Bản án số 339/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 339/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 339/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 339/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Q khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Hoàng Thị L phải trả tiền gốc đã vay và lãi suất.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 339/2026/DS-PT Bản án số 339/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 339/2026/DS-PT Bản án số 339/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 339/2026/DS-PT
Ngày: 02 - 7 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Duy Thuấn;
2. Bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Việt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Mai Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 151/2026/TLPT-DS ngày
26/5/2026, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự thẩm
số: 15/2026/DS-ST, ngày 24/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2026/QĐ-PT ngày
17/6/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Thị Q, sinh năm 1973; địa chỉ: Đường N, Q, tỉnh Đắk
Lắk, có mặt.
2. Bđơn: Hoàng Thị L, sinh năm 1981 ông Dương Văn T, sinh năm
1978; địa chỉ: Thôn T, xã Q, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
3. Người kháng cáo: Bị đơn ông Dương Văn T Hoàng Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn
Lê Th Q trình bày có nội dung như sau:
Q quen biết với vợ chồng bà Hoàng Thị Lông Dương Văn T, vì trước
đây Q có công tác cùng trường học với bố của bà L. Từ năm 2015 đến năm 2018,
bà Q có cho vợ chồng ông T, bà L vay tiền nhiều lần vào các ngày như sau:
- Ngày 12/12/2015 Âm lịch cho vay số tiền 100.000.000 đồng, thoả thuận lãi
suất 1,5%/tháng, thời hạn vay 01 năm.
- Ngày 15/02/2018 Âm lịch cho vay số tiền 30.000.000 đồng, không ghi rõ lãi
suất, không tha thuận thời hạn trả, đây là khoản tiền mượn nóng.
- Ngày 26/02/2018 Âm lịch cho vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa
thuận, lãi trả hàng tháng, không ghi rõ thời hạn trả nợ.
2
- Ngày 25/9/2018 Dương lịch cho vay số tiền 50.000.000 đồng, không ghi lãi
suất, không ghi rõ thời hạn trả nợ.
- Ngày 12/12/2018 Dương lịch cho vay số tiền 135.500.000 đồng, không ghi
lãi suất, không ghi rõ thời hạn trả nợ.
Trong đó, giấy vay tiền ngày 12/12/2015 Âm lịch và ngày 15/02/2018 Âm lịch
ông T, L tên; còn giấy vay tiền các ngày 26/02/2018 Âm lịch, ngày
25/9/2018 Dương lịch ngày 12/12/2018 Dương lịch, thì chỉ mình L tên
nhưng đây khoản nợ vợ chồng L, ông T vay về làm ăn nên ông T, L cùng
chịu trách nhiệm các khoản nợ này. Các khoản vay trong giấy vay tiền không ghi rõ
lãi suất nhưng thỏa thuận miệng tính lãi 1,5%/tháng. Từ ngày vay cho đến nay, bà
L ông T chưa trả nợ cho bà Q bất kỳ khoản tiền gốc hay tiền lãi nào. vậy, Q
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L ông T phải trả cho khoản tiền
gốc là 415.500.000 đồng và tiền lãi suất theo quy định của pháp luật.
*/ Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà, bị đơn ông Dương Văn T và bà
Hoàng Thị L trình bày có nội dung như sau:
Vợ chồng bà L, ông T xác nhận có ký vay 05 khoản tiền của bà Lê Thị Q như
nội dung mà bà Q trình bày, mục đích vay để làm ăn và giúp đỡ bạn bè. Tuy nhiên,
từ năm 2015 đến năm 2018, vợ chồng L, ông T vay của Q tổng số tiền
1,8 tỷ đồng, trong đó bà Q trả nợ ngân hàng giúp vợ chồng bà L số tiền 1,4 tỷ đồng
vợ chồng bà L vay tiền mặt của Q 415.500.000 đồng. Cuối năm 2018 vợ
chồng bà L, ông T đã chuyển nhượng cho bà Q 02 thửa đất và 01 bộ bàn ghế, trong
đó: Thửa đất diện tích 1,8ha trị giá 1,35 tđồng; thửa đất diện tích 1,5ha trị giá
950.000.000 đồng và bộ bàn ghế trị giá 42.000.000 đồng.
Tại thời điểm làm hchuyển nhượng thì hai bên thỏa thuận miệng là Q
đứng tên giúp vợ chồng bà, sau này vợ chồng bà trả hết nợ thì Q sang tên trả lại
bìa đỏ cho vchồng bà. Tuy nhiên, sau đó Q đã lấy luôn 02 thửa đất trên, như
vậy bà Q đã lấy đất và lấy bộ bàn ghế của vợ chồng bà để khấu trừ nợ. Tổng giá trị
tài sản vợ chồng bà chuyển nhượng cho bà Q là 2,35 tỷ đồng, dư 500.000.000 đồng
so với số tiền vợ chồng nợ bà Q. Do vậy, đối với việc Q khởi kiện vợ chồng
số tiền còn nợ 415.500.000 đồng và lãi suất thì vợ chồng bà không đồng ý.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L xác định các khoản vay trong giấy vay tiền không
ghi rõ lãi suất nhưng thỏa thuận miệng lãi suất là từ 2.000 đồng đến 3.000 đồng/1
triệu/1 ngày, tuỳ từng khoản vay và không xác định rõ mức lãi của từng khoản vay,
chứ không phải lãi suất 1,5%/tháng như Q trình bày. Đối với khoản vay
100.000.000 đồng vào ngày 12/12/2015 Âm lịch, lãi suất 1,5%/tháng thì bà L đã trả
tiền i cho Q được 14 tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng tiền lãi nhưng L không
cung cấp được giấy tờ chứng minh.
Tại Bản án dân s thẩm số: 15/2026/DS-ST, ngày 24/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vc 3 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1
Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 5 Điều 474; khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; các
Điều 464; 466; 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
3
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Q.
- Buộc ông Dương Văn T Hoàng Thị L trả cho bà Thị Q số tiền nợ
gốc là 415.500.000 đồng và tiền lãi là 333.673.000 đồng.
Kể tngày tiếp theo ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của B luật Dân sự.
- Về án phí: Ông Dương Văn T và bà Hoàng Thị L phải chịu 33.967.000 đồng
tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Thị Q không phải chịu án phí và được nhận lại số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.754.000 đồng theo biên lai thu số 0004727 ngày
21/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi
hành án cho đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 06/4/2026, bị đơn ông Dương Văn T Hoàng
Thị L có đơn kháng cáo, với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, Q
đã lấy tài sản của gia đình ông bà vượt quá số nợ của vợ chồng ông bà; đề nghị Toà
án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, xác định bị đơn không còn nghĩa vụ thanh
toán nợ cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Thị Q giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện; bị đơn ông Dương Văn T Hoàng Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến, với nội dung: Về ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng
như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư và các đương sđã tuân thủ đúng các
quy định của pháp luật tố tụng dân sự; về nội dung: Bản án thẩm đã chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ phù hợp với các tài liệu, chứng
cứ trong hồ sơ vụ án, nên kháng cáo của bị đơn ông Dương Văn T Hoàng Thị
L là không có căn cứ chấp nhận. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Ttụng dân sự: Không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn ông Dương Văn T và bà Hoàng Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, lời trình bày của các đương sự ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử
nhận định như sau:
Đối với kháng cáo của ông Dương Văn T và bà Hoàng Thị L, xét thấy:
[1] Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều
thống nhất: Vợ chồng ông Dương Văn T, Hoàng Thị L vay của Thị Q
tổng số tiền 415.500.000 đồng, cụ thể: Ngày 12/12/2015 Âm lịch, vay số tiền
100.000.000 đồng; ngày 15/02/2018 Âm lịch, vay stiền 30.000.000 đồng; ngày
26/02/2018 Âm lịch, vay số tiền 100.000.000 đồng; ngày 25/9/2018 Dương lịch, vay
số tiền 50.000.000 đồng ngày 12/12/2018 Dương lịch, vay stiền 135.500.000
4
đồng. Trong các khoản vay trên, chỉ có khoản vay ngày 12/12/2015 Âm lịch có thoả
thuận lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn vay 01 năm; các khoản vay còn lại không thoả
thuận thời hạn trả nợ và có tranh chấp về mức lãi suất.
[2] Ông Dương Văn THoàng Thị L kháng cáo cho rằng bà Lê Thị Q đã lấy
02 thửa đất và 01 bộ bàn ghế của gia đình ông bà, tổng giá trị các tài sản này nhiều
hơn số tiền mà vợ chồng ông nợ Q, nên vợ chồng ông bà không còn nợ tiền
Q nữa. Tuy nhiên, ông T bà L không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để
chứng minh việc bà Q nhận chuyển nhượng 02 thửa đất và lấy bộ bàn ghế để khấu
trừ nợ; đồng thời Q không thừa nhận nội dung này và xác nhận việc trả nợ thay
cho vợ chồng L, ông T khoản ntại ngân hàng để lấy giấy tờ đất ra vchồng
L, ông T chuyển nhượng đất cho không việc khấu trừ nợ vay. Do đó,
không có căn cứ để xác định ông T và bà L đã trả hết số tiền vay nêu trên cho bà Q.
[3] Như vậy, đủ cơ sở khẳng định: Vchồng bà Hoàng Thị L ông Dương
Văn T vay còn nợ Lê Thị Q số tiền gốc 415.500.000 đồng; bản án
thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Q, buộc ông Dương
Văn T Hoàng Thị L phải trả cho Thị Q số tiền nợ gốc 415.500.000
đồng tiền lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày vay đến ngày xét xử
thẩm, với số tiền lãi 333.673.000 đồng, là có cơ sởđúng quy định của pháp luật.
Do đó, kháng cáo của bị đơn ông Dương Văn T và bà Hoàng Thị L là không có căn
cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận và cần giữ nguyên quyết định của bản án
sơ thẩm, là đúng đắn.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị
đơn ông Dương Văn T bà Hoàng Thị L phải chịu án phí dân sphúc thẩm
được khấu trừo số tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Dương Văn T Hoàng
Thị L; giữ nguyên quyết định của Bản án dân s thẩm số 15/2026/DS-ST, ngày
24/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk.
Áp dụng: Khoản 5 Điều 474, khoản 1 Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005;
các Điều 464, 466 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 và khoản
1 Điu 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường
vụ Quc hội quy đnh về mức thu, min, giảm, thu, nộp qun lý và sử dụng án phí l
p Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Q.
Buộc vợ chồng Hoàng Thị L và ông Dương Văn T phải trả cho bà Lê Thị Q
số tiền nợ gốc 415.500.000 đồng và tiền lãi 333.673.000 đồng, tổng cộng cả
gốc và lãi 749.173.000 đồng (bảy trăm bốn mươi chín triệu một trăm bảy mươi ba
nghìn đồng).
5
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự thẩm: Ông Dương Văn T Hoàng Thị L phải chịu
33.967.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Lê Thị Q không phải chịu án phí và được nhận lại stiền tạm ứng án phí đã
nộp là 14.754.000 đồng theo Biên lai thu số 0004727 ngày 21/11/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dương Văn T bà Hoàng Thị L, mỗi
người phải chịu 300.000 đồng án pdân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng theo Biên lai thu số 0003951 ngày 10/4/2026
tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân s thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật
Thi hành án dân s, thời hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân s.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 3 Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 3 Đắk Lắk;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trương Công Bình
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 339/2026/DS-PT Bản án số 339/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 339/2026/DS-PT Bản án số 339/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất