩnh Long từ hộ Huỳnh
Văn M sang bà i Thị Thu T theo quy định pháp luật.
3. Không xem xét thụ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho Bùi Thị
Thu T đối với thửa 09, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại xã P, tỉnh Vĩnh Long.
4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu hủy giấy chng nhận
quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Huỳnh Văn M đối với thửa số 09, tờ bản đồ số 16
(thửa cũ số 1297, tờ bản đồ số 02), tọa lạc tại ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
4
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, nguyên đơn ông Huỳnh Văn M kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án thẩm theo
hướng buộc ông Phạm Hữu T1, bà Bùi Thị Thu T trả cho ông M giá trị phần diện tích
đất 225m
2
, thuộc thửa 1297 với số tiền 200.000.000 đồng.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, bị đơn Bùi Thị Thu T kháng cáo bản án sơ
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa một phần bản án sơ thẩm
theo hướng công nhận phần diện tích đất 244m
2
, thuộc thửa 9 cho bà T; tuyên vô hiệu
hợp đồng tặng cho giữa Trần Thị X với ông Huỳnh Văn M đối với thửa đất 1297;
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông M đối với thửa đất 1297.
Ngày 22/6/2026, nguyên đơn ông Huỳnh Văn M đơn xin rút lại đơn khởi
kiện, đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Bùi Thị Thu T, ông Phạm Hữu T1 không
đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn M; bị đơn T
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Bùi Thị Thu T, ông
Phạm Hữu T1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà T,
sửa một phần bản án sơ thẩm.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng:
Đối với việc nguyên đơn ông Huỳnh Văn M đơn rút lại đơn khởi kiện, tại
phiên tòa hôm nay bị đơn Bùi Thị Thu T, ông Phạm Hữu T1 không đồng ý với
việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn ông M nên đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn ông M.
Đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn M, ông M đơn xin rút
lại đơn kháng cáo, ông M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với u cầu
kháng cáo của nguyên đơn ông M.
Đối với kháng cáo của bị đơn Bùi Thị Thu T, việc Tòa án cấp thẩm
không tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị X
với ông Huỳnh Văn M đối với thửa đất 1297; tuyên không xem xét thụ yêu cầu
công nhận phần diện tích đất 244m
2
thuộc thửa đất số 9 cho bà T, ông T1 là thiếu sót;
tuyên đình chỉ đối với yêu cầu của bị đơn bà T về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Huỳnh Văn M đối với thửa đất 1297 không
đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của
bị đơn bà T.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt đương sự: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn M, người có quyền
lợi, nghĩa vliên quan ông Phước L, Thị Xuân L1, Ủy ban nhân dân P,
tỉnh Vĩnh Long đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Phiên tòa hôm nay
là phiên tòa mở lần thứ hai nên căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa
án xét xử vắng mặt đương sự trên.
[2] Đối với việc nguyên đơn ông Huỳnh Văn M đơn rút lại đơn khởi kiện,
tại phiên tòa hôm nay bị đơn Bùi Thị Thu T, ông Phạm Hữu T1 không đồng ý với
việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn ông M nên Hội đồng xét xử không chấp nhận
việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn ông M.
[3] Đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn M, Hội đồng xét xử xét
thấy, ngày 22/6/2026, ông Huỳnh Văn M đơn xin rút lại đơn kháng cáo ông M
đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử đình chỉ
xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Huỳnh Văn M.
[4] Thửa đất 1297, diện tích 225m
2
, tờ bản đồ số 02, tọa lạc ấp P, P, tỉnh
Vĩnh Long được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất
cấp cho Trần Thị X vào ngày 02/4/1992 (BL 165). Đến ngày 22/10/2001, Trần
Thị X tặng cho ông Huỳnh Văn M (nhưng làm dưới hình thưc hợp đồng chuyển
nhượng) thửa đất 1297 (BL 376 377); đến ngày 04/12/2001 hông Huỳnh Văn M
được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
đất 1297 (BL 233). Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 03/7/2008 thửa 09, diện
tích 244m
2
, tờ bản đồ số 16 do bà Bùi Thị Thu T kê khai, đăng ký (BL122).
[5] Thửa đất 1297, diện tích 225m
2
(nay là thửa số 9, diện tích 244m
2
),
nguồn gốc nằm trong phần đất 02 công mà bà Trần Thị X cho vợ chồng con gái là bà
Huỳnh Thị B, ông Lê Phước L vào năm 1976. Quá trình sử dụng, vợ chồng ông L
đắp đất lên nền nhà để ở. Sau đó vợ chồng ông L chuyển nhượng phần đất được bà X
cho này cho ông Ngô Đ, đối với phần đất nền nhà thì không chuyển nhượng cho
ông Ngô Đạm . Sau khi B chết, vào năm 1995 ông L đã chuyển nhượng lại phần
đất nền nhà (thửa 1297) cho Thị Xuân L1, hai bên làm giấy tay Tờ giao
kèo bán đất nền nhà ngày 25/7/1995 (BL 124). Đến năm 1997, bà L1 chuyển nhương
lại phần đất này cho Bùi Thị Thu T, làm giấy tay Tờ giao kèo bán đất nền
nhà ngày 15/10/1997 (BL 123). Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/6/2008, X thừa
nhận phần đất hiện nay đang tranh chấp giữa ông M với T, ông T1 (thửa 1297)
X cho vợ chồng ông L Huỳnh Thị B quản lý, sử dụng từ năm 1976 (mặc X
cho rằng phần đất này là của bà X) (BL 55). Tại biên bản xác minh ngày 28/11/2025,
ông Huỳnh Văn T3 (con bà X, anh của ông M) cho rằng phần đất tranh chấp hiện nay
giữa ông M với T, ông T1 mẹ ông Trần Thị X đã cho vợ chồng ông L, bà
B trước đây (BL 438).
[6] Xét về quá trình quản lý, sử dụng đất thửa đất 1297 (nay thửa số 9):
Thửa đất 1297 trên, ông L, B sử dụng tnăm 1976 cho đến năm 1995 chuyển
6
nhượng lại cho Thị Xuân L1. Năm 1997, L1 chuyển nhượng lại cho gia
đình T, năm 1998 gia đình T đã xây dựng nhà kiên cố trên thửa đất này, sử
dụng ổn định lâu dài liên tục và công khai cho đến nay. Tại biên bản lấy lời khai ngày
24/3/2009, ông M thừa nhận phần đất hiện nay đang tranh chấp, gia đình ông L, bà B
sử dụng từ năm 1976 đến khi chuyển nhượng lại cho L1 vào m 1995; ông M
cũng thừa nhận biết gia đình T xây dựng nhà ở trên phần đất tranh chấp năm 1998
nhưng không ý kiến, tranh chấp mặc ông M cho rằng nghĩ ông L cho gia
đình bà T mướn đất (BL 142 -143). Theo lời khai của người dân địa phương thì từ khi
ông L chuyển nhượng phần đất tranh chấp cho L1, L1 chuyển nhượng lại cho
bà T, bà T xây dựng nhà kiên cố thì ông M, bà X biết nhưng không tranh chấp gì (BL
433 434, 436).
Như vậy, có cơ sở khẳng định, phần diện tích đất tranh chấp thửa 1297, mặc
vào năm 1992, X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trên hiện
trạng do gia đình ông L, B quản lý, sử dụng; sau đó ông L chuyển nhượng lại
cho L1 vào năm 1995; năm 1997 L1 chuyển nhượng lại cho gia đình T sử
dụng cho đến nay. Theo quy định tại Điều 1 của Luật đất đai năm 1987 thể hiện một
trong các điều kiện để được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần
đầu nhân, hộ gia đình đó phải là người đang trực tiếp sử dụng đất. vậy, thửa
đất 1297 bà X không có sử dụng nhưng được cấp quyền sử dụng đất vào năm 1992 là
không đúng đối tượng theo quy định của Luật đất đai.
[7] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp trên
giữa ông L với L1, giữa L1 với T (Tờ giao kèo bán đất nền nhà ngày
25/7/1995, Tờ giao kèo bán đất nền nhà ngày 15/10/1997”), Hội đồng xét xử xét
thấy: Mặc các bên chỉ làm giấy tay nhưng các bên đã nhận tiền giao đất, T
sau khi nhận chuyển nhượng đã xây dựng nhà kiên cố trên đất nên căn cứ vào điểm
b.3, tiểu mục 2.3, Mục 2, Phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 129 của Bộ luật dân sự năm
2015 thì hợp đồng chuyển nhượng trên có hiệu lực pháp luật.
[8] Từ những chứng cứ phân tích trên [4], [5], [6], [7] cho thấy: Mặc
thửa đất 1297 X được cấp quyền sử dụng đất vào năm 1992, đến năm 2001 X
tặng cho thửa đất này cho ông Huỳnh Văn M hộ ông Huỳnh Văn M được cấp
quyền sử dụng đất nhưng trên thực tế phần đất này bà X đã cho vợ chồng ông L, bà B
vào năm 1976, quá trình sdụng ông L lên nền nhà, sau đó chuyển nhượng cho
L1 vào năm 1995; bà L1 chuyển nhượng lại cho T vào năm 1997 gia đình T
sử dụng cho đến nay; gia đình ông M từ trước cho đến nay không có quản lý, sử dụng
thửa đất này. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M
yêu cầu T, ông T1 trả giá trị phần diện tích đất 225m
2
, thuộc thửa 1297 (nay là
thửa 9) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[9] Xét kháng cáo của bị đơn Bùi Thị Thu T, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa
án cấp thẩm nhận định yêu cầu phản tố của T yêu cầu công nhận diện tích đất
244m
2
thuộc thửa số 9 cho T không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên
Tòa án không thụ lý yêu cầu này là không đúng pháp luật. Theo quy định của luật đất
đai, một trong các căn cứ để được cấp quyền sử dụng đất trong đó có căn cứ vào Bản
7
án của Tòa án. Điều này cho thấy, khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng, Tòa án có
thẩm quyền công nhận phần đất tranh chấp cho một trong các bên đương sự. Đối với
yêu cầu của T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất
1297 cấp cho hộ ông Huỳnh n M: Tòa án cấp sơ thẩm đình giải giải quyết yêu cầu
này của bà T là không đúng pháp luật. Trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ
cần nhận định việc cấp quyền sử dụng đất cho hộ ông M đối với thửa đất 1297 thông
qua giao dịch dân sự, không phải cấp quyền sử dụng đất lần đầu nên không chấp nhận
yêu cầu này của T, T quyền đến quan nhà nước thẩm quyền khai,
đăng làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 244m
2
thuộc thửa số
9 theo quyết định của Bản án. Do đó, Hội đồng xét xử sửa một phần bản án thẩm
theo hướng tuyên lại phần quyết định của bản án sơ thẩm như nhận định trên.
[10] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, như
phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận một phần.
[11] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích phần trên, Hội đồng xét
xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[12] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bùi Thị Thu T không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
theo biên lai số 0012032 ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Buộc ông Huỳnh Văn M phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm
nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai
số 0011625 ngày 09/12/2025 của Thi hành án n sự tỉnh Vĩnh Long, ông M được
nhận lại số tiền 150.000 đồng còn dư.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị Thu T.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông
Huỳnh Văn M.
Sửa bản án dân sự thẩm số: 278/2025/DS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long.
Áp dụng Điều 26 Luật Đất đai 2024;
Áp dụng Điều 166 của Luật Đất đai 2003;
Áp dụng Điều 1 Luật Đất đai năm 1987;
Áp dụng điểm b.3 tiểu mục 2.3, Mục 2, Phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-
HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Áp dng Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
ca y ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun
và s dng án phí và l phí Tòa án.
8
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Văn M về việc
yêu cầu ông Phạm Hữu T1, Bùi Thị Thu T trả giá trị diện tích đất 225m
2
thuộc
thửa đất số 09, tờ bản đồ số 16 (thửa số 1297), tọa lạc ấp P, P, tỉnh Vĩnh Long
với số tiền 200.000.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Bùi Thị Thu T, ông Phạm Hữu T1.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Tờ giao kèo bán đất
nền nhà ngày 25/7/1995” giữa Lê Phước LVõ Thị Xuân L1, “Tờ giao kèo bản đất
nền nhà ngày 15/10/1997” giữa Thị Xuân L1 Bùi Thị Thu T đối với thửa số
09, tờ bản đồ số 16 (thửa số 1297, tờ bản đồ số 02), tọa lạc ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh
Long có hiệu lực pháp luật.
Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/10/2001
giữa bà Trần Thị X với ông Huỳnh Văn M đối với thửa đất 1297, diện tích 225m
2
, tờ
bản đồ số 02, tọa lạc ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp P, P, tỉnh Vĩnh
Long).
Công nhận cho Bùi Thị Thu T, ông Phạm Hữu T1 được quyền quản lý, sử
dụng phần diện tích đất thực đo 244,1m
2
(phần hiệu 9-1, 9-2, 9-3, 9-4, 9-5), loại
đất ở nông thôn, thuộc thửa số 09, tờ bản đồ số 16 (thửa cũ số 1297, tờ bản đồ số 02),
tọa lạc ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long. Phần diện tích đất 244,1m
2
(phần ký hiệu 9-1, 9-2,
9-3, 9-4, 9-5) vị trí, tứ cận theo Họa đồ hiện trạng sdụng đất thửa đất số 9 ngày
18/7/2009 kèm theo.
Bùi Thị Thu T, ông Phạm Hữu T1 được quyền đến quan Nhà nước
thẩm quyền làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 244,1m
2
(phần ký hiệu 9-1, 9-2, 9-3, 9-4, 9-5) trên theo quyết định của Bản án này.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bùi Thị Thu T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà T
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0012032 ngày
15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Buộc ông Huỳnh Văn M phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm
nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số
0011625 ngày 09/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long, ông M được nhận
lại số tiền 150.000 đồng còn dư.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm về chi phí tố tụng, về án phí dân sự
sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không bị cải sửa có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
9
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 8 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 591/2026/DS-PT Bản án số 591/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 591/2026/DS-PT Bản án số 591/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất