Bản án số 416/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 416/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 416/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 416/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Dư Văn T yêu cầu ông Đỗ Đức L trả phần đất 96,4 mét vuông
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 416/2026/DS-PT Bản án số 416/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 416/2026/DS-PT Bản án số 416/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 416/2026/DS-PT
Ngày 16 - 6 - 2026
V/v Tranh chấp Quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 709/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 12
năm 2025 về việc Tranh chấp Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 234/2025/DS-ST ngày 30 háng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
- Nguyên đơn: Ông Dư Văn T, sinh năm 1988;
Hoàng Thị T1, sinh năm 1988
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Quách Ngọc L, sinh năm
1988. Địa chỉ cư trú: Số A, đường N, phường T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Đỗ Đức L1, sinh năm 1977 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường M (đường V), khóm D, phường A, tỉnh
Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn Đỗ Đức L1:
Ông Huỳnh Văn Ú Đặng Nguyệt T2 Luật của Văn P Luật
Thanh T3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Ông Ú (có mặt), còn bà T2 (có đơn xin vắng
mặt).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Anh T4, sinh năm 1982;
Địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường M (đường V), khóm D, A, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của T4: Ông Đỗ Đức L1, Sinh năm 1977.
Địa chỉ trú: Nhà không số, đường M (đường V), khóm D, phường A, tỉnh
Mau) (Có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Đỗ Đức L1 là bị đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kin, li trình bày của các đương s trong quá trnh gii quyết
v án và đưc b sung ti phiên tòa th hiện như sau:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Quách Ngọc L trình bày:
Ông Văn T, Hoàng Thị T1 phần diện tích đất tại đô thị diện ch
147,60m
2,
tọa lạc tại đường M (V), khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Mau
(nay phường A, tỉnh Cà Mau), nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng từ vợ chồng
ông Nguyễn Thành C, bà Trần ML2 năm 2018. Khi Chi nhánh V3 đăng đất đai
xuống đo đạc để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất th ông Đỗ Đức L1 có ký
giáp ranh. Tháng 6/2021 ông T, bà T1 phát hiện ông L1 lấn chiếm đất diện tích mặt
tiền chiều ngang cạnh xéo 6,7m; chiều dài một cạnh 5,7m, chiểu dài một cạnh hết
đất 32,1m, tổng diện tích 96,4m
2
nên ông T, T1 làm đơn yêu cầu Ủy ban
nhân dân phường T giải quyết tranh chấp nhưng không thành, sau đó ông T, T1
làm đơn khởi kiện đến Tòa án để giải quyết th đôi bên thống nhất ông T, bà T1 rút
đơn khởi kiện để chi nhánh văn phòng đăng đất đai đo vẽ xác định ranh đất th
ông L1 không hợp tác. Đến năm 2023, ông L1 tự ý xây hàng rào trên phần đất lấn
chiếm v vậy ông T, T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L1 ng vợ Trần
Anh T4 tháo dỡ toàn bộ công trnh xây dựng trên đất di dời đi nơi khác trả lại phần
đất lấn chiếm đất theo đo đạt thực tế có diện tích là 96,4m
2
.
Ông Đỗ Đức L1 trình bày: Ông Đỗ Đức L1 vợ Trần Anh T4 có phần
diện tích được Sở tài nguyên và môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
vào năm 2016 gồm thửa số 53 tờ bản đồ số 8 diện tích 521,6m
2
và thửa số 96 tờ bản
đồ số 86 diện tích 480,4m
2
. Đồng thời vào năm 2016 vợ chồng ông cũng được cấp
giấy phép xây dựng cất nhà khi xây nhà có làm hàng rào phía giáp đất ông T, bà T1
nhưng vẫn còn chừa phần đất trống để làm nơi chứa nước thải sinh hoạt. Đến năm
2023 ông xây hàng rào mới theo đúng với phần đất được cấp quyền sử dụng th phát
sinh tranh chấp với bị đơn. Ông T, T1 cho rằng vợ chồng ông lấn đất không
đúng nên ông không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại bản án dân sự thẩm số: 234/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau quyết định:
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dư Văn
T và bà Hoàng Thị T1.
Buộc ông Đỗ Đức L1 Trần Anh T4 tháo dỡ tường rào, di dời toàn bộ
tài sản, công trnh kiến trúc xây dựng trên đất để trả lại cho ông Văn T
Hoàng Thị T1 phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 96,4m
2
thuộc thửa số 141,
tờ bản đồ số 86 tọa lạc tại khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Mau (Nay thuộc
phường A, tỉnh Cà Mau).
(Kèm theo bản vẽ trích đo hiện trạng của Công ty TNHH MTV M ngày
18/9/2025).
3
- Chi phí tố tụng: Buộc ông Đỗ Đức L1 thanh toán cho ông Văn T
Hoàng ThT1 chi pđo đạc 27.121.000 đồng, chi phí thẩm định giá 17.000.000
đồng, tổng cộng 44.121.000 đồng.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí quyền kháng
cáo theo luật định.
Ngày 14/10/2025, bị đơn ông Đỗ Đức L1 kháng cáo yêu cầu Tán cấp phúc
thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 15/3/2026, bị đơn Đỗ Đức L1 kháng cáo bổ sung trường hợp không có căn cứ
sửa án thẩm th yêu cầu hủy án thẩm do vi phạm nghiêm trọng tố tụng khi
không đưa ông C, bà L2, ông Đ, X, ông X1 Ủy ban nhân dân thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn ông Đỗ Đức L1 giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, trường hợp không
đủ căn cứ để sửa án th đề nghị hủy án thẩm với các căn cứ sau: Quyền sử dụng
đất của bị đơn được cấp ngày 01/9/2015 và đã sử dụng ổn định đến nay. Tổng diện
tích được cấp 1.002m
2
được tách ra từ phần đất của ông Đ, X được cấp giấy chứng
nhận ngày 06/10/2014. Sau khi nhận chuyển nhượng đến năm 2016 ông L1, bà T4
xin chuyển mục đích sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại
ngày 24/6/2016, trong đó có 150m
2
đất thổ cư.
- Bị đơn được cấp hợp pháp sử dụng ổn định, lâu dài được cấp giấy phép
xây dựng, mặt tiền đất giáp đường Mậu Thân được cấp chiều ngang 8,7m. Tuy
nhiên, theo bản vẽ thực tế bđơn chỉ sử dụng 6,97m, v vậy sau khi đo đạc đất bị
đơn thiếu 1,73m nên không lấn đất nguyên đơn. Ngoài ra, năm 2016, ông L1, bà T4
xây nhà, xây hàng rào là đúng ranh đất được cấp, bị đơn chỉ cải tạo lại hàng rào trên
nền đà đã đổ trước đó, việc bị đơn có giáp ranh khi nguyên đơn làm thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đấtký xác định số thửa đất, không phải ký giáp
ranh.
- Nhận định của bản án sơ thẩm cho rằng đất nguyên đơn đường thẳng, kéo
thẳng từ phần đất còn lại của thửa đất bên kia đối diện lộ đường M do ông Lê Thanh
T5 làm căn cứ giải quyết vụ án không sở, suy đoán, không dựa vào hồ
địa chính. Việc ông Thanh T5 sử dụng phần đất bên kia lộ Mậu Thân cũng có thể
sai lệch. Trường hợp sai sót trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ
các giao dịch trước đây từ ông X1 sang ông Đ từ ông Đ sang ông L1, thì ông L1,
T4 là người thứ ba ngay tnh.
- Ngoài ra, bản án thẩm còn vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, khi
không đưa ông C, bà L2, ông Đ, X, ông X1 Ủy ban nhân dân thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tham gia tố tụng. Do nguyên đơn
quyền yêu cầu ông C, bà L2 diện tích còn thiếu, hoặc ông Đ, X sai hay UBND
thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai th ông L1, bà T4 có quyền
yêu cầu trong cùng vụ án.
4
- Yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, làm các nội dung bị đơn yêu cầu về
việc đất tranh chấp giữa bị đơn nguyên đơn chồng lấn hay không, phần đất
tranh chấp đất có nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L1, bà T4
hay không, làm mốc thời gian sử dụng đất giữa ông và ông Phạm Quốc H hộ
giáp ranh, để xác định phần đất ông L1 và ông H có chồng lấn hay không.
- Người đại diện theo ủy quyền và các nguyên đơn ông Dư Văn T, bà Hoàng
Thị T1 không thống nhất với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, bởi lẽ: Nguồn gốc phần
đất tranh chấp là ông Dư Văn T, bà Hoàng Thị T1 mua của ông Nguyễn Văn C1, bà
Trần Thị L3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2018, hnh
thể phần đất của ông C1, L3 đơn giản đường thẳng, khi làm lộ đường Mậu
Thân chia đôi phần đất ông C1, L3 làm 02 phần, phần giáp ông L1 ông C1 chuyển
nhượng cho ông T, T1, phần đối diện bên kia lộ Mậu Thân bán cho ông Thanh
T5. Đối với nguồn gốc đất của ông L1 mua nguồn gốc từ ông X1 cạnh giáp
ông C1 đường thẳng, đến năm 2014 ông X1 chuyển nhượng qua ông Đ hình
thể là đường xéo. Năm 2018, ông L1 đã xây dựng hàng rào bao toàn thể phần đất
tại phiên toà sơ thẩm ông L1 thừa nhận trên phần đất tranh chấp có đất của nguyên
đơn ông T, bà T1 san lấp, việc ông L1 cho rằng xây dựng hàng rào trên cừ và đà đã
đổ sẵn không đúng, năm 2018 khi ông làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ông L1 giáp ranh đất, khi đó ông L1 đã xây dựng hàng rào kiên cố
và có chụp ảnh lại phần đất nhận chuyển nhượng giáp ranh đất với ông L1, ngay vị
trí tranh chấp th không có thể hiện đà hàng rào ông L1 xây dựng từ trước.
Ông L1 cho rằng thửa đất giáp với ông T, bà T1 thiếu so với diện tích trong
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông, tuy nhiên việc thiếu của ông L1
40,5m
2
, không phải diện tích 96,4m
2
như diện tích đất tranh chấp. Đối với phần đất
của ông X1 ông C1 ranh chung đường thẳng, khi ông X1 chuyển nhượng
cho ông Đ 02 đường ranh là đường thẳng và đường xéo, nên việc ông Đ chuyển
cho ông L1 sai sót về hnh thể nhưng vị trí đúng với đất ông L1 nhận chuyển
nhượng sử dụng từ năm 2016. Quá trnh giải quyết vụ án bị đơn cho rằng quản
lý, sử dụng phần đất tranh chấp ổn định, lâu dài không đúng, do bị đơn chxây
dựng hàng rào trên đất tranh chấp từ năm 2023 dẫn đến tranh chấp, trước đó phần
đất này nguyên đơn quản đphần đất đắp nền chuyển mục đích quyền
sử dụng sang đất năm 2019. Do đó, đề nghHội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định
của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Đức L1 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng,
của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:
[1] Đơn kháng o của ông Đỗ Đức L1 trong thời hạn luật định, hợp lệ nên
được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn các căn cứ kháng cáo, Hội đồng xét xử xét
thấy:
Qua xem xét các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và lời trnh bày các
đương sự tại phiên a thấy rằng: Bị đơn ông Đỗ Đức L1 trnh bày vào năm 2016,
ông vợ Trần Anh T4 đã xây cất nhà xây dựng hàng rào bao quanh khu
đất của ông được cấp. Tuy nhiên, ông chừa một phần đất trũng để làm đường thoát
nước là phần đất tranh chấp. Năm 2016 khi ông xây nhà th xây dựng hàng rào bao
quanh, lúc này th ông cậm cừ sạn và đổ đà trước để sau này xây dựng hàng rào
trên vị trí ranh đất ông được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Đến năm 2023,
ông xây hàng rào mới lên phần móng cừ sạn, đà ông đã cậm từ trước. Ngoài ra, thửa
đất số 96 giáp phần đất tranh chấp với ông T, bà T1 diện tích được cấp 480,4m
2
,
kết quả đo đạc thực tế 439,9m
2
thiếu 40,5m
2
so với quyền sử dụng đất được cấp
nên không lấn chiếm phần đất của ông T, bà T1. Việc ông ký vào hồ đo đạc
cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất của ông T, T1 vào năm 2018 là ký xác
định thửa đất chứ không có ký giáp ranh đất.
Xét thấy, phần đất của ông ĐĐức L1 nguồn gốc từ ông Phạm Văn X1 được cấp
vào ngày 04/11/2003, ông X1 chuyển nhượng cho ông Minh Đ vào năm 2014,
đến năm 2015 ông Đ chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Thanh T6 và ông Đỗ Đức
L1. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giáp ranh giữa đất ông X1 và thửa 613
của ông Nguyễn Thành C đường thẳng từ trước, không có tranh chấp, nhưng khi
chỉnh biến động sang quyền sử dụng đất của ông Đ lại cạnh xéo, từ ông Đ
chuyển nhượng lại cho ông T6, ông L1 đã qua nhiều lần biến động. Mặc khác,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai chủ đất th ông C được cấp ngày
02/4/2003, đến ngày 04/11/2003 ông X1 mới được cấp giấy chứng quyền sử dụng
đất.
Nguồn gốc phần đất nguyên đơn ông Dư Văn T, Hoàng Thị T1 nhận chuyển
nhượng từ ông Nguyễn Thành C và Trần Thị L3 vào năm 2018 với diện tích
147,60m
2
và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất vào ngày 30/10/2018 cấp đổi ngày 09/01/2019. Khi ông T, T1
nhận chuyển nhượng đất th ông C, bà L3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào ngày 02/4/2003, đất của ông C, bà L3 hnh dạng đơn giản một
đường thẳng, khi Nhà nước thu hồi đất làm đường Vành Đai 2 th chia phần đất ông
C, bà L3 ra làm hai phần đối diện nhau, một phần bán cho ông T, T1 còn phần
đối diện bên kia đường Vành Đai 2 bán cho ông Lê Thanh T5 Phương V
(ông T5, V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng ngày 30/10/2018).
[3] Qua xem xét hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông
Văn T, Hoàng Thị T1 thể hiện: Ngày 22/8/2018, ông T, T1 lập hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng, chứng thực vào ngày 26/9/2018
6
bản tả ranh giới, mốc giới thửa đất. Theo bản tả phần đất tứ cận giáp
ông Đỗ Đức L1, ông Lê Thanh T5, ông Phan Tấn V1. Tại phiên tòa, ông L1 thừa
nhận tại thời điểm ông C, bà L3 chuyển nhượng đất cho ông T, bà T1 thì ông L1
tên nhưng chỉ xác định thửa đất, không phải giáp ranh đất. Xét thấy, tại bản
tả ranh giới, mốc giới sử dụng đất lập ngày 26/9/2018 thể hiện kích thước thửa
đất, cạnh các hộ giáp ranh đất th tại mục giáp ranh ông L1 tên, nên việc
ông L1 cho rằng ký xác định thửa đất là không có căn cứ.
Ngoài ra, qua xem xét hiện trạng đất thấy rằng: Ông L1 thừa nhận hàng rào
của ông xây dựng từ năm 2016 cùng lúc xây cất nhà. Đến năm 2018, khi ông T
nhận chuyển nhượng đất hiện trạng đã có sẵn hàng rào này, qua xem xét thực tế
phần đất, hnh ảnh do nguyên đơn cung cấp thấy rằng hàng rào này của ông L1
hàng rào kiên cố, trùng với ranh đất phía nguyên đơn xác định. Phía ông L1
nhận chuyển nhượng đất được cấp giấy chứng nhận năm 2016, xin chứng chỉ xây
dựng, sau đó tiến hành xây cất nhà, hàng rào bao quanh đất năm 2016. Giấy chứng
nhận, chứng chỉ huy hoạch đều thiết kế và vẽ hnh dạng xây dựng là cạnh giáp ranh
với ông C, L3 (chủ đất cũ của ông T) là cạnh xéo, nhưng trên thực tế ông L1 xây
dựng nhà hàng rào vào năm 2016 cạnh thẳng, trùng với ranh đất phía
nguyên đơn xác định, cho thấy ông L1 đã xác định ranh đất ông đã nhận
chuyển nhượng từ ông Đ và xây dựng hàng rào bao quanh phần đất của mnh.
Đối với việc ông L1 cho rằng hàng rào mới xây dựng trên cộc cừ sạn và đà
tông đổ trước thấy rằng: Năm 2023, ông L1 xây dựng hàng rào mới trên phần đất
tranh chấp th ông T, T1 không hay biết, khi phát hiện th ông L1 đã xây dựng
hàng rào gần hoàn thành đẫn đến tranh chấp. Ông L1 cho rằng xây dựng hàng rào
mới vào năm 2023 trên đà đã đổ từ trước, nhưng không có căn cứ chứng minh. Mặc
khác, tại phiên toà ông L1 cho rằng khi ông nhận chuyển nhượng đất th hiện trạng
là đất trống, không có công trnh trên đất, nhưng ông L1 lại xây dựng hàng rào kiên
cố bao quanh phần đất ông nhận chuyển nhượng của ông Đ từ năm 2016, đồng thời
ông L1 đcừ sạn, đà để đến năm 2023 xây dựng ng rào mới trên phần đất cho
rằng để làm đường thoát nước là không phù hợp.
Ngoài ra, theo bản trích đo hiện trạng ngày 18/9/2025 của Công ty TNHH M
thể hiện từ điểm M13M2 (thuộc phần đất ông T T1 đang tranh chấp) nối tuyến
thẳng với điểm A (Phần đất của ông Thanh T5) là vách tường hiện trạng của ông
T5. Như vậy, căn cứ xác định hiện trạng đất của ông C, L3 qua chỉnh
biến động (Nhà nước thu hồi làm lộ, bán cho ông T, T1 bán cho ông Lê Thanh
T5) vẫn còn đúng với thực tế quản của những người nhận chuyển nhượng phần
đất đang tranh chấp nằm đúng vị trí so với quyền sử dụng đất trước đây của ông C,
L3 chuyển nhượng cho ông T, T1. Qua đó cho thấy, ông L1 đã xây dựng hàng
rào kiên cố để quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất của mnh từ năm 2016, ông L1 cho
rằng phần đất ngoài hàng o chưa xây dựng ông dùng để làm nơi thoát nước sinh
hoạt nhưng hàng rào củ lại trùng với đường ranh nguyên đơn xác định, do đó việc
ông L1 cho rằng chừa lại phần đất mặt tiền giáp lộ hnh tam giác để làm đường thoát
nước là không phù hợp với diễn biến thực tế sự việc.
7
[4] Theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất của ông L1 được cấp 02 thửa
đất th thửa đất giáp với thửa đất của ông T thửa 96, diện tích được cấp 480,4m
2
,
kết quả đo đạc thực tế 439,9m
2
thiếu 40,5m
2
so với quyền sử dụng đất. Thửa 53
không giáp với ông T diện tích được cấp 521,6m
2
, kết quả đo đạc thực tế
468,2m
2
thiếu 53,4m
2
so với quyền sử dụng đất. Như vậy, cả hai thửa đất của ông
L1 đều thiếu so với thực tế chứ không phải chỉ thửa 96 giáp với ông T là thiếu diện
tích, thửa đất số 96 nếu cộng thêm diện tích tranh chấp (439,9m
2
+ 96,4m
2
=
536,3m
2
) th đất của ông L1 thừa 55,9m
2
.
[5] Tại Công văn số 962/VPĐKĐĐ-ĐKCG, của Văn phòng đăng ký đất đai
ngày 17/9/2025 xác định cụ thể nguồn gốc đất chuyển nhượng cho ông T là từ thửa
đất của ông C, diện tích chuyển nhượng, thời điểm chuyển nhượng được ghi nhận
đầy đủ cụ thể: “Phần đất ông Văn T Hoàng ThT1 nhận chuyển nhượng
được xác định tại bản mô tả ranh giới, mốc giới sử dụng đất lập ngày 26/9/2018 thể
hiện kích thước cạnh giáp đường V 6,7m, tứ cận giáp ông Lê Thanh T5, ông Đỗ
Đức L1 ông Phạm Tấn V2, được người sử dụng đất, chủ quản đất liền kề
xác nhận ranh giới, mốc giới sử dụng đất. Ngày 30/10/2018, ông Văn T,
Hoàng Thị T1 được Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thừa ủy quyền giám đốc
Sở T (nay Sở N) cấp Giấy chứng nhận số CN 920729 với diện ch 147,6m
2
đất
trồng lúa tại thửa 141, tờ bản đồ số 86, địa chỉ khu đất tại khóm A, phường T, tỉnh
Cà Mau.
Qua rà soát hồ sơ nhận chuyển nhượng đất của ông Dư Văn T và bà Hoàng Thị T1,
việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Văn T và
Hoàng Thị T1 là đảm bảo trnh tự, thủ tục theo quy định…”.
[6] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn cho rằng, trường hợp các giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất trước đây sai sót về hnh thể thửa đất dẫn đến việc
tranh chấp, th cần bảo vệ bị đơn là người thứ ba ngay tnh. Xét thấy, theo nhận định
như trên, sau khi bị đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lê Minh
Đ vào năm 2015 và đã xây hàng rào bao quanh phần đất của mnh từ năm 2016. Từ
đó cho thấy, bị đơn đã xác định ranh giới thực tế phần đất của mnh nhận chuyển
nhượng. Mặc khác, năm 2018 bị đơn giáp ranh cho ông T, T1 để làm thủ
tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng đến năm 2023 bị đơn xây dựng
hàng rào mới trên phần đất tranh chấp lại không thông tin cho hộ giáp ranh
nguyên đơn biết dẫn đến tranh chấp, nên việc yêu cầu xem xét bảo vệ là người thứ
ba ngay tnh là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Bị đơn kháng cáo bổ sung yêu cầu hủy án thẩm do vi phạm nghiêm trọng tố
tụng khi không đưa ông C, L3, ông Đ, bà X, ông X1 Ủy ban nhân dân thẩm
quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tham gia tố tụng. Xét thấy, ngày
15/3/2026 bị đơn yêu cầu kháng cáo bổ sung yêu cầu huỷ án sơ thẩm là vượt phạm
vi kháng cáo ban đầu vào ngày 14/10/2025. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét
toàn diện hồ sơ vụ án thấy rằng, sau khi ông L1, bà T4 nhận chuyển nhượng đất từ
ông Đ; X ông T, T1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông C,
L3 th c phần đất nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất, không còn liên quan đến những người chuyển nhượng đất trước đó. Trường
8
hợp, nguyên đơn, bị đơn căn cứ cho rằng trong quá trnh nhận chuyển nhượng đất
những người chuyển nhượng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
mnh th có quyền yêu cầu thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật. Ngoài ra, tại
Công văn số 2133/VPĐKĐĐ-KTĐT ngày 21/5/2026 của Văn phòng đăng đất đai
tỉnh C không xác định việc cấp giấy chứng nhận cho nguyên đơn, bị đơn sự
chồng lấn hay không theo yêu cầu ng văn số 722/TA-DS ngày 12/5/2026 của Tòa
án nhân dân tỉnh Cà Mau, nên không căn cứ xác định phần đất cấp cho ông L1,
T4 cấp cho ông T, T1 chồng lấn hay không. Từ đó cho thấy, việc đưa
những người này vào tham gia tố tụng là không cần thiết, không ảnh hưởng đến nội
dung giải quyết vụ án.
[8] Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản án thẩm đã xem
xét các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, lời trnh bày của nguyên đơn, bị đơn và
những người liên quan quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn ông Dư Văn T, bà Hoàng Thị T1 phù hợp với các tnh tiết khách quan của vụ
án. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ
thẩm. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên toà là phù hợp
nên được chấp nhận.
[9] Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn trnh y nếu chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn th phần đất bị đơn sẽ không có lối ra mặt tiền và ngược lại không chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn th nguyên đơn cũng không lối ra. Xét thấy, phần
đất nguyên đơn, bị đơn đang tranh chấp hiện nay bị đơn xây dựng hàng rào, phần
mặt tiền giáp lộ phần đất tranh chấp hiện là phần đất trống bị đơn hiện vẫn sử dụng
làm lối đi, trường hợp nguyên đơn xây dựng công trnh dẫn đến việc bị đơn không
đường nào ra mặt tiền đường, th quyền yêu cầu thành vkiện khác yêu cầu
lối đi qua bất động sản liền kề theo quy định của pháp luật.
[10] Án phí phúc thẩm, ông L1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
[11] Các quyết định khác của án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Đức L1; giữ nguyên bản án
dân sự thẩm số: 234/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân
Khu vực 1 – Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dư Văn T và bà
Hoàng Thị T1.
9
Buộc ông Đỗ Đức L1 Trần Anh T4 tháo dỡ tường rào, di dời toàn bộ
tài sản, công trnh kiến trúc xây dựng trên đất để trả lại cho ông Văn T
Hoàng Thị T1 phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 96,4m
2
thuộc thửa số 141,
tờ bản đồ số 86 tọa lạc tại khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Mau (Nay thuộc
phường A, tỉnh Cà Mau).
(Kèm theo bản vẽ trích đo hiện trạng của Công ty TNHH MTV M ngày
18/9/2025).
2. Chi phí tố tụng: Buộc ông Đỗ Đức L1 thanh toán cho ông Dư Văn T và bà
Hoàng ThT1 chi pđo đạc 27.121.000 đồng, chi phí thẩm định giá 17.000.000
đồng, tổng cộng 44.121.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải
thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên th hàng tháng còn phải chịu lãi
chậm trả đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, mức lãi suất phát
sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định của khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
dân sự.
3. Án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch: Ông Đỗ Đức L1 phải chịu 50.972.592
đồng. Ngày 22/01/2024, ông Văn T, Hoàng Thị T1 đã dự nộp 300.000 đồng
tại biên lai số 0007980 được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Đỗ Đức L1 phải chịu 300.000 đồng,
đã qua dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001815, ngày
14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển sang thu.
5. Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn A Đam
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 416/2026/DS-PT Bản án số 416/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 416/2026/DS-PT Bản án số 416/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất