Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 90/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 26/06/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 90/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà H kháng cáo buộc ông T phải trả 3m2 đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 90/2026/DS-PT Bản án số 90/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 90/2026/DS-PT Bản án số 90/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 90/2026/DS-PT
Ngày 26 tháng 6 năm 2026
V/v tranh chấp về ranh giới quyền sử
dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Huy Lưỡng.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Đức Cảnh và bà Trần Thị Sâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: Nguyễn Thị Hải
Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 19/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 4 năm
2026 về việc tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất.
Do Bản án thẩm số 05/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2026/QĐ-PT ngày 04 tháng 6
năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Hàn Thị L, sinh năm 1974, số định danh nhân
************; địa chỉ: P, T, tỉnh Ninh Bình (trước ngày 01/7/2025 Thôn
P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam); (có mặt)
2. Bị đơn: ông Phạm Văn T, sinh năm 1985, số định danh nhân
************; địa chỉ: Số F đường N, phường N, Thành phố Nội (trước ngày
01/7/2025 là Số 63 đường N, phường N, quận C, Thành phố Hà Nội); (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1972 số định danh cá nhân ************;
địa chỉ: P, T, tỉnh Ninh Bình (trước ngày 01/7/2025 là Thôn P, xã T, huyện T,
2
tỉnh Hà Nam) (có mặt);
3.2. Ngô Thị Thúy H, sinh năm 1986; s định danh nhân
************; địa chỉ: Thôn P, T, tỉnh Ninh Bình (trước ngày 01/7/2025
Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam) (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Người kháng cáo: nguyên đơn, bà Hàn Th L.
NI DUNG V ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2024, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày
06/01/2025 và các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ
thẩm nguyên đơn bà Hàn Thị L trình bày:
Hàn Thị L ông Phạm Văn B kết hôn năm 1995. Khoảng năm 1998,
vợ chồng bà sinh sống trên thửa đất số 29, tờ bản đồ số PL03, diện tích 158m
2
đất
ONT, tại Thôn P, T, huyện T, tỉnh Nam (nay là: Thôn P, T, tỉnh Ninh
Bình). Nguồn gốc thửa đất mua của Hợp tác xã. Trên thửa đất này, vchồng
L xây 01 nhà mái bằng 01 tầng. Sau đó, thửa đất đã được Ủy ban nhân dân (sau
đây viết tắt là UBND) huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây
viết tắt GCNQSDĐ) số: AE 651858 ngày 14/9/2006, mang tên hộ ông Phạm
Văn B, Hàn Thị L. Theo GCNQSDĐ, ông B, bà L được quyền sử dụng riêng
158m
2
đất tại nông thôn, thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số PL03. Năm 2024,
vợ chồng ông B, L xây thêm quán lợp tôn trên thửa đất này. Thửa đất của vợ
chồng ông B, bà L giáp thửa đất số 28, tờ bản đồ số PL3 của ông Phạm Văn T
giáp thửa đất số 30, tờ bản đồ số PL3 của hộ ông Đinh Đức T1. Ông T cháu
ruột ông Phạm Văn B, có vợ là Ngô Thị Thúy H.
Khoảng tháng 3 năm 2024, gia đình ông B, L đã tiến hành đo đạc hiện
trạng thửa đất số 29, tờ bản đồ số PL3; đến tháng 8 năm 2024 mới có kết quả đo
đạc của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện T. Từ kết quả đo đạc, gia
đình ông B, bà L phát hiện diện tích đất đang sdụng bị thiếu so với diện tích đất
được cấp theo GCNQSDĐ 03m
2
; nguyên nhân do vợ chồng ông T đã xây
quán bán hàng (mái bằng), nhà mái bằng 03 tầng và phía sau là nhà tạm lợp
proximăng lấn sang. Sau đó, L đã làm đơn đề nghị đến UBND T yêu cầu
xem xét, hòa giải tranh chấp đất đai giữa hai gia đình. UBND T đã tiến hành
hòa giải nhiều lần, nhưng không thành. Vợ chồng L đã nhiều lần gặp gỡ, nói
chuyện với vợ chồng ông T để thống nhất về diện tích đất gia đình ông B, bà L bị
thiếu, nhưng ông T không đồng ý.
Ngày 08/5/2025, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, kết quả: ranh
giới hiện trạng sử dụng đất của thửa số 28 lấn 0,5m
2
sang ranh giới theo
3
GCNQSDĐ đã cấp của thửa 29; tổng diện tích chồng lấn tọa độ giữa hai thửa đất
trên theo ranh giới đã cấp GCNQSDĐ 5m
2
(Công văn số 45/CNVPĐKĐĐTL
ngày 20/01/2026 v/v trả lời Công văn số 298/CV-TA Tòa án nhân dân Khu vực
Bình của Chi nhánh Văn phòng Đ). Tuy nhiên, L cho rằng năm 2024, Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T đo đạc đã xác định phía Bắc thửa đất
hộ ông T lấn sang thửa đất nhà 14cm, phía Nam thửa đất nhà ông T lấn sang
thửa đất nhà bà 12cm, tổng diện tích là 03m
2
; nên bà L không nhất trí với kết quả
đo đạc như Chi nhánh Văn phòng Đ giải thích.
Nguyên đơn yêu cầu hộ ông T phải tháo dỡ công trình, vật kiến trúc để trả
lại cho vợ chồng bà 03m
2
đất thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số PL3, tại Thôn P,
xã T, tỉnh Ninh Bình. Yêu cầu cấp đủ diện tích 158m
2
đất cho vợ chồng theo
đúng GCNQSDĐ đã cấp không được chồng lấn tọa độ. L yêu cầu trả đất
chứ không nhận bằng tiền.
- Về chi phí tố tụng (chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ): L đã nộp số tiền
3.084.000 đồng (quyết toán xong với Tòa án). Tại phiên tòa thẩm L không
có yêu cầu gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Văn T trình bày:
Ông Phạm Văn T kết hôn với bà Ngô Thị Thúy H vào năm 2008. Đến năm
2010, vợ chồng ông T sinh sống tại thửa đất số 28, tờ bản đồ số PL3, diện tích
147m
2
đất ONT, tại Thôn P, T, huyện T, tỉnh Nam (nay là: Thôn P, T,
tỉnh Ninh Bình). Thửa đất này do bố mẹ ông T ông Phạm Văn Đ Phạm
Thị T2 tặng cho riêng ông T, nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho ông T. Đến
năm 2017, thửa đất đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh H cấp GCNQSDĐ
số: CI 148860 ngày 22/6/2017 mang tên ông Phạm Văn T sự thay đổi về
diện tích đất (từ 147m
2
xuống còn 144,0m). Theo GCNQSDĐ, ông T được sử
dụng riêng 144,0m
2
đất ở tại nông Thôn, thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số PL3.
Thửa đất của gia đình ông giáp với thửa đất s29, tờ bản đồ số PL3 của ông Phạm
Văn B bà Hàn Thị L; ông B chú ruột của ông T. Gia đình L xây dựng
công trình trước và có xây tường bao làm ranh giới giữa hai nhà. Gia đình ông T
xây dựng công trình giáp với tường bao của hộ L. Cthể: năm 2010, vợ chồng
ông T xây 01 nhà mái bằng 01 tầng diện tích khoảng 70m
2
; năm 2017, xây 01 bếp
lợp mái tôn diện tích khoảng 10m
2
01 sân diện tích khoảng 10m
2
; năm 2019,
xây thêm tầng 2, tầng 3 nhà mái bằng và xây 01 quán bán hàng (nhà mái bằng)
diện tích khoảng 50m
2
trên thửa đất này. Trong suốt quá trình xây dựng cho đến
năm 2024, thì không tranh chấp với các hộ liền kề. Khoảng tháng 3 năm
2024, gia đình bà L tiến hành đo đạc hiện trạng thửa đất số 29, tờ bản đồ số PL3;
đến tháng 8 năm 2024 thì kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đăng
4
Đất đai huyện T. Từ kết quả đo đạc, gia đình bà L phát hiện diện tích đất nhà
L bị thiếu so với diện tích được cấp theo GCNQSDĐ là 03m
2
. Bà L cho rằng do
nhà ông T lấn sang đất nhà 03m
2
và đã làm đơn đnghị đến UBND T
yêu cầu xem xét, hòa giải tranh chấp đất đai giữa hai gia đình. UBND T đã tiến
hành hòa giải nhiều lần, nhưng không thành.
Ngày 08/5/2025, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, xác định thửa
đất của ông T đang sử dụng 140m
2
, trong đó lấn sang thửa đất hộ L 0,5m
2
; tổng
diện tích chồng lấn tọa độ giữa 02 thửa đất là 5m
2
; ông T nhất trí với kết quả đo
đạc này và tôn trọng diện tích đất hiện trạng đang sử dụng mặc dù bị thiếu so với
GCNQSDĐ đã được cấp.
Nay, bà L yêu cầu ông T trả lại cho vợ chồng bà L 03m
2
đất, ông T không
nhất trí, bởi vì: hiện trạng thửa đất của ông hiện nay đã bị thiếu 4,0m
2
so với
GCNQSDĐ được cấp (144m
2
đất ONT). hai nhà đã sử dụng ổn định 02 thửa
đất từ trước đến nay, nên ông T đồng ý giữ nguyên theo hiện trạng sử dụng hiện
tại. Mặt khác, do đang bị chồng lấn về tọa độ giữa 02 thửa đất, nên ông T nhất trí
gia đình ông T sử dụng diện tích đất theo trạng 140m
2
. Trường hợp xác định
thửa đất nhà ông T đang sử dụng chồng lấn sang ranh giới theo GCNQSDĐ của
thửa đất nhà L 0,5m
2
, thì ông T đnghị giữ nguyên hiện trạng sử dụng các thửa
đất các công trình trên đất. Ông T sẽ có trách nhiệm thanh toán bằng tiền (theo
kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản) cho ông B, L là 2.500.000 đồng
(trị giá 0,5m
2
đất được xác định trong ranh giới theo GCNQSDĐ của thửa đất gia
đình bà L đã được cấp GCNQSDĐ).
Ngưi có quyn li, ngha v liên quan, ông Phạm Văn B trình bày:
Ông B nhất trí với trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà Hàn Thị L. Ông B
yêu cầu hộ ông Phạm Văn T trả lại cho vợ chồng ông B 03m
2
đất thuộc thửa đất
số 29, tờ bản đồ số PL3, tại Thôn P, T, tỉnh Ninh Bình. Yêu cầu cấp đủ diện
tích 158m
2
đất cho vợ chồng ông B theo đúng GCNQSDĐ đã cấp và không được
chồng lấn tọa độ. Ông B yêu cầu trả đất chứ không nhận bằng tiền.
Ngưi có quyn li, ngha v liên quan, bà Ngô Thị Thúy H trình bày:
Bà H là vợ của ông Phạm Văn T. Nay, bà Hàn Thị L yêu cầu ông T trả lại
cho vợ chồng L, ông B 03m
2
đất, H không nhất trí nhà H không lấn
chiếm đất của nhà L. Diện tích đất nhà H đã bị thiếu. Hiện tại còn 140m
2
đất ONT. Yêu cầu khởi kiện của L không đúng, đề nghị Tòa án giải quyết
vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định: Ranh gii hin trng s dng
đất ca thửa đất s 28 ln 0,5m
2
sang ranh giới theo GCNQSDĐ ca thửa đt s
5
29. Tng din tích chng ln, tọa độ gia hai thửa đất trên theo ranh giới đã cp
GCNQSDĐ là 5m
2
.
Kết quả định giá tài sản: Diện tích đất ông T sử dụng chồng lấn sang ranh
giới theo GCNQSDĐ thửa đất của h bà L (phn xây bếp) 0,5m
2
trị giá:
2.500.000 đồng. Giá trị nhà bếp của ông T, bà H là: 8.869.500 đồng.
Tại Bản án số Bản án sơ thẩm số 05/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực Bình đã quyết định:
1. Chấp nhận mt phn yêu cu khởi kiện của bà Hàn Thị L.
Buc ông Phạm Văn T phải trả lại 0,5m
2
đất theo trị giá bằng tiền
2.500.000 đồng cho v chng bà Hàn Thị L, ông Phạm Văn B. Ông Phạm Văn T
đưc quyền sử dụng 0,5m
2
đất của h bà Hàn Thị L, ông Phạm Văn B thuc thửa
đất s29, t bản đồ số PL3, địa chỉ thửa đất: Thôn P, xã T, tỉnh Ninh Bình (có
đồ kèm theo và là mt phn không thể tách ri của bản án này).
Hàn Thị L, ông Phạm Văn B và ông Phạm Văn T có trách nhiệm đến
quan Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh hoặc cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. n phí: ông Phạm Văn T phi np 300.000 đồng án ph dân s thẩm.
Tr li cho bà Hàn Thị L s tin tm ng án ph 300.000 đồng đã np theo Biên
lai thu tm ng án ph, l ph Tòa án s 0001315 ngày 20/01/2025.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự, quyền,
nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 17/3/2026, nguyên đơn bà Hàn Thị L đơn kháng cáo bản án dân
sự sơ thẩm số Bản án sơ thẩm số 05/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực Bình. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết: buộc
ông T phải tháo dỡ vật kiến trúc để trả lại cho gia đình L 3m
2
đất theo đúng
GCNQSDĐ mà Nhà nước đã cấp.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn Hàn Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng
cáo. L đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết buộc ông T phải tháo dỡ vật
kiến trúc để trả lại cho gia đình bà L theo đúng GCNQSDĐ mà Nhà nước đã cấp.
Sau khi tranh luận, L còn đề nghị Hội đồng xét xử xuống xem xét tại chỗ tài
sản tranh chấp và cắm mốc giới cụ thể cho gia đình L.
Bị đơn ông Phạm Văn T không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 05/2026/DS-
ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực Bình.
6
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh nh tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: Vtố tụng: Hội đồng xét xử các đương sự trong quá trình giải
quyết vụ án cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm đã thực hiện đúng
quy định của pháp luật. Về nội dung kháng cáo: Kiểm sát viên tham gia phiên toà
đã phân tích các tình tiết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử: giữ nguyên bản án thẩm Bản án thẩm số
05/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực Bình.
Án phí dân sự phúc thẩm người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của Hàn Thị L được làm trong thời hạn pháp luật
quy định đúng hình thức, nội dung theo quy định tại các Điều 272, 273, 276
của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2]. Về phạm vi xét xử phúc thẩm: bà Hàn Thị L kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét
xử phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo nội dung đơn kháng cáo của người
kháng cáo.
[1.3]. Về yêu cầu của L đề nghị Hội đồng xét xử xuống xem xét tại chỗ
tài sản tranh chấp và cắm mốc giới cụ thể cho gia đình bà L. Hội đồng xét xử xét
thấy cấp sơ thẩm đã thẩm định cụ thể chi tiết, đồ kèm theo đã thể hiện tọa đ
các mốc giới. Mặt khác, L đơn đề nghị gửi cấp phúc thẩm kèm theo 7 ảnh
chụp ranh giới giữa hai thửa đất đã được xem xét công khai tại phiên tòa phúc
thẩm nên không cần thiết phải xem xét thẩm định tại chỗ lại theo yêu cầu của bà
L.
[2]. Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã xác định:
Nguồn gốc thửa đất thửa đất số 29, tờ bản đồ số PL03, diện tích 185 m
2
đất
tại Thôn P, xã T, tỉnh Ninh Bình do ông Phạm Văn B, Hàn Thị L mua của
Hợp tác năm 1998. Thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ số: AE 651858 ngày
14/9/2006, mang tên hộ ông Phạm Văn B, Hàn Thị L diện tích 185 m
2
đất ONT.
Hiện tại gia đình ông B, bà L đang quản lý sử dụng.
Nguồn gốc thửa đất số 28, tờ bản đồ số PL03, diện tích 147m
2
đất tại Thôn
P, T, tỉnh Ninh Bình của ông Phạm Văn ĐPhạm Thị T2. Ông ĐT2
tặng cho riêng ông T. Vợ chồng ông T sdụng thửa đất từ năm 2010 đến nay.
7
Năm 2017, ông T làm thủ tục sang tên thửa đất, đã được Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh H cấp GCNQSDĐ số: CI 148860 ngày 22/6/2017 mang tên ông Phạm
Văn T. Khi làm thủ tục sang tên có sự thay đổi về diện tích đất (từ 147m
2
xuống
còn 144,0m). Theo GCNQSDĐ, ông T được sử dụng riêng 144,0m
2
đất tại nông
Thôn, thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số PL3.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08 tháng 5 năm 2025 (BL97)
xác định: gia đình L đang sdụng thửa đất số 29 diện tích 157,5 m
2
(thiếu
so với Giấy chứng nhận quyền sdụng đất 0,5mgia đình ông T đang sử dụng
thửa đất số 28 diện tích 140m
2
(thiếu so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất 4,0m), phần đất tranh chấp được xác định là diện tích được giới hạn bởi các
điểm mốc số 2, số C, số 4, số 9 số 10 (theo đồ kèm theo biên bản thẩm định).
Tại văn bản số 45/CNVPĐKĐĐTL ngày 20/01/2026 đã xác định: Ranh giới
hiện trạng sử dụng đất của thửa đất số 28 lấn sang ranh giới theo GCNQSDĐ đã
cấp của thửa đất 29. Tổng diện tích chồng lấn tọa độ giữa hai thửa đất trên theo
ranh giới đã cấp GCNQSDĐ là 05m (BL168).
Tài sản trên diện tích đất ông T sử dụng lấn sang ranh giới theo GCNQSDĐ
đã cấp của thửa đất 29 phn xây bếp của gia đình ông T. Gia đình L không
có tài sản gì trên phần đất này.
[2.2] Các đương sự đều thừa nhận: gia đình ông B, bà L và gia đình ông T,
bà H sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp từ khi sử dụng đất đến năm 2024.
Khi các gia đình xây dựng các công trình trên đất thì hai bên gia đình không ai
ý kiến gì. Năm 2024, gia đình bà L đi đo lại đất phát hiện diện tích sử dụng thiếu
so với diện tích đã được cấp GCNQSDĐ mới thì phát sinh tranh chấp.
[2.3] Bà L thừa nhận sau khi mua đất của Hợp tác xã, gia đình L đã được
cắm cọc xác định mốc giới. Khi L sử dụng thửa đất, gia đình L đã xây tường
bao xung quanh thửa đất. Khi đó thửa đất nhà ông Đ chưa sử dụng hai bên không
xảy ra tranh chấp. L cho rằng khi xây trường bao gia đình nhà L xây không
hết diện tích đất đlại khoảng 20cm dọc theo ranh giới đất với nhà ông Đ.
Tuy nhiên, bà L không cung cấp được chứng cứ xác định việc gia đình L để lại
khoảng 20cm dọc theo ranh giới đất với nhà ông Đ. Sau khi gia đình ông T sử
dụng thửa đất s28, xây dựng nhà các công trình trên đất các gia đình đều
thống nhất ranh giới sử dụng đất giữa hai gia đình theo hiện trạng sdụng đất
không có tranh chấp đến năm 2024. Do đó, không có sở xác định gia đình ông
T lấn sang thửa đất nhà bà L đang sử dụng.
[2.4] Căn cứ vào hiện trạng sdụng đất của thửa đất s28 và thửa đất số 29,
Bản án thẩm đã xác định ranh giới giữa hai thửa đất 28 thửa đất 29 theo hiện
trạng sử dụng của hai thửa đất là phù hợp ranh giới được các bên thừa nhận trước
8
khi xảy ra tranh chấp, đảm bảo đúng quy định tại Điều 175 Bộ luật Dân sự năm
2015 và Điều 135 Luật Đất đai năm 2024.
[2.5] Khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai năm 2024 quy định “…6. Trường hợp
sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy
tờ quy định tại Điều 137 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sdụng đất hoặc Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với
đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đất đã cấp ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới
thửa đất tại thi điểm giấy t về quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với
đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
đã cấp, không tranh chấp với những ngưi sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc
cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đất, diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế.…”. Do đó, Bản án
thẩm xác định theo ranh giới giữa hai thửa đất số 28 thửa đất số 29 theo ranh
giới sử dụng đất thực tế của hai gia đình đang sử dụng là có cơ sở, đúng quy định
của pháp luật.
[2.6] Sau khi kết quả thẩm định tại chỗ, ông T đã nhất trí với kết quả đo
đạc theo đồ kèm theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 08 tháng 5 năm 2025.
Diện tích chồng lấn tọa độ giữa hai thửa đất trên theo ranh giới đã cấp GCNQSDĐ
05m
2
, ông T nhất trí gia đình ông T sử dụng diện tích đất theo trạng sử dụng
đất (thiếu 04m
2
so với diện tích đã được cấp GCNQSDĐ). Ông T đề nghị giữ
nguyên hiện trạng thửa đất. Các công trình trên phần đất lấn sang ranh giới đã cấp
GCNQSDĐ của thửa đất số 29, ông T sẽ trách nhiệm thanh toán bằng tiền (theo
kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản) cho ông B, L.Bản án thẩm
đã buộc ông T phải trả lại 0,5m
2
đất theo trị giá bằng tiền là 2.500.000 đồng cho
v chng bà Hàn Thị L, ông Phạm Văn B. Ông Phạm Văn T được quyền sử dụng
0,5m
2
đất của hộ Hàn Thị L, ông Phạm Văn B theo ranh giới được xác theo
tọa độ của thửa đất số 29, tờ bản đồ số PL3 là phù hợp, khắc phục được việc cấp
GCNQSDĐ chồng lấn tọa độ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Bản án sơ thẩm xác định bà Hàn Thị L, ông Phạm Văn B và ông Phạm Văn
T trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh
hoặc cấp lại GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật là đúng quy định của pháp
luật.
[2.6] Hàn Thị L kháng cáo buộc ông T phải tháo dỡ vật kiến trúc để trả
9
lại cho gia đình bà L diện tích đất theo đúng GCNQSDĐ mà Nhà nước đã cấp là
không có cơ sở. Do đó, cần giữ nguyên Bản án thẩm số 05/2026/DS-ST ngày
06 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực Bình.
[2.7] Tại Đơn trình bày đề ngày 17/3/2026, L ý kiến về chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ. Tại phiên tòa sơ thẩm bà L khẳng định đã được quyết toán chi
phí thẩm định tại chỗ, nhận lại tiền thừa không có ý kiến gì. Mặt khác, tại Biên
bản quyết toán chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2025, Tòa án nhân
dân Khu vực Bình bà L đã được xem xét công khai các khoản chi phí và nhận lại
số tiền thừa nên các ý kiến của bà L về số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ
theo Đơn trình bày đề ngày 28/4/2026 gửi Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình
không có cơ sở. [2.8] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
Hàn Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản
1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Uỷ ban vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảmnộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thunộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Hàn Thị L. Ginguyên
Bản án sơ thẩm số 05/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực Bình
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hàn Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001426 ngày 03 tháng 4 năm 2026
của Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình.
3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trưng hp bản án đưc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật hành án
dân s, các đương s quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cu thi hành
án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
10
Điều 6, 7, 7a Điều 9 Luật Thi hành án dân s; thi hiệu thi hành án đưc thc
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật hành án dân s.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- TAND Khu vực 5 – Ninh Bình.
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Phòng KTNV-THA;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, Toà Dân sự, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Huy Lưỡng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 90/2026/DS-PT Bản án số 90/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 90/2026/DS-PT Bản án số 90/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất