Bản án số 406/2026/DS-PT ngày 22/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 406/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 406/2026/DS-PT ngày 22/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 406/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo bà Lương Thị Thu N1. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 56/2026/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 406/2026/DS-PT Bản án số 406/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 406/2026/DS-PT Bản án số 406/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 406/2026/DS-PT
Ngày: 22-7-2026
V/v: “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố
hợp đồng hiệu; giải quyết hậu
quả của hợp đồng hiệu; phạt vi
phạm hợp đồng yêu cầu bồi
thường thiệt hại về tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Ông Đặng Ngọc Bình
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Thanh Nga Thư Tòa án, Toà án nhân
dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Nguyễn Viết Cường
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 382/2026/TLPT-DS ngày 19 tháng 6 năm
2026 về tranh chấp: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng hiệu; giải quyết hậu quả của
hợp đồng vô hiệu; phạt vi phạm hợp đồng yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài
sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 56/2026/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 472/2026/QĐ-PT ngày 06/7/2026
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Khúc Thị Xuân T, sinh năm: 1963; trú tại số F, đường N,
thôn B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Phạm Thị Thanh N, sinh năm: 1992; trú tại
số E, quốc lộ B, Đ, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản
ủy quyền số 1471/2026/CCGD do n phòng C3 chứng nhận ngày 29/6/2026),
mặt.
2
Bị đơn: Lương Thị Thu N1, sinh năm: 1972; trú tại số A, thôn B, xã T,
tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Khúc Ba L, sinh năm: 1979; trú tại số F, đường N, thôn B,
xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người đại diện hợp pháp: Phạm Thị Thanh N, sinh năm: 1992; trú tại
số E, quốc lộ B, Đ, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản
ủy quyền số 1471/2026/CCGD do n phòng C3 chứng nhận ngày 29/6/2026),
mặt.
2. Thi hành án Dân sự tỉnh L; địa chỉ: số E, đường P, Phường X - Đ, tỉnh Lâm
Đồng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Ngân hàng thương mại cổ phần Đ3. Địa chỉ liên lạc: Đ, tỉnh Lâm Đồng,
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
4. Ông Nguyễn Hoàng Nhất N2, sinh năm: 1979; trú tại tổ dân phố N,
Đ, tỉnh Lâm Đồng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Lương Thị Thu N1 Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 13/10/2026, đơn khởi kiện bổ sung ngày
27/10/2026, lời trình bày tại các bản tự khai trong quá trình tham gia ttụng tại
giai đoạn sơ thẩm của bà Khúc Thị Xuân T, thì:
Ngày 09/10/2025 ông Nguyễn Khúc Ba L (con trai của bà T) và Lương Thị
Thu N1 kết Hợp đồng kinh tế số 01NK/HĐKT vviệc thi ng xây dựng nhà
kho, xưởng. Theo nội dung hợp đồng, bên nhận thi công được ghi “TVTK &
Xây dựng Nice House”, gồm ông Nguyễn Khúc Ba L Khúc Thị Xuân T; giá
trị hợp đồng 700.000.000đ; địa điểm thi công tại thửa đất số 1048, tờ bản đồ s
31, Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tài sản bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng quyền
sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 44, diện tích 88,7m², tọa lạc tại thị trấn L,
huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (cũ), đứng tên T. Sau khi hợp đồng, N1 đã
chuyển khoản cho ông S tiền 600.000.000đ. Số tiền này sau đó bị quan Thi
hành án Dân sự phong tỏa khấu trừ để thi hành nghĩa vụ dân sự của ông T1
một vụ việc khác. Hiện khoản tiền 600.000.000đ này đang do quan Thi hành án
Dân sự quản lý vì phát sinh tranh chấp giữa các bên.
Bà T cho rằng bà đã già yếu, không tham gia hoạt động xây dựng cùng ông L;
không phải cùng làm chủ sở “TVTK & Xây dựng Nice House” với ông Ba L
như nội dung hợp đồng thể hiện, bởi thực tế ông hoạt Đ với cách nhân
không thành lập sở này. không trực tiếp kết hợp đồng, không ủy quyền
3
cho ai kết thay mình, cũng không bất kỳ thỏa thuận hay cam kết nào vviệc
dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng.
Do đó, T đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng kinh tế số
01NK/HĐKT ngày 09/10/2025 giữa Lương Thị Thu N1 ông Nguyễn Khúc
Ba L hiệu; buộc ông Ba L, Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng và Ngân hàng
thương mại cổ phần Đ3, Chi nhánh tỉnh L, Phòng G có trách nhiệm liên đới trả cho
N1 số tiền 600.000.000đ nói trên, cũng đồng ý với yêu cầu độc lập của ông
Ba Lê .
- Theo nội dung đơn phản tố ghi ngày 12/01/2026, lời trình bày tại các bản tự
khai trong quá trình tham gia tố tụng tại giai đoạn thẩm của Lương Thị
Thu N1 thì:
Vào ngày 09/10/2025 ông Nguyễn Khúc Ba L đã Hợp đồng kinh tế
số 01NK/HĐKT; cùng ngày đã chuyển khoản cho ông Lê S tiền 600.000.000đ.
Theo nội dung của hợp đồng thì bên nhận thi công gồm ông Nguyễn Khúc Ba L
Khúc Thị Xuân T; hợp đồng có chữ ký mang tên bà T nên có căn cứ xác định bà
T đồng chủ thể của hợp đồng phải cùng ông C trách nhiệm thực hiện hợp
đồng đã giao kết.
Do đó, N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của T yêu cầu
phản tố đề nghị Tòa án buộc bà T cùng ông Lê tiếp T2 thực hiện hợp đồng. Trường
hợp hợp đồng không thể tiếp tục thực hiện được thì đề nghị tuyên hợp đồng
hiệu, buộc ông Nguyễn Khúc Ba L và bà Khúc Thị Xuân T liên đới hoàn trả số tiền
600.000.000đ; đồng thời thanh toán tiền phạt vi phạm hợp đồng 60.000.000đ
bồi thường thiệt hại là 36.000.000đ.
- Theo nội dung đơn yêu cầu độc lập ngày 19/12/2026; lời trình bày tại các
bản tự khai trong quá trình tham gia tố tụng tại giai đoạn thẩm của ông
Nguyễn Khúc Ba L thì:
Ông xác nhận có Hợp đồng kinh tế số 01NK/HĐKT với bà N1 đã nhận
số tiền tạm ứng 600.000.000đ. Tại thời điểm hợp đồng, ông chỉ đi cùng vợ;
Khúc Thị Xuân T không mặt. Chữ mang tên T trong hợp đồng do ông
tự tại quán phê, trước mặt N1; T không biết không ủy quyền cho
ông thay. Việc đưa quyền sử dụng đất của T vào làm tài sản bảo đảm do
N1 yêu cầu; ông đã thông báo cho N1 biết thửa đất đứng tên mẹ ông T
N1 đã đồng ý. Hiện công trình chưa được thi công do bà N1 chưa hoàn tất
thủ tục pháp đối với quyền sdụng đất và chưa giấy phép xây dựng công
trình.
Nay bà T đơn khởi kiện thì ông đồng ý; đồng thời yêu cầu độc lập đ
nghị Tòa án tuyên Hợp đồng kinh tế số 01NK/HĐKT ngày 09/10/2025 hiệu
giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
4
- Theo lời trình bày của ông Nguyễn Hoàng Nhất N2 thì:
Thửa đất s1048, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại đường P, thị trấn T, huyện Đ
(cũ) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/01/2013; địa điểm xây
dựng nhà tiền chế theo Hợp đồng kinh tế số 01NK/HĐKT giữa N1 ông L,
trước đây thuộc quyền sử dụng của ông. Ngày 06/10/2023 ông đã hợp đồng
chuyển nhượng thửa đất này cho N1 với g2.000.000.000đ. Hợp đồng không
được công chứng, chứng thực. Theo đnghị của N1, ông vẫn tiếp tục đứng tên
hộ quyền sử dụng đất.
Trong thực tế thì ông không tham gia kết, thực hiện Hợp đồng kinh tế số
01NK/HĐKT nói trên, không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp giữa
các bên; đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Theo Văn bản trình bày của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng thì:
Thi hành án Dân stỉnh Lâm Đồng xác nhận số tiền 600.000.000đ trong tài
khoản của ông Nguyễn Khúc Ba L đã bị phong tỏa khấu trừ để thi hành án cho
ông Võ Quang T3 trong một vụ án khác. Hiện khoản tiền này đang do cơ quan Thi
hành án Dân sự quản lý vì phát sinh tranh chấp giữa các bên; đối với tranh chấp
giữa các bên thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án số 56/2026/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2026; Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Lâm Đồng đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Khúc Thị Xuân T;
chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lương Thị Thu N1 và một phần
yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Khúc Ba
Lê .
Tuyên bố Hợp đồng kinh tế số 01NK/HĐKT ngày 09/10/2025 giữa Lương
Thị Thu N1 ông Nguyễn Khúc Ba L về việc xây dựng công trình nhà kho
xưởng hiệu; buộc ông Nguyễn Khúc Ba L hoàn trả cho Lương Thị Thu N1
số tiền 600.000.000đ. Không chấp nhận yêu cầu của N1 về việc buộc T ln
đới thực hiện hợp đồng, liên đới hoàn trả số tiền 600.000.000đ, thanh toán tiền
phạt vi phạm hợp đồng 60.000.000đ và bồi thường thiệt hại 36.000.000.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên vchi ptố tụng, án phí, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 05/5/2026, N1 đơn kháng o đnghị cấp phúc thẩm sửa Bản án
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận
toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc Tông liên Đ1 trả cho bà số tiền
600.000.000đ, trả tiền phạt vi phạm hợp đồng 60.000.000đ bồi thường thiệt hại
36.000.000đ.
5
Tại phiên tòa,
Lương Thị Thu N1 xác định chỉ kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm buộc bà
T ông liên Đ1 trả cho số tiền 600.000.000đ, trả tiền phạt vi phạm hợp
đồng 60.000.000đ và bồi thường thiệt hại 36.000.000đ. Các phần khác đồng ý như
Bản án sơ thẩm.
Khúc Th Xuân T ông Nguyễn Khúc Ba L; bà Phạm Thị Thanh N,
người đại diện theo ủy quyền của T ông L, không đồng ý với kháng cáo của
bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án thẩm, bổ sung phần quyết định theo hướng:
"Không chấp nhận phần u cầu khởi kiện của Khúc Thị Xuân T phần yêu
cầu độc lập của ông Nguyễn Khúc Ba L về việc buộc Phòng Thi hành án Dân sự
khu vực 2 - Lâm Đồng Ngân hàng thương mại cổ phần Đ3 trách nhiệm liên
đới trả cho bà Lương Thị Thu N1 số tiền 600.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật trong vụ án “Tranh chấp yêu
cầu tuyên bố hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng hiệu; tranh chấp liên quan đến
tài sản bị cưỡng chế để thi hành án” là chưa phợp đầy đủ; bởi lẽ n cứ nội
dung khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bản chất của vụ án đương sự yêu cầu
xem xét tính hợp pháp của hợp đồng giải quyết hậu quả pháp của hợp đồng
vô hiệu, yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Số tiền 600.000.000đ hiện do quan Thi hành án Dân sự phong tỏa hệ
quả của việc bị đơn chuyển tiền vào tài khoản của ông Ba L; do ông Ba L đang
phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án của một Bản án khác; đây hoạt động trong
lĩnh vực thi hành án; nguyên đơn chỉ yêu cầu Thi hành án Dân sự tỉnh L Ngân
hàng thương mại cổ phần Đ3, Chi nhánh tỉnh L, Phòng G trách nhiệm liên đới
cùng với ông Ba L trả lại cho N1 số tiền 600.000.000đ nói trên vì thực tế ông
Lê C1 nhận được số tiền này. Do đó, cần xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp
trong vụ án là “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu; giải quyết hậu quả
của hợp đồng hiệu; phạt vi phạm hợp đồng yêu cầu bồi thường thiệt hại về
tài sản”.
[2] Đơn kháng cáo của Lương Thị Thu N1; thủ tục kháng cáo được thực hiện
đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên đủ điều
kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
6
[3] Xét kháng cáo của bà N1 thì:
[3.1] Đối với kháng cáo buộc bà Khúc Thị Xuân T phải liên đới hoàn trả cho
N1 số tiền 600.000.000đ:
Theo hồ thể hiện thì tại thời điểm giao kết Hợp đồng kinh tế số
01NK/HĐKT ngày 09/10/2025, chỉ có bà Lương Thị Thu N1 và ông Nguyễn Khúc
Ba L tham gia kết; Khúc Thị Xuân T không mặt. Chữ mang tên T
trong hợp đồng do ông T4 thay, T không biết việc thay này cũng
không có văn bản ủy quyền cho ông Lê xác L1 giao dịch. Đây là những tình tiết, sự
kiện được các đương sự thừa nhận tại giai đoạn thẩm; đồng thời, N1 cũng
không yêu cầu giám định chcủa bà T. Ngoài việc tên T được ghi ký
trong hợp đồng, hồ vụ án không thể hiện tài liệu, chứng cứ nào chứng minh
T đã tham gia đàm phán, thống nhất nội dung hợp đồng, nhận số tiền tạm ứng
600.000.000đ từ bđơn, hưởng lợi từ hợp đồng hoặc cam kết dùng quyền sử
dụng đất của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của ông L.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chỉ làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ đối với các bên tham gia giao kết hoặc người được đại diện hợp
pháp. Việc một người tự ý thay người khác khi không có sự đồng ý hoặc không
được ủy quyền không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người tên trong hợp
đồng. Do đó, nội dung của Hợp đồng kinh tế số 01NK/HĐKT ghi tên Khúc Thị
Xuân T không phải là căn cứ để xác định bà T là chủ thể của hợp đồng và phải liên
đới chịu trách nhiệm hoàn trả số tiền 600.000.000đ cho bà N1. Tòa án cấp sơ thẩm
không chấp nhận yêu cầu buộc T liên đới chịu trách nhiệm n cứ, đúng
quy định của pháp luật.
[3.2] Về nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp thẩm xác định lỗi hỗn
hợp là không đúng:
N1 cho rằng bà đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn
Hoàng Nhất N2 theo hợp đồng ngày 06/10/2023; việc chưa hoàn tất thủ tục đăng
sang tên chỉ thủ tục hành chính, không phải nguyên nhân dẫn đến hợp đồng
hiệu; toàn bộ lỗi thuộc về ông Ba L thì thấy rằng; tại thời điểm giao kết Hợp
đồng kinh tế số 01NK/HĐKT ngày 09/10/2025, quyền sử dụng thửa đất nơi d
kiến xây dựng công trình vẫn đứng tên ông N2. Bà N1 chưa thực hiện thủ tục đăng
biến động quyền sdụng đất chưa được quan nhà nước thẩm quyền
cấp giấy phép xây dựng công trình. Như vậy, tại thời điểm xác lập hợp đồng, diện
tích mà bị đơn dự kiến xây dựng công trình chưa đáp ứng các điều kiện pháp lý cần
thiết để được phép thi công theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Đối với ông Nguyễn Khúc Ba L, người hoạt động trong lĩnh vực xây dựng,
trực tiếp soạn thảo hợp đồng, nhận thi công công trình nhận trước số tiền
600.000.000đ từ N1 thì phải biết công trình chưa đủ điều kiện pháp để thi
công nhưng vẫn kết hợp đồng, nhận tiền tạm ứng; ngoài ra còn tự ý giả chữ
7
của Khúc ThXuân T để đưa T trở thành đồng chủ thể trong hợp đồng
không phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cả N1 ông Đ2 lỗi
trong việc xác lập giao dịch dẫn đến Hợp đồng kinh tế số 01NK/HĐKT bị vô hiệu.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định lỗi của các bên là lỗi hỗn hợp và chia đều trách nhiệm
là có căn cứ pháp luật, phù hợp với diễn biến khách quan của vụ án.
[3.3] Về yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại:
Như đã phân tích, tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng, quyền sử dụng đất
nơi dự kiến xây dựng vẫn đứng tên ông N2; N1 chưa thực hiện thủ tục đăng ký
biến động quyền sử dụng đất; công trình cũng chưa được quan nhà nước
thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng. Tuy nhiên, các bên vẫn thỏa thuận thi công
trọn gói, xác định thời gian thực hiện hợp đồng, đồng thời N1 đã giao cho ông
Lê S tiền tạm ứng 600.000.000đ để triển khai thi công. Như vậy, ngay tại thời điểm
xác lập giao dịch, các bên đã hướng đến việc thực hiện hoạt động xây dựng khi
công trình chưa đáp ứng các điều kiện pháp theo quy định tại điểm b khoản 1
Điều 95 của Luật Xây dựng 2014, sửa đổi bổ sung năm 2020. Do đó, Tòa án cấp
thẩm tuyên hợp đồng hiệu do không đáp ng điều kiện hiệu lực theo quy
định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 là có căn cứ. Do hợp đồng
hiệu nên các thỏa thuận về quyền nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, trong đó có
điều khoản phạt vi phạm, đều không còn giá trị pháp lý để làm căn cứ buộc các bên
tiếp tục thực hiện.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 36.000.000đ, bà N1 không chứng
minh được mối quan hệ nhân quả; không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh đã phát sinh giao dịch cho thuê, đã khách thuê hoặc khoản thu nhập
thực tế bị mất; khoản tiền N1 yêu cầu bồi thường chỉ lợi ích dự kiến. Hơn
nữa, cả N1 ông Đ2 có lỗi trong việc xác lập giao dịch dẫn đến hợp đồng
vô hiệu. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu buộc ông L và bà T phải liên
đới bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn.
[4] Tại phần nhận định của Bản án; cấp thẩm đã phân tích đầy đủ căn cứ
pháp lý và đánh giá rõ từng yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, phần quyết định của Bản án chưa thể hiện đầy đủ
kết quả giải quyết đối với từng yêu cầu cụ thể, bao gồm: phần yêu cầu khởi kiện
của T và phần yêu cầu độc lập của ông Lê V việc buộc Thi hành án Dân sự tỉnh
L Ngân hàng thương mại cổ phần Đ3 liên đới hoàn trả cho N1 số tiền
600.000.000đ; yêu cầu phản tố của bà N1 về việc buộc bà T và ông Lê tiếp T2 thực
hiện hợp đồng hoặc chịu phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại và yêu cầu
phản tố của N1 về việc buộc bà T liên đới hoàn trả số tiền 600.000.000đ.
Mặc thiếu sót này không làm thay đổi bản chất vụ án, không ảnh hưởng
đến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và không làm thay đổi kết quả giải quyết vụ
án, tuy nhiên việc phần quyết định chưa tuyên đầy đủ các nội dung nêu trên m
8
cho kết quả giải quyết vụ án chưa được thể hiện một cách toàn diện, ràng
thống nhất với phần nhận định của Bản án thẩm do vậy cần bổ sung cách tuyên
trong phần quyết định của Bản án là phù hợp.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên N1 phải chịu án
phí Dân sự phúc thẩm. Các đương sự phải chịu án phí Dân sự thẩm theo quy
định của pháp luật.
[6] Các phần khác của Bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 117, 123, 131, 357, 385, 407 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 89, 95 Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung
năm 2020;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, các khoản 4, 5, 6 Điều 26, khoản 1 Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo bà Lương Thị Thu N1. Sửa Bản án Dân sự
thẩm số 56/2026/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2
- Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Tranh chấp yêu cầu
tuyên bố hợp đồng vô hiệu; giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; phạt vi phạm
hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Khúc Thị Xuân T; chấp
nhận một phần yêu cầu phản tố của Lương Thị Thu N1; chấp nhận một phần
yêu cầu độc lập ông Nguyễn Khúc Ba L về việc: “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố
hợp đồng hiệu; giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu; phạt vi phạm hợp
đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”.
Buộc ông Nguyễn Khúc Ba L có trách nhiệm trả cho bà Lương Thị Thu N1 số
tiền 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng).
3. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của bà Khúc Thị Xuân T và phần
yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Khúc Ba L về việc đề nghị buộc Thi hành án Dân
sự tỉnh L Ngân hàng thương mại cổ phần Đ3 trách nhiệm liên đới trả cho
Lương Thị Thu N1 số tiền 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng).
9
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Lương Thị Thu N1 về việc buộc
Khúc Thị Xuân T trách nhiệm liên đới cùng ông Nguyễn Khúc Ba L trả s
tiền 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng); không chấp nhận yêu cầu phản tcủa
Lương Thị Thu N1 về việc yêu cầu ông L T thanh toán số tiền 60.000.000đ
(sáu mươi triệu đồng) tiền phạt vi phạm hợp đồng 36.000.000đ (ba mươi sáu
triệu đồng) tiền bồi thường thiệt hại về tài sản.
5. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm cho bà Khúc Thị Xuân T.
Buộc Lương Thị Thu N1 phải chịu 5.100.000đ án phí Dân ssơ thẩm;
được trừ vào số tiền 16.120.000đ tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002589 ngày 05/02/2026 của Thi hành án
Dân stỉnh Lâm Đồng, N1 được nhận lại số tiền 11.020.000đ tạm ứng án phí
Dân sự sơ thẩm còn thừa.
Buộc ông Nguyễn Khúc Ba L phải chịu 28.000.000đ án phí Dân ssơ thẩm;
được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010561 ngày 16/12/2025 của Thi hành án
Dân sự tỉnh Lâm Đồng, ông Lê C2 phải nộp 27.700.000đ.
- Án phí phúc thẩm: Buộc Lương Thị Thu N1 phải chịu 300.000đ án phí
Dân sphúc thẩm; được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc
thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s 0009023 ngày
15/5/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà N1 đã nộp đủ án phí Dân sự
phúc thẩm.
6. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 và Điều 72
Luật Thi hành án Dân sự năm 2015, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 34 Luật Thi hành án Dân sự năm 2015.
7. Các phần khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
10
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ, Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 2 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS KV2 - Lâm Đồng (01);
- Các đương sự (06);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 406/2026/DS-PT Bản án số 406/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 406/2026/DS-PT Bản án số 406/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất