Bản án số 163/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 163/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 163/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 163/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: C tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 163/2026/DS-PT Bản án số 163/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 163/2026/DS-PT Bản án số 163/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 163/2026/DS-PT
Ngày 23-6-2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Toàn, ông Nguyễn Khắc Chiên
- Thư phiên tòa: Ông Hồng Đăng Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 3 năm
2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sthẩm số 24/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 3 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 148/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Đỗ Đức C, sinh năm 1955;
1.2. Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1956;
1.3. Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1959;
1.4. Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1962;
1.5. Ông Đỗ Văn C1, sinh năm 1967;
1.6. Bà Đỗ Thị Q, sinh năm 1969;
Đều có địa chỉ: Khu F (xã S cũ), xã C, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C, ông T, bà T1, ông T2, bà Q: Ông
Đỗ Văn C1, sinh năm 1967; địa chỉ tại: Khu F (xã S cũ), C, tỉnh Phú Thọ).
(Hợp đồng ủy quyền ngày 17/5/2023).
2. Bị đơn:
2.1. Ông Đỗ Long T3, sinh năm 1961;
2.2. Bà Trương Thị L, sinh năm 1962 (vợ ông T3);
Người đại diện theo ủy quyền của ông T3: Trương Thị L, sinh năm
1962; Đều địa chỉ tại: Khu F (xã S cũ), xã C, tỉnh Phú Thọ; Người bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp cho Trương Thị L: Ông Chu Văn Q1, Luật
Công ty L1 - Đoàn Luật tỉnh P; Địa chỉ: Số nhà A đường M, phường T, tỉnh
Phú Thọ.
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chủ tịch UBND C, tỉnh P Thọ (là người kế thừa quyền
nghĩa vụ của UBND huyện T UBND xã S cũ);
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Khánh T4, Chức vụ: Trưởng
phòng Kinh tế - UBND xã C, tỉnh Phú Thọ (Giấy ủy quyền ngày 14/8/2025).
3.3 Anh Đỗ Đình N, sinh năm 1981; (là con ông T3, bà L);
3.4. Chị Đỗ Thị Thanh N1, sinh năm 1984; (là con ông T3, bà L);
3.5. Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1987; (là con ông T3, bà L);
3.6. Anh Đỗ Văn V, sinh năm 1989; (là con ông T3, bà L);
3.7. Anh Đỗ Việt T5, sinh năm 1989 (là con ông T3, bà L);
Đều có địa chỉ: Khu F (xã S cũ), xã C, tỉnh Phú Thọ.
3.8. Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1952, địa chỉ: Khu F (xã S cũ), C, tỉnh
Phú Thọ. (chồng bà Đỗ Thị N2, bà N2 chết năm 1977);
3.9 Anh Đỗ Văn S1, sinh năm 1976, đều ở địa chỉ: Khu F (xã S cũ), xã C,
tỉnh Phú Thọ. (con đẻ bà Đỗ Thị N2, bà N2 chết năm 1977);
3.10. Bà Đỗ Thị H1 (vợ ông Đỗ Trọng N3, ông N3 chết năm 1972),
3.11. Anh Đỗ Văn T6, sinh năm 1970 (con ông N3);
3.12. Chị Đỗ Thị T7, sinh năm 1972 (con ông N3);
Đều ở địa chỉ: Khu F (xã S cũ), xã C, tỉnh Phú Thọ.
4. Người làm chứng: Chị Đỗ Thị K, địa chỉ: Khu G (xã S cũ), C, tỉnh
Phú Thọ (cháu N2).
* Người kháng cáo: Trương Thị L là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, lời khai tại
phiên tòa, đại diện nguyên đơn ông Đỗ Văn C1 trình bày: Bố ông Đỗ Văn
N4 (chết năm 2001), mẹ Đỗ Thị T8 (chết năm 2007), sinh được 08 người
con gồm: Đỗ Trọng N3 (hy sinh năm 1972), Đỗ Thị N2 (đã chết năm 1977), Đỗ
Đức C, Đỗ Văn T, Đỗ Thị T1, Đỗ Văn T2, Đỗ Văn C1, Đỗ Thị Q. Khi còn sống
bố mẹ ông đã được UBND huyện T cấp quyền sử dụng đất với tổng diện 5.170
m
2
, trong đó phần đất thổ cư là 3.200 m
2
và 05 thửa đất cây lâu năm (LNK) khác
gồm các thửa 102 tờ bản đồ 13, thửa 22-2, thửa 37, thửa 104 và thửa 140 tờ bản
đồ số 10 đều tại khu 6 S. Trong đó thửa đất 22-2, cụ N4 cụ T8 sử dụng
từ rất lâu năm vào việc trồng sắn các loại cây hoa màu khác. Sau khi cụ N4
chết năm 2001 thì cụ T8 tiếp tục sử dụng thửa đất này. Đến năm 2006, khi mẹ
ông còn sống, cả nhà đã thống nhất toàn bộ diện tích đất nhà trên đất của bố
mẹ ông cho vợ chồng ông (trong đó thửa đất số 22-2). Năm 2011 vợ chồng
ông đã được UBND huyện T cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất thổ cư,
nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất
LNK. Ông cũng không lý do gia đình ông chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất đối với 05 thửa đất LNK khác này. Gia đình ông đã s
dụng ổn định thửa đất 22-2 từ khi được cụ T8 cho sử dụng để trồng cây hoa
màu, không tranh chấp với ai. Năm 2019, gia đình L cho máy múc vào
múc san ủi vào thửa đất số 22-2 làm biến dạng hết mốc giới. Khi gia đình
3
L san ủi đất không báo cho gia đình ông. Sau khi làm xong, ông T3 (chồng bà L)
sang nhà ông hỏi mua phần đất này. Ông không đồng ý đã đề nghị UBND
S giải quyết. UBND xã S đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay đề nghị
Tòa án buộc gia đình bà L, ông T9 trả cho gia đình ông 344,1 m
2
đất LNK (diện
tích đo đạc thực tế) thuộc thửa 22-2 tờ bản đồ số 10 (Bản đồ 299), nay là thửa số
03, tờ bản đồ số 22 (Bản đồ ĐCCQ), tại khu F S, xã C, tỉnh Phú Thọ.
Quan điểm của bị đơn Trương Thị L người bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp cho L, trình bày: Năm 1979, ông T3 kết hôn. Năm 1980, v
chồng ra riêng được chính quyền S cấp đất. Phần đất ông C1 nói
gia đình đang lấn chiếm 344,1 m
2
vốn đường giao thông cũ. Năm 2000,
UBND huyện T cấp quyền sử dụng đất cho gia đình bà. không biết diện tích
344,1 m
2
đang tranh chấp này thuộc về thửa đất nào nhưng quan điểm của
gia đình không lấn chiếm đất của gia đình ông C1. Diện tích đất 344,1 m
2
tranh chấp này quá trình sử dụng như sau: Trước năm 1983-1984, diện tích
đất này đường giao thông cũ, không ai sử dụng; Đến năm 1983-1984, gia
đình bà đã vỡ hoang diện tích đất này và dùng trồng sắn; Đến khoảng năm 2004-
2005, xin phép UBND S san ủi một phần diện tích đất này làm quán dịch
vụ sửa xe máy được UBND xã S đồng ý. Việc xin phép này do xin phép
miệng, không tài liệu giấy tờ gì. Sau đó, đã làm quán dịch vụ sửa xe máy
cho con trai bà anh Đỗ Văn H sử dụng. Phần còn lại của diện ch đất sau khi
đã làm quán sửa xe máy vẫn được sử dụng cho việc trồng sắn. Đến năm
2014, gia đình không sử dụng quán vào mục đích làm dịch vụ sửa xe máy
nữa và chỉ làm kho để đồ; Đến năm 2019, bà xin phép UBND xã S san ủi đất, hạ
cốt nền và được UBND S đồng ý. Việc xin phép này do xin phép miệng,
không tài liệu giấy tờ gì. Khi san ủi đất thì xảy ra tranh chấp với gia đình
ông C1. Sau khi hòa giải nhiều lần hướng gia đình cắt lại cho gia đình
ông C1 một phần đất, vì thế ông T3 - chồng sang nhà ông C1 hỏi mua lại
đất và gia đình ông C1 không đồng ý. Ông T3 chưa bao giờ sang nhà ông C1 hỏi
mua đất ngay sau khi gia đình bà múc, san ủi đất như ông C1 trình bày.
Nay ông C, ông T, T1, ông T2, ông C1, Q là đồng nguyên đơn khởi
kiện đề nghị Tòa án buộc gia đình bà trả cho gia đình ông C1 diện tích đất 344,1
m
2
đất, quan điểm của bà không nhất trí diện tích này thuộc về gia đình
sử dụng L đề nghị xem xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của
ông N5 là không đúng, vì diện tích đất bà đang sử dụng lại cấp cho hộ ông N4.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Đình N, chị Đỗ Thị Thanh
N1, anh Đỗ Văn H, anh Đỗ Văn V và anh Đỗ Việt T5 (là con bà L, ông T3) nhất
trí với quan điểm trình bày của bị đơn Trương ThL không ý kiến
khác.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan (ông Đỗ Trọng N3, hy sinh năm 1972) Đỗ Thị H1, ông Đỗ Văn
T6, chị Đỗ Thị T7; Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan (bà Đỗ Thị N2, chết năm 1977) ông Đỗ Văn S, anh Đỗ
Văn S1, chị Đỗ Thị K. H1, ông T6, chị T7, ông S, anh S1, chị K: Đều nhất trí
với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có ý kiến gì khác.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND C, tỉnh Phú Thọ trình
4
bày quan điểm: Thửa đất số 22-2, tờ bản đồ số 10, diện tích 450m
2
thể hiện trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S713377 do UBND huyện T cấp ngày
29/12/2000 mang tên hộ ông Đỗ Khắc N6, nguồn gốc do Nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất, không thu tiền sử dụng đất. Tại thời điểm cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ ông N6 các thành viên gồm vợ chồng ông
N6, vợ chồng ông C1 và 03 con ông C1. Phần đất LNK thể hiện trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Đỗ Khắc N6 nguồn gốc do nhà
nước công nhận quyền sử dụng đất. Trên sổ mục được lập năm 1999 tại tờ
bản đồ số 10 thhiện ràng thửa đất số 22 diện tích 650m
2
(gồm 02
thửa 22-1và 22-2; trong đó hộ ông N6 được cấp thửa 22-2 diện tích 450m
2
,
trong đó hộ ông C2 được cấp thửa 22-1 diện tích 200m
2
).
Năm 2006, bà L xây dựng quán sửa xe máy là tự ý, không được sự nhất trí
của UBND xã S cũ.
Quan điểm của UBND C, tỉnh Phú Thọ: Năm 2000 việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân trên địa bàn xã nói chung và việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T3, ông N6 nói riêng là
đúng quy trình, thủ tục theo quy định tại thời điểm năm 2000.
Đối với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản,
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thống
nhất nhất trí, không có ý kiến nào khác.
Tại Bản án dân sự thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ, đã quyết định:
1. n cứ vào: khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 1 Điều 228, Điều 273,
Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 170 Luật đất đai năm 2013;
Điu 175 B lut Dân s; khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết
số 326 ngày 30/12/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui
định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc ông Đỗ Long T3 và bà Trương Thị L phải trả lại cho ông Đỗ Đức C,
ông Đỗ Văn T, bà Đỗ Thị T1, ông Đỗ Văn T2, ông Đỗ Văn C1, Đỗ Thị Q
diện tích đất là 239m
2
, thuộc thửa đất số 22-2, tờ bản đồ số 10 (Bản đồ 299), nay
là thửa đất số 03, tờ bản đồ số 22 (Bản đồ ĐCCQ), địa chỉ thửa đất: Khu F, xã C,
tỉnh Phú Thọ, đã được UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ, cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất số S713377 ngày 29/12/2000 mang tên hộ ông Đỗ Khắc N6;
Theo chỉ giới 1,2,3,4,23,7,8,9,24,25,18,19,1 (Bản trích đo hiện trạng thửa đất
nhà ông Đỗ Văn N4 do Công ty cổ phần K1, lập ngày 25/11/2024) để quản lý sử
dụng; Gia đình ông ĐLong T3, Trương Thị L nghĩa vtháo dỡ phần
quán xây, công trình trên đất thu hoạch cây cối trên đất đtrả lại đất cho cho
ông Đỗ Đức C, ông Đỗ Văn T, bà Đỗ Thị T1, ông ĐVăn T2, ông Đỗ Văn C1,
Đỗ Thị Q.
Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Bị đơn Trương Thị L, kháng cáo toàn bộ bản án sơ
5
thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn công nhận thửa đất số 22-2 tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại
khu F, C, tỉnh Phú Thọ thuộc quyền quản sử dụng hợp pháp của gia đình
bà.
Tại cấp phúc thẩm:
- Bị đơn là bà Trương Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nêu trên. Bà L
trình bày bổ sung: Bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số
28, tờ bản đồ số 10, diện tích 800 m2 nhưng thực tế chỉ sử dụng một nửa
còn một nửa của người khác sử dụng. Năm 2019, UBND S (cũ) hướng
dẫn quyền yêu cầu người đó trả lại cho gia đình một phần đất tại thửa
đất số 28, tờ bản đồ số 10 nhưng không yêu cầu họ đã sử dụng tlâu.
cho rằng phần diện tích đang tranh chấp là phần đất thuộc thửa đất số 28 của gia
đình bà chứ không phải của gia đình cụ N4, UBND xã S cho rằng phần đất đang
tranh chấp thuộc thửa đất số 22-2 của gia đình cụ N4 thì không đồng ý. Gia
đình cụ N4 thửa đất số 39 chỗ khác nay lại không thửa 39 nhà nước
lại cấp nhầm thửa 22-2 cho gia đình cụ N4 nên không đồng ý yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Nếu Tòa án không chấp nhận kháng cáo của thì yêu
cầu nguyên đơn phải trả lại cho bà tiền hỗ trợ múc đất và tiền phí tài nguyên môi
trường. Khi nộp tiền phí tài nguyên môi trường thì không biên lai thu tiền
nên không để nộp cho Tòa án, các giấy tờ khác về việc múc đất đã lâu hiện
nay không còn nên không có để nộp cho Tòa án.
- Ông Chu Văn Q1 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
trình bày: Ông đề nghị sửa án thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
công nhận quyền sử dụng đất thửa 22-2, tờ bản đồ số 10 là của gia đình L, do
L sử dụng từ năm 1984, nguồn gốc do nhà nước nắn đường khoảng năm
81, năm 82 nên L sdụng phần đất thuộc con đường cũ, sổ mục lập năm
1999 là không đúng, sự nhầm lẫn. Năm 2005, gia đình bà L làm quán thì bên
nguyên đơn không ý kiến gì. Năm 2019, trong quá trình gia đình L múc
đất thì gia đình bên nguyên đơn không ý kiến gì. Đề nghị Tòa án tạm dừng
phiên tòa để thu thập thêm các tài liệu về việc múc đất, nếu Tòa án không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của bà L thì phải giải quyết buộc gia đình nguyên đơn
phải bồi thường tiền công múc đất cho gia đình L như L đã yêu cầu nêu
trên.
- Ông Đỗ Văn C1 là nguyên đơn có ý kiến: Ông không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà L, ông đề nghị a án nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên bản
án của cấp thẩm. Ông giữ nguyên các ý kiến đã trình bày tại cấp thẩm
bổ sung: Năm 2019, gia đình bà L múc đất trái phép của gia đình ông, UBND xã
S đã giải quyết và xác định thửa đất đang tranh chấp của gia đình ông, gia
đình L phải trả lại cho gia đình ông. Sau khi UBND S giải quyết xong thì
chồng của L còn sang gia đình ông để hỏi mua lại quyền sử dụng đất nhưng
gia đình ông không bán. Gia đình ông không đồng ý bồi thường tiền múc đất
cho gia đình bà L việc múc đất là trái phép. Gia đình L còn phải khôi phục
lại hiện trạng cho gia đình ông.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu
quan điểm:
6
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử vào nghị án: Thẩm phán, thư ký Toà án Hội đồng xét xét xử phúc thẩm đã
tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự vquyền nghĩa vụ
của mình; Còn về phía các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của
Bộ luật ttụng dân sự về quyền hạn trách nhiệm của mình để Toà án cấp
phúc thẩm sớm đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn luật định.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều
313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xử:
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn là Trương Thị L.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Trương Thị L được miễn án phí dân s
phúc thẩm vì là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra công khai tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của
đại diện VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị đơn là Trương Thị L được thực hiện trong thời hạn
luật định theo đúng quy định của pháp luật, hợp lệ nên được chấp nhận để xem
xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Trương Thị L giữ nguyên toàn bộ
nội dung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và công nhận thửa đất số 22-2 tờ
bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại khu F, xã C, tỉnh Phú Thọ thuộc quyền quản lý,
sử dụng hợp pháp của gia đình bà.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Thửa đất số 22-2, t bản đồ số 10, diện tích 450m
2
thể hiện trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số S713377 do UBND huyện T cấp ngày
29/12/2000 mang tên hộ ông Đỗ Khắc N6, nguồn gốc do Nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất, không thu tiền sử dụng đất. Phần đất LNK thể hiện trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Đỗ Khắc N6 nguồn gốc
do nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Trên sổ mục được lập năm 1999
tại tờ bản đồ số 10 thể hiện rõ ràng có thửa đất số 22 có diện tích 650m
2
(gồm có
02 thửa là 22-1và 22-2; trong đó hộ ông N6 được cấp thửa 22-2 diện tích 450m
2
,
trong đó hộ ông C2 được cấp thửa 22-1 diện tích 200m
2
).
Năm 2006, L xây dựng quán sửa xe máy nhưng không tài liệu
chứng cứ nào về quyền sử dụng đất, không được sự nhất trí của UBND S .
UBND C, tỉnh Phú Thọ cũng quan điểm: Năm 2000 việc cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất cho các hdân trên địa bàn nói chung việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T3, ông N6 nói riêng đúng
7
quy trình, thủ tục theo quy định tại thời điểm năm 2000.
Tại Biên bản hòa giải ngày 14/10/2021 của UBND S cũ, Trương
Thị L trình bày, thừa nhận: “…Bà.. Niệm Tươi vỡ khoảng 6 luống Sắn
đường phía dưới trên đường cũ”. Sau đó đến cuối năm 2019 tôi Đơn xin
UBND xã san gạt hạ cốt nền để trông sắn …dễ dàng hơn”.
Như vậy cụ N6, cụ T8 khi còn sống người sử dụng đất đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định của pháp luật.
Không chứng cứ nào thể hiện UBND S cho phép L c đất, hạ
cốt nền hoặc làm quán bán hàng trên đất nông nhiệp như bà L trình bày.
Tại cấp phúc thẩm bà L người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà
L đều ý kiến nếu Tòa án không chấp nhận kháng cáo của L thì L yêu
cầu giải quyết buộc gia đình bên nguyên đơn phải trả lại cho L tiền hỗ trợ
múc đất và tiền phí tài nguyên môi trường.
Hội đồng xét xử xét thấy L đưa ra yêu cầu mới nêu trên tại cấp phúc
thẩm nhưng chưa cung cấp được tài liệu chứng cứ vượt quá phạm vi giải
quyết của cấp phúc thẩm nên cấp phúc thẩm không giải quyết không tạm
ngừng phiên tòa để thu thập các tài liệu chứng cứ liên quan đến nội dung này.
Bà L có quyền yêu cầu giải quyết trong một vụ việc khác.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cấp sơ thẩm
đã nhận định về vụ án áp dụng căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án là căn
cứ đúng pháp luật. Do đó, không căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị
đơn là bà Trương Thị L.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của L không được chấp nhận, nhưng bà Trương Thị L
người cao tuổi nên bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Xét đ ngh ca Kim sát viên ti phiên tòa căn cứ pháp lut nên
đưc chp nhn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn là Trương
Thị L.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 29/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 gày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Trương Thị L L người cao
tuổi.
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 luật thi
8
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30
Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- TAND khu vực 3 - Phú Thọ;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- Phòng THADS Khu vực 3 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án (02 bản).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Đình Chi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 163/2026/DS-PT Bản án số 163/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 163/2026/DS-PT Bản án số 163/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất