Bản án số 81/2026/DS-PT ngày 12/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 81/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 81/2026/DS-PT ngày 12/06/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 81/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Đ - Nguyễn Văn Ch
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 81/2026/DS-PT Bản án số 81/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 81/2026/DS-PT Bản án số 81/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 81/2026/DS-PT
Ngày: 12/06/2026.
“V/v T/chấp QSD đất, hủy
giấy chứng nhận QSDĐ &
công nhận QSDĐ”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Hữu Truyền – Bà Vũ Thị An
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sơn- Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên
tòa: Ông Nông Văn Đổi- Kiểm sát viên.
Ngày 08 ngày 12 tháng 06 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên tiến hành mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự
thụ số: 25/2026/TLPT- DS ngày 10/03/2026 v Tranh chấp quyền sử dụng
đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 06/2026/DS - ST ngày 04/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 52/2026/QĐ-PT ngày
tháng 04 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Tổ dân phố U, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Tổ dân phố U, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo uỷ quyền cho ông C: Ông Lầu Văn C1, sinh năm
1972; Địa chỉ hiện nay: Tổ E, phường P, tỉnh Thái Nguyên
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Phùng Văn T
Luật sư Trung tâm T2 (không tham gia phiên tòa phúc thẩm).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị Thanh V, sinh năm 1970.
+ Chị Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 1991
+ Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1996
+ Bà Vũ Thị S, sinh năm 1968
+ Chị Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1995
Cũng địa chỉ: Tổ dân phố U, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.
+ Ủy ban nhân dân thành phố T.
2
Kế thừa quyền, nghĩa vụ ttụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Q,
tỉnh Thái Nguyên Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn N Phó
Chủ tịch UBND.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, trong
quá trình giải quyết các đương sự trình bày như sau:
Nguyên đơn ông Đ trình bày: Hiện nay gia đình tôi đang quản sử
dụng, sinh sống trên thửa đất số 180 tờ bản đồ số 20 diện tích 1237m
2
tại xóm
U, P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay phường Q, tỉnh Thái Nguyên).
Nguồn gốc thửa đất do bố tôi ông Nguyễn Văn X tự khai phá từ năm 1947 đến
nay không tranh chấp với ai. Năm 1993 bố tôi cho tôi quản lý sử dụng thửa đất
trên cho đến nay gia đình tôi vẫn đang sinh sống. Khi tôi đi làm thủ tục cấp
Giấy chứng nhận QSD đất thì mới biết hộ gia đình ông Nguyễn Văn C vợ
Vũ Thị S đã kê khai sai thửa đất vào thửa gia đình tôi đang sử dụng đẫn đến gia
đình tôi không làm được giấy chứng nhận QSD đất. Đề nghị Toà án nhân dân
khu vực 1 - Thái Nguyên huỷ Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp tại thửa đất số
180 tờ bản đồ s20 diện tích 1237m
2
tại xóm U, P, thành phố T, tỉnh Thái
Nguyên do UBND thành phố T cấp cho hộ ông C, đồng thời phải trả lại quyền
sử dụng đất cho gia đình tôi thửa đất nêu trên.
Bị đơn ông C trình bày:Gia đình ông C được UBND thành phố T, tỉnh
Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T737944, Vào sổ cấp
Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: 00479 QSDĐ/658/2001/QĐ-UB/H,
ngày 17/07/2001, mang tên hộ ông Nguyễn Văn C, tổ F, P, thành phố T đối
với diện tích: 4.217,90 mét vuông đất; trong đó, hai thửa đất: Thửa 180a, tờ
bản đồ: 20, diện tích: 400m2, mục đích sử dụng: T (thổ cư); thời gian sử dụng:
Lâu dài. Thửa 180b, tờ bản đồ: 20, diện tích: 837,90m2, mục đích sdụng:
Vườn; thời gian sử dụng: Lâu dài. Gia đình đã nộp thuế chuyển đổi đất Thổ cư,
nôp thuế sử dụng đất hằng năm liên tục từ năm 2001 đến khi xẩy ra tranh chấp
năm 2024. Yêu cầu nguyên đơn trả lại hai thửa đất 180a, 180b để gia đình quản
lý, sử dụng theo Giấy chứng nhận đã được cấp ngày 17/07/2001. Việc Nguyên
đơn khởi kiện không đúng quy định pháp luật. Yêu cầu Toà trả lại đơn để
nguyên đơn khởi kiện hành chính kiện UBND thành phố T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà V trình bày: Nội dung nguyên đơn ông Đ trình bày nêu trên bà nhất
trí ý kiến của ông Đ huỷ giấy chứng nhận QSD đất đối với hai thửa đất 180a,
180b là đất của gia đình đã sử dụng lâu dài do UBND thành phố T đã cấp nhầm
cho gia đình ông C.
- Chị M, anh K trình bày: Thửa đất đang tranh chấp là của ông nội tôi (là
Nguyễn Văn X) để lại cho bố tôi, gia đình tôi đã xây nhà và sinh sống, sử dụng
ổn định lâu dài từ trước đến nay. Khi bố tôi (Nguyễn Xuân Đ) đi làm thủ tục
cấp giấy chứng nhận QSD đất mới phát hiện ông Nguyễn Văn C đất đã đứng
tên ông C nhưng thực tế là của gia đình tôi. Nguyên nhân là do lỗi cấp sai sổ đỏ
của chính quyền địa phương lỗi của gia đình ông C không phải của gia đình
tôi. Nay đề nghị Toà án công nhận quyền sử dụng đất thực tế của gia đình tôi
3
huỷ hoặc đính chính giấy chứng nhận QSD đất đã cấp sai của gia đình ông
C
- S chị T1 trình bày: Nhất trí ý kiến trình bày của ông C yêu
cầu nguyên đơn ông Đ trả lại hai thửa đất 180a, 180b để gia đình quản sử
dụng.
- UBND phường Q trình bày ý kiến: UBND phường Q, tỉnh Thái
Nguyên đã biết việc hộ ông Nguyễn Xuân Đ Trần Thị Thanh V quản lý,
sử dụng thửa đất s180, tờ bản đồ số 20, diện tích 1237,9m
2
. Tuy nhiên thửa
đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn
Văn C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 737944, svào sổ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00479, cấp ngày 17/7/2001. Hiện trạng
gia đình ông Nguyễn Văn C đang sử dụng đất tại một phần của thửa đất 521, tờ
bản đồ số 21 (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn
Thị P). Ông Nguyễn Văn C chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại phần diện tích đất đang quản lý, sử dụng. Hiện trạng sử dụng đất của hai gia
đình ranh giới rõ ràng, không tranh chấp. Ngày 21/8/2021 và ngày
23/10/2024, UBND P đã tổ chức hòa giải tranh chấp giữa hai bên gia đình,
kết quả hòa giải không thành. Nay các bên đã đơn gửi đến Tòa án nhân dân
thành phố Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên) giải
quyết. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên theo đúng quy định của pháp luật,
UBND phường Q đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên giải quyết
theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên toà thẩm nguyên đơn ông Đ trình y: Tôi yêu cầu khởi
kiện huỷ Giấy chứng nhận QSD đất công nhận QSD đất đối với thửa đất
180a, 180b, diện tích 1237,9m
2
mang tên hộ ông Nguyễn Văn C, thời điểm hộ
gia đình ông C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông
không nhận được bất cứ văn bản nào của quan thẩm quyền yêu cầu
xác nhận ranh giới, diện tích đất, quá trình sinh sống tại thửa đất ổn định lâu
dài không tranh chấp với ai, ranh giới của thửa đất ràng. Quá trình sử
dụng đất từ trước tới nay do thiếu hiểu biết về pháp luật nên ông chưa đăng
cấp Giấy CNQSD đất đối với diện tích nêu trên tại Cơ quan thẩm quyền. U
cấp diện tích đất hộ ông đang quản lý sdụng vào Giấy CNQSD đất mang
tên hộ ông C, bà S là không đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ý kiến của V chị M trình bày: Nhất trí ý kiến của ông Đ trình
bày quá trình sử dụng đất ranh giới thửa đất giữa các bên không tranh chấp
đề nghị huỷ giấy chứng nhận QSD đất công nhận QSD đất đối với hai
thửa đất 180a, 180b.
- Người đại diện theo uỷ quyền cho bị đơn S đều thống nhất để
S trình bày: Hai bên gia đình không có tranh chấp gì về đất đai, về hai thửa đất
180a, 180b gia đình tôi được quan nhà nước cấp giấy chứng nhận cho gia
đình nhà tôi đã nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước hằng năm, việc cấp Giấy chứng
nhận QSD đất là do chính quyền làm chứ không phải gia đình, nếu cấp sai thì
tôi cũng nhất trí huỷ một phần đề nghị Nhà nước phải làm thủ tục cấp Giấy
4
chứng nhận QSD đất cho gia đình tôi 400m2 đất đất vườn, gia đình tôi
đã chuyển mục đích và nộp thuế cho Nhà nước theo quy định.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Thửa 180a, 180b, diện tích 1237,9m
2
đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số T 737944, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00479, cấp
ngày 17/7/2001. Theo các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình
giải quyết cũng ntại phiên toà các bên trình bày không tranh chấp về
QSD đất, thửa đất của nguyên đơn vẫn đang quản lý, sử dụng, còn bị đơn ông
C được cấp hai thửa đất nêu trên nhưng thực tế lại không sử dụng hai thửa đất
này. Xác định quan hệ pháp luật khởi kiện về huỷ Giấy chứng nhận QSD đất,
không quan hệ về tranh chấp, tại phiên toà nguyên đơn đề nghị công nhận
QSD đất nên đề nghị cho các bên thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án.
Vi ni dung nêu trên, ti bn án dân sự số 06/2026/DS-ST ngày
04/02/2026 ca Tòa án nhân dân khu vực 1 Thái Nguyên đã xét x và quyết
định:
- Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34, 35; Điểm c khoản 1 Điều 39; Điều
147, 157, 158, 227, 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Uỷ ban thường vụ
Quốc Hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa
án nhân dân khu vựcđược thông qua ngày 27/6/2025.
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội
đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các toà án nhân dân.
- Căn cứ Điều 15, 163, 166, 190, 688 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Luật đất đai năm 1993; Điều 50 Luật đất đai năm 2003; Điều
101 Luật đất đai 2013; Điều 26, 138, 152, 236 của Luật đất đai 2024;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí,
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân Đ.
1. Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T737944; o
sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất số: 00479 QSDĐ/658/2001/QĐ-UB/H do
UBND thành phố T, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 17/07/2001 mang tên hộ ông
Nguyễn Văn C, địa chỉ: P, thành phố T (nay Tổ dân phố U, phường Q,
tỉnh Thái Nguyên) đối với thửa đất 180a, tờ bản đồ: 20, diện tích: 400m
2
, mục
đích sử dụng: T (thổ cư) thửa 180b, tờ bản đồ: 20, diện tích: 837,9m
2
, mục
đích sử dụng “Vườn”.
2. Công nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Xuân Đ đối với
thửa đất 180, tờ bản đồ 20, diện ch theo hiện trạng sử dụng là: 1100,8m
2
, địa
chỉ: Tổ dân phố U, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.
(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo 1,2,3,6,7,8,9,10,11,12,13,14,26,27,17,1)
5
3. Hộ ông Nguyễn Xuân Đ và hộ ông Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ
liên hệ với quan Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục cấp, điều chỉnh,
đăng ký biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
4. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Xuân Đ tự nguyện chịu toàn bộ chi
phí đo đạc, thẩm định tại chỗ số tiền 11.300.000 đ (Mười một triệu ba trăm
nghìn đồng), số tin này ông Đ đã nộp xong.
5. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân s thẩm
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Trả lại cho ông Nguyễn Xuân Đ số tiền tạm
ứng án phí: 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai tạm ứng án
phí số 0000892 ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thái
Nguyên.
Ngoài ra án sơ thm còn tuyên về quyn kháng cáo và quyền yêu cầu thi
hành án cho các đương sự theo quy định ca pháp lut.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 24/02/2026 bị đơn ông Nguyễn Văn C
đơn kháng cáo, không nhất trí với bản án thẩm, đề nghHội đồng xét xử
phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, với các căn cứ:
+ Năm 2001 gia đình ông được cấp quyền sử dụng đất đối với 400m
2
đất
thổ 837,9 vườn tạp, thời hạn sử dụng lâu đài. Gia đình đã nộp thuế đất
chuyển đổi mục đích sử dụng đất thổ cư và thuế đất hàng năm. Việc cấp sai đối
tượng sdụng đất lỗi của UBND thành phố T (nay UBND phường Q)
không thuộc về gia đình ông, nhưng đại diện Ủy ban không tham gia phiên tòa;
+ Gia đình đã phải trả toàn bộ số tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đất
và nộp thuế đất hàng năm từ 2001 đến 2024 đối với thửa đất 80a và 80b, nhưng
Tòa án không xem xét nội dung này làm thiệt hại đến quyền lợi ích của
gia đình ông;
+ Gia đình ông không lấn chiếm đất, cũng không sdụng hai thửa đất
80a 80b tờ bản đồ 20, hai bên gia đình không tranh chấp về đất nên việc
nguyên đơn khởi kiện buộc gia đình ông trả lại đất không đúng đối tượng và
mối quan hệ pháp luật dân sự. Ông đã đề nghị giải quyết bằng vụ án hành
chính nhưng không được Tòa xem xét, giải quyết;
+ Tòa án buộc ông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ là không
đúng quy định của pháp luật.
Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án để đảm bảo quyền lợi
ích hợp pháp của bị đơn.
Ti phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên nội dung các
căn cứ kháng cáo.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Thái Nguyên phát biu v s tuân
theo pháp lut ca Thm phán - Ch ta phiên tòa Hội đồng xét xử, các
đương sự từ khi th lý v án cho đến trước khi ngh án đã thc hiện đúng các
quy định ca B lut t tng dân s;
+ Về quan đim gii quyết v án của đại din Vin kim sát: Đề nghị
Hội đồng xét x áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C, giữ nguyên bản án dân s
thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 ca Tòa án nhân dân khu vực 1 -
Thái Nguyên.
6
NHN ĐNH CA TA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa kết quả tranh luận tại phiên tòa; Sau khi đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án; Sau khi thảo
luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
[1.]. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn C nộp trong hạn thuộc
trường hợp được miễn tạm ứng án phí là kháng cáo hợp lệ theo Điều 273
Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.]. Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt những người quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên những người này đã được tòa án triệu tập hợp lệ
đã đơn đnghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều
296 Bộ luật tố tụng dân sự, tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt h, các nội dung
kháng cáo được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:
[3.]. Nguyên đơn trình bày: Về nguồn gốc thửa đất số 180 (diện tích
1237m²) tại xóm U gia đình ông đang quản sinh sống, nguồn gốc do
bố ông khai phá tnăm 1947, năm 1993 bông giao lại cho ông sdụng, gia
đình ông sử dụng ổn định không tranh chấp với ai. Năm 2024, khi làm
thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới phát hiện thửa đất 180,
tờ bản đồ 20, diện tích 1237m² đã bị gia đình ông Nguyễn Văn C khai
cấp nhầm thửa đất này vào giấy CNQSD đất của hộ ông C, dẫn đến gia đình
ông không thể làm được thủ tục cấp QSD đất đối với thửa đất 180 được.
vậy, ông yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông C trả lại
quyền sử dụng thửa đất 180 cho gia đình ông.
[4.]. Bị đơn ông C trình bày: Gia đình ông đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất năm 2001, với tổng diện tích 4.217,9m², trong đó hai
thửa 180a (400m² đất ở) và 180b (837,9m² đất vườn) tờ bản đồ số 20. Gia đình
ông đã thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ, liên tục từ khi được cấp đến khi xảy ra
tranh chấp năm 2024 thì mới biết thửa đất thửa 180a (400m² đất ở) 180b
(837,9m² đất vườn) của gia đình ông Đ, đã bị cấp nhầm cho gia đình ông.
Việc làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất này cho gia đình
ông bị sai đối tượng sử dụng đất do lỗi của UBND thành phố T (nay
UBND phường Q). Gia đình ông không lấn chiếm, không tranh chấp cũng
không trực tiếp quản lý hai thửa đất 180a và 180b .
[5.]. Tuy hai bên không tranh chấp về đất, nhưng theo hồ xin cấp
quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn C, thì ông C đã kê khai thửa đất số
180a (400m² đất ở) 180b (837,9m² đất vườn) do hộ gia đình ông Nguyễn
Xuân Đ đang sử dụng vào Đơn xin đăng quyền sử dụng đất ngày
29/11/2000 không khai diện tích gia đình đang sử dụng nhà nằm
trong thửa đất 521 tờ bản đồ số 21. Dẫn đến, thửa đất 180a 180b bcấp
nhầm cho hộ ông C. Lỗi nhầm lẫn này cũng một phần thuộc về cán bộ
chuyên môn của UBND trong việc xác nhận và hoàn thiện hồ sơ. Việc Tòa án
cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên hủy một phần
giấy chứng nhận QSD đất số: T737944 do UBND thành phố T, tỉnh Thái
7
Nguyên cấp ngày 17/07/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Văn C, đối với thửa đất
180a, diện tích: 400m
2
, mục đích sử dụng T (thổ cư) thửa 180b, diện tích:
837,9m
2
, mục đích sử dụng “Vườn” cùng tờ bản đồ 20, địa chỉ thửa đất P,
thành phố T (nay là Tổ dân phố U, phường Q, tỉnh Thái Nguyên) và công nhận
cho hộ ông Nguyễn Xuân Đ quyền sử dụng đất đối với thửa đất 180, tờ bản
đồ 20, diện tích theo hiện trạng sử dụng 1100,8m
2
không tách ra từng
mục đích sdụng T (thổ cư) hay “Vườncăn cứ, đúng với thực tế sử
dụng hiện nay của hộ ông Đ.
[6.]. Đối với nội dung kháng cáo về số tiền thuế đã đất đã nộp từ năm
2001 đến năm 2024. Thì nghĩa vụ của người sdụng đất phải nộp thuế đất
theo quy định của pháp luật. Tuy thửa đất 80a 80b bị cấp nhầm cho hộ ông
C, nhưng ông C cũng đang sdụng đất tại thửa 521 TBĐ 21 và nhà trên
đó nên gia đình ông cũng có nghĩa vụ phải nộp thuế đất theo quy định. Tài liệu
trong hồ sơ có một số biên lai thu thuế nhà đất của hộ ông C vào các năm: 1995
là 4000đồng, 1996 là 4000đồng, 1997 là 4000đồng, 1998 là 4.500đồng, 2006 là
7.200đồng, 2007 7.200đồng, năm 2008 9000đồng, 2009 11.500đồng,
năm 2016 là 45.400đồng, năm 2023 là 96.000đồng, tổng cộng là 192.800đồng
(Số tiền này tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn đồng ý hoàn trả, nhưng
phía ông C không nhất trí). Đối với tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đất của
thửa đất 180a, ông C không biên lai nào thể hiện việc ông đã nộp tiền thuế
chuyển này nên HĐXX cấp thẩm không giải quyết căn cứ. Nội dung
kháng cáo này của ông C là không được chấp nhận.
[7.]. Quá trình giải quyết tại phiên tòa phúc thẩm ông C đề nghị do
ông đã nộp tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đất thổ (T) 400m
2
thuộc
thửa 80a của hộ ông Đ từ năm 2001, nên đề nghị phía ông Đ phải nộp thay
cho ông số tiền này khi ông đi làm thủ tục xin cấp 400m
2
thổ (T) theo quy
định pháp luật hiện hành”. Ông Đường không nhất trí. Thấy rằng, ông C không
yêu cầu phản tố đối với nội dung này yêu cầu này của ông C cũng chưa
được cấp thẩm xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xphúc thẩm không
giải quyết được.
[8.]. Đối với nội dung kháng cáo về việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị
đơn trả lại đất không đúng đối tượng khởi kiện, không đúng quan hệ pháp
luật dân sự, yêu cầu giải quyết bằng vụ án hành chính. Thấy rằng, tuy các bên
không tranh chấp về quyền sử dụng đất nhưng lại tranh chấp về số tiền
chuyển đổi 400m
2
đất (T). Do ông C yêu cầu ông Đ phải trả lại 400m
2
thổ
(T) thuộc thửa 80a ông đã bỏ tiền ra chuyển mục đích sử đụng đất từ năm
2001, dẫn đến hộ ông Đ không thể cấp được QSD đất đối với thửa đất 80a
80b nên việc Tòa án cấp thẩm thụ giải quyết bằng vụ án dân sự
sở.
[9.]. Về việc ông C không đồng ý về việc Tòa án cấp thẩm tuyên ông
phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Do quá trình giải quyết ông C không
đơn xin miễn án ptheo quy định của pháp luật, nên việc Tòa án cấp
thẩm buộc ông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là đúng. Tại cấp phúc thẩm ông
C đã có đơn đề nghị xin miễn nộp án phí phúc thẩm nên Hội đồng xét xử miễn
8
án phí dân sự phúc thẩm cho ông C, do người cao tuổi, theo điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.
[10.]. Với các nhận định nêu trên, nhận thấy bản án thẩm đã xem xét
đầy đủ, khách quan, toàn diện vụ việc, không vi phạm nghiêm trng về tố tụng,
nội dung giải quyết vụ án phù hợp với chứng cứ và quy định của pháp luật. Tại
phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không nộp được các tài liệu chứng cứ
mới làm căn cứ kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của ông C không căn cứ,
cần giữ bản án dân sự sơ thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 ca Tòa án
nhân dân khu vực 1 Thái Nguyên, như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát
nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
[11.] Về chi phí tố tụng: Do các đương sự không kháng cáo không bị
kháng nghị, nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các l trên.
QUYT ĐNH:
Căn c vào khoản 1 Điều 308; Điều147, Điều 148 ca B lut t tng dân
sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn C. Giữ
nguyên bản án dân sự thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 ca Tòa án
nhân dân khu vực 1, tỉnh Thái Nguyên.
2. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn
Văn C, do là người cao tuổi.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm, hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHC THẨM
- VKSND tnh Thái Nguyên;
- TAND Khu vực 1, Thái Nguyên;
- Chi cục THADS khu vực 1, Thái
Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án; Tòa dân sự.
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TA
Nguyễn Thị Thủy
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CHỦ TỌA PHIÊN TA
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 81/2026/DS-PT Bản án số 81/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 81/2026/DS-PT Bản án số 81/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất