Bản án số 186/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 186/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 186/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 186/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn H đòi bị đơn H1 trả lại số tiền 100.000.000 đồng mà ông H1 đã vay ngày 01/02/2022
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 186/2025/DS-PT Bản án số 186/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 186/2025/DS-PT Bản án số 186/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Kim Trường
Bà Hoàng Ngọc Liễu
Ông Đinh Trường Sơn
- Thư phiên t: Phan Thị Thuỳ Linh - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Hoàng Xuân Tân
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ
sở 3) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 79/2025/TLPT-DS
ngày 31 tháng 7 năm 2025 về Kiện đòi tài sản (tiền)
Do bản án thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân
dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay Tòa án nhân dân khu vực 13 Phú
Thọ) bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s
169/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số
124/2025/QĐ-PT ngày 17/9/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bùi Thị H, sinh năm 1972; ông Bùi Đức M, sinh
năm 1970; đều có địa chỉ: Xóm K, xã B, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay N,
tỉnh Phú Thọ).
Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Bùi ThH (Theo Giấy y
quyền ngày 25/4/2024); địa chỉ: Xóm K, B, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay
xã N, tỉnh Phú Thọ).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 186/2025/DS-PT
Ngày 23-9-2025
V/v Kiện đòi tài sản (tiền)
2
2. Bị đơn: Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm K, xã B,
huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là xã N, tỉnh Phú Thọ).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm
1978 (Theo Giấy ủy quyền ngày 08/5/2025); địa chỉ: Xóm Đ, T, huyện K,
tỉnh Hòa Bình (nay là xã M, tỉnh Phú Th).
3. Người kháng cáo: Bị đơn ông Bùi Văn H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/4/2024, quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị H và ông Bùi Đức M trình bày:
Ngày 01/02/2022 ông, cho ông Bùi Văn H1 vay số tiền 100.000.000
đồng. Khi cho vay vợ chồng không lập hợp đồng vay tiền, chỉ cho ông H1 tự
tay viết ngày tháng năm vay tiền nội dung “chú H1 vay bác L 100.000.000
đồng” đề ngày 01/02/2022 ông H1 ký, ghi họ tên của mình. Một thời gian
sau, vợ chồng H đến nông H1 yêu cầu trả tiền vay, ông H1 không trả
còn thách thức.
Đến ngày 12/12/2023, vợ chồng H làm đơn gửi UBND B đnghị
giải quyết. Ngày 15/12/2025 UBND xã B tổ chức hòa giải, ông H1 công nhận tờ
giấy ghi nợ tiền do ông H1 viết nhưng ông H1 đã trả tiền.
Ông M H không nhận được số tiền 100.000.000 đồng ông H1 đã
vay ngày 01/02/2022. Việc ông H1 nói đã trả tiền là không đúng vì trước đó ông
M H đã nhiều lần cho ông H1 vay tiền khi ông H1 trả tiền, ông H1 đều
tự gạch nội dung thể hiện đã trả tiền vay. Khoản vay ngày 01/02/2022 ông H1
chưa trả tiền, đề nghị Tòa án buộc ông H1 phải trả cho vợ chồng bà H, ông M số
tiền vay 100.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi đối với số tiền vay.
Quá trình giải quyết tại phiên tòa, bị đơn Bùi Văn H1, người đại diện
theo ủy quyền của bị đơn – ông Nguyễn Hữu D trình bày:
Ông Bùi Văn H1 trình bày: Ngày 01/02/2022 ông vay vợ chồng bà H,
chồng tên M hay còn gọi Mậu Lan 100.000.000 đồng. Giấy viết ngày
01/02/2022 nội dung “chú H1 vay bác L 100.000.000 đồng” là do ông viết và ký
tên người vay là Bùi Văn H1. Khoản tiền vay này tôi đã trả hết nợ cho vợ chồng
H, cụ thể trả ngày tháng năm nào ông H1 không nhớ. Ông H1 đã trả 01 lần
nhưng không ghi giấy tờ xác nhận đã trả tiền cho nhau, không thu hồi giấy tờ
3
vay tiền, không người làm chứng, chỉ ông H1, ông M H. Nay H
và ông M yêu cầu trả số tiền 100.000.000 đồng, ông H1 không đồng ý vì ông H1
đã trả tiền đủ số tiền đã vay ngày 01/02/2022.
Ông Nguyễn Hữu D trình bày: Xác nhận ông H1 có vay của bà H và ông M
số tiền 100.000.000 đồng. Ông H1 đã trả số tiền trên cho vợ chồng H nhưng
do tin tưởng nên không yêu cầu bên cho vay gạch sổ lần vay ngày 01/02/2022.
Do vậy, ông H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của H. Đề nghị HĐXX
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Bản án thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân
huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 Phú Thọ)
đã quyết định:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 271, Điều 272 Điều 272 của Bộ luật ttụng dân sự; Căn cứ các Điều
115, 116, 166, 463, 466, 469, 357, 468 Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều
147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị H ông Bùi
Đức M. Xác nhận ông Bùi Văn H1 vay của Bùi Thị H ông Bùi Đức M
số tiền 100.000.000 đồng. Buộc ông Bùi Văn H1 phải thanh toán cho ông Bùi
Đức M số tiền 100.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án p quyền
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30/6/2025, bị đơn ông Bùi Văn H1 có đơn kháng cáo bản án dân sự
thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim
Bôi, tỉnh Hòa Bình. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử
lại theo trình tự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án. Đại diện theo ủy quyền bị đơn cung cấp Biên bản
xác nhận của ông Bùi Văn Q Pxóm K, B, huyện K (nay N, tỉnh
Phú Thọ) về việc sáng ngày 07/5/2025 được Tòa án nhân dân huyện Kim i
mời làm việc với cách người chứng kiến buổi làm việc của Tòa án huyện K
4
tại gia đình anh Bùi Văn H1, thành phần buổi làm việc chỉ có 03 người, gồm anh
H1, anh Q chị H2 cán bộ Tòa án, ngoài ra không ai khác tham gia buổi
làm việc. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị hủy bản án thẩm Tòa
án cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi
ích hợp pháp của bị đơn.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa của người tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định
của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời
khai của các đương sự tại phiên tòa, đskết luận ngày 01/02/2022 ông
Bùi Văn H1 vay vợ chồng ông Bùi Thị H ông i Đức M số tiền
100.000.000 đồng. Bị đơn không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh đã
trả số tiền vay cho bà H, ông M, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H1 trả lại cho
vợ chồng H, ông M số tiền 100.000.000 đồng căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn cung cấp tài liệu chứng cứ
mới, phù hợp lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa, từ đó đủ sử khẳng
định, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm đã vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 98 Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự,
ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của đương sự. Do vậy, cần chấp nhận kháng
cáo đề nghị hủy án sơ thẩm của bị đơn Bùi Văn H1. Đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo
của bị đơn, hủy bản án dân sự thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 20/6/2025 của
Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình để giải quyết lại vụ án theo thủ
tục sơ thẩm.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết
quả tranh luận, trên sở xem t đầy đtoàn diện chứng cứ, ý kiến của các
bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
5
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn Bùi Văn H1 trả lại tài sản (tiền). B
đơn nơi ttại Xóm K, B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân
huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 Phú Thọ)
thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn Bùi Văn H1 kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 273
Bộ luật Tố tụng dân sự, hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét.
[2]. Về nội dung vụ án:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Bùi Thị H ông Bùi Đức M yêu
cầu bị đơn ông Bùi Văn H1 phải trả lại số tiền 100.000.000 đồng ông H1 đã
vay vợ chồng bà ngày 01/02/2022, không yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền nêu
trên.
Các đương sự đều xác nhận ngày 01/02/2022, ông Bùi Văn H1 vay
của vợ chồng H, ông M số tiền 100.000.000 đồng, nội dung giấy viết tay
ngày 01/02/2022 nội dung “chú H1 vay bác L 100.000.000 đồng” do
ông Bùi Văn H1 viết. Nguyên đơn cho rằng bị đơn chưa thực hiện nghĩa vụ trả
nợ; bị đơn cho rằng đã trả hết nợ cho gia đình H, ông M nhưng không nhớ
ngày tháng năm nào, không có giấy tờ xác nhận đã trả tiền.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các lời khai của các đương sự, các tài liệu
chứng cứ đã thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án để nhận định và tuyên xử chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn H1:
[3.1] Xét kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn H1 về việc Tòa án cấp
thẩm không xác minh, thu thập đầy đủ các tài liệu liên quan đến hồ vụ án,
không xác minh, đưa người quyền lợi liên quan tham gia tố tụng, HĐXX
không căn cứ vào nội dung, kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở giải quyết
vụ án dẫn đến phán quyết không đúng pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền
lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Qua xem xét, nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án ý kiến của
nguyên đơn, b đơn tại giai đoạn xét xử thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm,
HĐXX đánh giá như sau:
6
- Nguyên đơn bà Bùi Thị H và ông Bùi Đức M đã cung cấp bản gốc giấy
vay tiền ngày 01/02/2022 do ông Bùi Văn H1 viết tên kèm theo đơn khởi
kiện. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn khai, mặc dù ngày 01/02/2022 không
đưa tiền mặt cho anh H1, nhưng đây số tiền anh H1 đã nhận từ lần vay trước,
đến ngày 01/02/2022 anh H1 đem đến trả nhưng cũng chỉ trả trên danh nghĩa
để tính tiền lãi đợt vay, sau đó lại vay tiếp số tiền gốc 100 triệu đồng của lần vay
trước. Bị đơn ông Bùi Văn H1 cũng thừa nhận ngày 01/02/2022 là vay tiền
của vợ chồng bà H, ông M và chữ viết, chữ ký trong sổ vay nợ là của ông H1, bị
đơn cho rằng đã trả cho nguyên đơn số tiền này. Như vậy, đủ căn cứ khẳng
định ngày 01/02/0222 ông Bùi Văn H1 đã vay số tiền 100.000.000 đồng của vợ
chồng H, ông M. Việc người đại diện của bị đơn trình bày tại phiên tòa sơ
thẩm với nội dung H ông M nhầm lẫn về quan hệ vay stiền 100.000.000
đồng về bản chất số tiền ông H1 đã vay ngày 15/01/2022, stiền này ông H1
đã trả gạch sổ; H ông M không đưa số tiền 100.000.000 đồng cho ông
H1 vay vào ngày 01/02/2022; giấy vay tiền ngày 01/02/2022 có dấu hiệu giả tạo
theo Điều 124 Bộ luật Dân sự không căn cứ mâu thuẫn với lời khai của
bị đơn.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Bùi Văn H1 thừa nhận đã nhiều
lần vay tiền của H và ông M, mỗi lần vay tiền ông H1 đều tự viết ngày tháng
vay, số tiền vay và tên vào quyển sổ của nguyên đơn, trong đó stiền
100.000.000 đồng vay ngày 01/02/2022 sau mỗi lần trả nợ, ông H1 sẽ tự tay
gạch vào giấy vay tiền mình đã viết trước đó. Việc vay nợ, trả nợ đã diễn ra
nhiều lần, các bên đều hiểu quy trình của mỗi lần vay tiền ngầm hiểu với
nhau người trả tiền sẽ tự tay gạch đi dòng chữ mà mình đã viết là hoàn thành
nghĩa vụ trả nợ cho bên vay. Trong quyển sổ của nguyên đơn xuất trình thì chỉ
khoản vay đngày 01/02/2022 không bị gạch chéo đây cũng lần vay
cuối cùng ghi trong quyển sổ của nguyên đơn. Do vậy, bị đơn Bùi Văn H1 cho
rằng đã trả tiền vay ngày 01/02/2022, nhưng bị đơn không đưa ra được tài liệu,
chứng cứ nào chứng minh rằng đã trả tiền cho nguyên đơn, các lý do mà ông H1
đã trình bày về việc không nhớ ngày tháng trả tiền, không ghi giấy tờ xác nhận
đã trả tiền thiếu tính logic, không phù hợp với các tình tiết khách quan khác
của vụ án.
- Các đương sự đều thừa nhận khi hai bên cho nhau vay tiền, trả tiền đều
không người chứng kiến. Các ln ông H1 vay tiền H, ông M đều chỉ
7
chữ ký của một mình ông H1; quá trình giải quyết vụ án, ông H1 cũng không đề
nghị đưa người quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng cũng như
không đưa ra thông tin cụ thể nào về người liên quan hoặc người làm chứng để
Tòa án căn cứ đưa họ tham gia tố tụng theo quy định. Do đó, kháng cáo của
ông Bùi Văn H1 vviệc Tòa án cấp thẩm không xác minh không đưa
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không căn cứ,
sở pháp lý để HĐXX chấp nhận.
[3.2]. Xét kháng cáo của ông Bùi Văn H1 về việc Tòa án cấp thẩm
không thực hiện đúng trình ttố tụng khi giải quyết vụ án, không thực hiện
đúng và đầy đủ trình tự tố tụng khi tống đạt các quyết định tố tụng cho bị đơn và
tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn cung cấp chứng cứ mới cho rằng Tòa án cấp
thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, HĐXX thấy rằng:
Ngày 20/01/2025 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện kèm theo các tài liệu
chứng cứ, ngày 21/01/2025 Tòa án nhân dân huyện Kim i thụ vụ án là
đúng thời hạn theo quy định tại Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thông báo thụ vụ án đã được Tòa án cấp thẩm thực hiện tống đạt
qua dịch vụ bưu chính cho bị đơn, bị đơn đã nhận vào phiếu báo phát (BL 29
30) đảm bảo theo khoản 2 Điều 175 BLTTDS.
Ngày 19/5/2025, Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi đã ban hành Quyết
định đưa vụ án ra xét xử, thực hiện tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử
giấy triệu tập cho ông Nguyễn Hữu D người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
theo nội dung y quyền được nêu trong văn bản ủy quyền ngày 08/5/2025
(BL47 49). Tại phiên tòa thẩm ngày 10/6/2025 bị đơn Bùi Văn H1 được
triệu tập hợp lệ vắng mặt lần thứ nhất không do nên HĐXX đã ra quyết
định hoãn phiên tòa. Tại BL 64, ông D đã được Tòa án tống đạt quyết định hoãn
phiên tòa số 02/2025/QĐST DS ngày 10/6/2025, ông D đã nhận ghi ý
kiến “Tôi chịu trách nhiệm giao quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên
tòa ngày mở 20/6/2025 cho bị đơn Bùi Văn H1 trong vụ án dân sthụ lý số 01
ngày 21/1/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi”.
Tại phiên tòa thẩm mở lại vào ngày 20/6/2025, bị đơn Bùi Văn H1
vắng mặt lần thứ hai nhưng đại diện theo ủy quyền của bị đơn có mặt, các đương
sự và đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy
định của pháp luật nên Hội đồng xét xvẫn tiến hành phiên tòa ngày 20/6/2025
8
là đúng quy định. Trình tự phiên tòa sơ thẩm được thực hiện theo đúng quy định
tại Điều 247, Điều 249, Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 21/01/2025 Tòa án nhân dân huyện Kim i thụ giải quyết vụ
án, ngày 19/5/2025 ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, đảm bảo thời hạn chuẩn bị
xét xử được quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Như vậy, qtrình giải quyết vụ án cấp thẩm, Tòa án đã tống đạt
đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn về nội dung Tòa án thẩm không thực hiện
đúng và đầy đủ trình tự tố tụng khi tống đạt các quyết định tố tụng cho bị đơn là
không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền bị đơn cung cấp Biên bản
xác nhận của ông Bùi Văn Q Pxóm K, B, huyện K (nay N, tỉnh
Phú Thọ) về việc sáng ngày 07/5/2025 được Tòa án nhân dân huyện Kim i
mời làm việc với cách người chứng kiến buổi làm việc của Tòa án huyện K
tại gia đình anh Bùi Văn H1, thành phần buổi làm việc chỉ có 03 người, gồm anh
H1, anh Q chị H2 cán bộ Tòa án, ngoài ra không ai khác tham gia buổi
làm việc. Tại buổi làm việc này ông Q được ký vào 03 biên bản: 01 biên bản lấy
lời khai của đương sự, 01 biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai
chứng cứ, 01 biên bản hòa giải. Các biên bản trên do chị H2 chuẩn bị sẵn. Tại
phiên tòa hôm nay, đại diện bị đơn cũng trình bày buổi làm việc ngày 07/5/2025
tại nhà bị đơn không Thẩm phán, không nguyên đơn. Nguyên đơn chị H
cũng khai nhận ngày 07/5/2025 không được đến nhà ông H1 làm việc, chỉ có chị
H2 mang biên biên bản sang nhà đưa cho chị ký; nguyên đơn không được dự
phiên họp tiếp cận ng khai chứng cứ, không dự họp phiên hòa giải nào. Xét
thấy, mặc ông Q không mặt tại phiên tòa phúc thẩm, nhưng các nội dung
trong biên bản c nhận của ông Q phù hợp với trình bày của phía bị đơn
nguyên đơn. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, tại buổi làm việc ngày 07/5/2025
tại gia đình anh H1, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của anh H1, tổ chức phiên
họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tổ chức phiên hòa giải nhưng không Thẩm
phán tham gia, không có mặt các đương sự theo quy định. Việc làm trên của Tòa
án nhân dân huyện Kim Bôi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy
định tại Điều 98 Điều 209, 210 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân
9
huyện Kim Bôi (nay Tòa án nhân dân khu vực 13 Phú Thọ) cần nghiêm túc
kiểm điểm, rút kinh nghiệm.
Từ những căn cứ và nhận định nêu trên, HĐXX phúc thẩm thấy rằng quá
trình giải quyết ván, Tòa án cấp thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do vậy, có căn cứ
chấp nhận kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm của bị đơn Bùi Văn H1 để cho
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[4]. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn
cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[5]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
[6]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn Bùi Văn H1
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho ông H1 tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm đã nộp. Án phí thẩm các chi phí tố tụng khác được tính lại khi
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Toà án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Bùi Văn H1. Hủy bản án dân s
thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim i,
tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ). Giao hồ sơ vụ án
cho Tòa án nhân dân khu vực 13 Phú Thọ giải quyết lại theo quy định của
pháp luật.
2. Về án phí: Bị đơn Bùi Văn H1 không phải chịu án pphúc thẩm. Trả
lại ông H1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số
0000538 ngày 18/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được tính lại khi giải quyết lại
vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
10
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 23/9/2025./.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT III - TANDTC;
- Viện KSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 13 – Phú Thọ;
- TAND khu vực 13 – Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
-Lưu HSVS, HCTP.
T TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Kim Trường
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 186/2025/DS-PT Bản án số 186/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 186/2025/DS-PT Bản án số 186/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất