Bản án số 97/2026/DS-PT ngày 10/07/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 97/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 97/2026/DS-PT ngày 10/07/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 97/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đăng C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 97/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 7 - 2026.
V/v: Tranh chấp quyền sử
dụng đất, yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng
đất và công nhận quyền s
dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Văn Giang.
Bà: Lê Thị Hồng Phương.
- Thư phiên tòa: Lao Thị Hồng Hoài - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Lương
Dương Tùng Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 10 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 41/2026/TLPT-DS ngày 21
tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 08/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 82/2026/QĐ-PT ngày
01 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1962. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Nay là
tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng C, sinh năm 1948. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Nay là
tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lưu Bình D -
Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
2
Địa chỉ: Số A, ngõ E, đường X, tổ B, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị C1, sinh năm 1970. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Nay là
tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên).
3.2. Bà Đỗ Thị S, sinh năm 1956. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Nay là
tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên).
3.3. Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1952. Có mặt.
3.4. Bà Trần Lệ H, sinh năm 1955. Có mặt.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
(Nay là tổ dân phố C, phường P, tỉnh Thái Nguyên). Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố
T, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
3.5. UBND phường P, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Việt H1, chức vụ: Chủ tịch UBND
phường P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
Đại diện theo uquyền: Ông Nguyễn Thành H2, chức vụ: Trưởng phòng
Kinh tế, Hạ tầng đô thị phường P. (Văn bản ủy quyền cử người tham gia tố
tụng số 1547/UBND - VP ngày 25/12/2025 của UBND phường P, tỉnh Thái
Nguyên. Vắng mặt.
4. Người làm chứng: Anh Phạm Xuân P, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (N là tổ
dân phố Đ, phường P, tỉnh Thái Nguyên)
5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đăng C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và qtrình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Gia đình ông và gia đình ông Nguyễn Đăng C người cùng xóm, gần
nhà nhau. Thửa đất 458, tờ bản đsố 12 (115), diện tích 112m
2
, hiện nay đang
tranh chấp với gia đình ông Nguyễn Đăng C nguồn gốc do vợ chồng ông
Hoàng Văn T1 Trần Lệ H (anh trai chị dâu của ông), khi nhận chuyển
nhượng đất của T2 vào năm 1984 thì được T2 bàn giao luôn cho thêm
thửa đất ở giáp rìa suối lúc đó diện tích còn nhỏ, đang bỏ hoang. Sau đó mông
bà K (bà K nay đã chết) cùng vợ chồng ông T1 đã cải tạo, khai hoang mở
rộng thửa đất để trồng rau. Từ thời điểm 1984 đến nay khi vợ chồng ông T1
mẹ đẻ ông, sau đó vợ chồng ông vẫn sử dụng, cải tạo mảnh đất liên tục, ổn
định. Từ khi bắt đầu sử dụng mảnh đất đó đến nay không ai đến tranh chấp
gì, ngoài gia đình ông sử dụng cải tạo mở rộng thửa đất thì không ai đến sử
dụng thửa đất. Đến năm 1989 thì vợ chồng ông được mẹ đẻ là bà K và vợ chồng
anh trai ông T1, H cho vợ chồng ông sử dụng thửa đất. Vợ chồng ông đã
3
sử dụng ổn định, liên tục thửa đất đó từ năm 1989 đến nay không tranh chấp
với ai, mọi người dân khu vực xung quanh thửa đất đều biết việc này. Đến
năm 2019 khi gia đình ông đi khai làm bìa đỏ các thửa đất cấp sót thì phát
hiện thửa đất 458 của gia đình ông đã cấp cho gia đình ông Nguyễn Đăng C. Gia
đình ông không hiểu sao vợ chồng ông C lại được cấp thửa đất 458, từ
trước đến nay chưa bao giờ gia đình ông C sử dụng thửa đất đó, trong khi gia
đình ông đã sử dụng cải tạo thửa đất từ năm 1984 đến nay, gia đình ông C cũng
chưa bao giờ ý kiến gì, hay xảy ra tranh chấp với gia đình ông về việc gia
đình ông sdụng thửa đất. Khi làm thủ tục cấp bìa đỏ thửa đất cho ông C cũng
không thấy quan nhà nước hỏi ý kiến gia đình ông, trong khi gia đình ông
vẫn đang sử dụng thửa đất, toàn bộ cây trồng trên thửa đất đều của gia đình ông.
Không thấy quan thẩm quyền đến kiểm tra hiện trạng thửa đất, hỏi ý kiến
các hộ dân khu vực thửa đất hay yêu cầu xác nhận giáp ranh của các hộ
liền kề. Khi phát hiện gia đình ông C được cấp bìa đỏ thửa đất 458, ông đến
gặp ông C hỏi thì ông C cho biết do cán bộ địa chính cấp nhầm, nhưng sau đó
ông C lại thay đổi nói trước đây gia đình ông C cho mẹ đẻ ông mượn thửa đất
đó.
Nay ông yêu cầu Toà án xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng
thửa đất 458 đã cấp cho ông C công nhận quyền sử dụng thửa đất 458 cho
ông và vợ ông là bà Lê Thị C1.
Bị đơn ông Nguyễn Đăng C trình bày:
Gia đình ông gia đình ông Hoàng Văn T, Thị C1 người cùng
xóm, ở gần nhà nhau. Thửa đất 458, tờ bản đồ số 12 (115), diện tích 112m
2
, mục
đích sử dụng đất đất trồng cây lâu năm tuy nhiên địa chính làm sai nên
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi mục đích sử dụng đất trồng lúa.
Thực tế thửa đất đó bỏ hoang, bãi cao ven suối, từ trước đến nay chưa bao
giờ trồng lúa. Nguồn gốc thửa đất 458 hiện nay đang tranh chấp với gia đình ông
T do bố mẹ ông khai hoang được từ sau năm 1954. Đến năm 1976 ông đi
bộ đội về được bố mẹ ông cho thửa đất trên. Đến năm 1980 ông cho K là mẹ
đẻ ông T mượn sử dụng (việc ông cho K mượn thửa đất chỉ nói bằng miệng,
không tài liệu chứng cứ gì), K sử dụng thửa đất trồng rau nhưng không
được, sau đó gia đình ông T chuyển sang trồng bạch đàn, thời điểm đó các bên
không xảy ra tranh chấp gì. Đến năm 2015 khi nhà nước chủ trương cấp đất
sót cho người dân ông đã làm đơn khai được UBND huyện P cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 458. Thời điểm làm thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa 458 một mình ông đến UBND xã Đ để làm thủ tục
khai, thời điểm đó làm thủ tục cán bộ địa chính không đến thực địa thửa đất
căn cứ trên bản đồ địa chính để làm thtục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng thửa đất cho ông. Bản thân ông xác nhận ông chỉ đến UBND xã Đ khai
còn mọi thủ tục khác ông không được tham gia do cán bộ địa chính Đ
xã Đ phối hợp với nhau để làm thủ tục cấp bìa đỏ cho gia đình ông.
Đến năm 2022 ông yêu cầu gia đình ông T thu hoạch cây trồng trên đất trả
lại mặt bằng thửa đất cho gia đình ông thì hai bên mới xảy ra tranh chấp. Gia
4
đình ông T không chặt cây bạch đàn, không trả lại thửa đất cho gia đình ông.
Sau đó ông T làm đơn khởi kiện ông.
Quan điểm của ông thửa đất 458 của gia đình ông, gia đình ông đã
được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc gia đình ông T s
dụng thửa đất do ông cho gia đình ông T mượn sử dụng từ năm 1980, ông T
không có giấy tờ gì thể hiện thửa đất của gia đình ông T. Nay ông cũng muốn
giải quyết sự việc bằng tình cảm, không muốn kiện tụng gì nên nếu ông T đồng
ý bàn giao trả lại thửa đất cho ông thì ông đồng ý hỗ trợ cho gia đình ông T 20
triệu đồng tiền công sức cải tạo sử dụng thửa đất từ năm 1980 đến nay đgiữ
mối quan hệ đoàn kết gia đình, làng xóm. Nếu gia đình ông T không đồng ý thì
ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo Luật đất đai, theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Đăng C đơn yêu cầu
phản tố cho rằng việc ông T khởi kiện ông về việc tranh chấp quyền sử dụng
thửa đất số 458 lý, ông yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được quyền s
dụng thửa đất số 458.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T1 Trần
Lệ H trình bày:
Thửa đất 458, tờ bản đồ số 12 (115), diện tích 112m
2
, hiện nay đang tranh
chấp giữa gia đình ông Hoàng Văn T với gia đình ông Nguyễn Đăng C có nguồn
gốc của vợ chồng ông bà, khi vợ chồng ông nhận chuyển nhượng đất của
T2 vào năm 1984 thì được T2 bàn giao luôn cho thêm thửa đất giáp rìa
suối lúc đó diện tích còn nhỏ, đang bỏ hoang cho vợ chồng ông sử dụng (vào
thời điểm năm 1984 khi T2 bán đất cho vợ chồng thì T2 cũng khoảng
60 tuổi, sau đó T2 chuyển đi đâu cũng không biết). Sau đó, đến năm 1986
mẹ đẻ ông T1 là bà K đến ở cùng vợ chồng ông bà thì vợ chồng ông bà và mẹ đã
cùng cải tạo, khai hoang mở rộng thửa đất để trồng rau. Sau đó, đến năm 1989
vợ chồng ông mẹ đã cho vợ chồng ông T sử dụng canh tác mảnh đất đó.
Từ thời điểm 1984 đến nay khi vợ chồng ông msử dụng thửa đất sau đó
đến vợ chồng ông T sử dụng không ai tranh chấp gì, gia đình ông C cũng
không ý kiến gì. Bản thân ông cũng chưa bao giờ thấy gia đình ông C sử
dụng mảnh đất. Nay ông được biết gia đình ông C được cấp bìa đỏ mảnh đất
của gia đình ông rất bất ngờ ngạc nhiên, không hiểu sao ông C lại được
cấp bìa đỏ mảnh đất của gia đình ông bà.
Với tư cách là người liên quan trong vụ án, biết rõ nguồn gốc và quá trình
sử dụng thửa đất 458, vợ chồng ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết công
nhận quyền sử dụng hợp pháp thửa đất 458 cho vợ chồng ông Hoàng Văn T,
Thị C1 đồng thời hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 458 đã cấp
cho ông Nguyễn Đăng C và bà Đỗ Thị S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị S trình bày: thống
nhất ý kiến quan điểm với chồng ông Nguyễn Đăng C, yêu cầu gia đình
ông T trả lại thửa đất 458 cho vchồng bà vợ chồng đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 458.
5
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị C1 trình bày: Gia
đình và gia đình ông Nguyễn Đăng C người cùng xóm, gần nhà nhau.
Thửa đất 458, tờ bản đồ số 12 (115), diện tích 112m
2
, hiện nay đang tranh chấp
với gia đình ông Nguyễn Đăng C nguồn gốc do vợ chồng ông Hoàng Văn T1
Trần Lệ H (anh trai chị dâu của ông T) cho vợ chồng sdụng t
năm 1989, lúc đó diện tích còn nhỏ, sau đó gia đình đã cải tạo, khai hoang
mở ruộng thửa đất để trồng rau. Từ thời điểm 1984 đến nay khi vợ chồng ông
T1 và mẹ chồng sử dụng thửa đất sau đó đến vợ chồng sdụng không ai
tranh chấp gì, ngoài gia đình sử dụng cải tạo mrộng thửa đất không ai
đến sử dụng thửa đất. Vợ chồng sdụng thửa đất trồng rau nhưng không
được sau đó trồng cây bạch đàn. Vợ chồng đã sử dụng ổn định, liên tục thửa
đất từ năm 1989 đến nay không tranh chấp với ai, mọi người dân khu vực
xung quanh thửa đất đều biết việc này. Đến năm 2019 khi gia đình đi kê khai
làm bìa đỏ các thửa đất cấp sót thì phát hiện thửa đất 458 của gia đình đã cấp
cho gia đình ông Nguyễn Đăng C. Gia đình bà không hiểu vì sao lại cấp thửa đất
458 cho gia đình ông C vì từ trước đến nay chưa bao giờ gia đình ông C sử dụng
thửa đất đó, trong khi gia đình đã sử dụng cải tạo thửa đất từ năm 1984 đến
nay, gia đình ông C cũng chưa bao giờ có ý kiến gì, hay xảy ra tranh chấp gì với
gia đình bà về việc gia đình bà sử dụng thửa đất. Khi làm thủ tục cấp bìa đỏ thửa
đất cho gia đình ông C cũng không thấy cơ quan nhà nước hỏi ý kiến gì gia đình
bà, trong khi gia đình vẫn đang sử dụng thửa đất, toàn bộ cây trồng trên đất
đều của gia đình bà. Không thấy quan có thẩm quyền đến kiểm tra hiện trạng
thửa đất, hỏi ý kiến các hộ dân khu vực thửa đất hay yêu cầu xác nhận
giáp ranh của các hộ liền kề.
Nay yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng cho ông Nguyễn
Đăng C đối với thửa đất 458 theo yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng n T
chồng bà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường P trình bày:
Sau khi nhận được văn bản của Toà án, UBND phường P đã giao cho
quan chuyên môn tiến hành kiểm tra hồ sơ, đối chiếu với quy định Luật đất đai
tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đăng C
xóm Đ, Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay TDP Đ, phường P, tỉnh Thái
Nguyên) tại thửa đất số 458, tờ bản đồ số 12(115), diện tích 112m
2
, đất trồng
lúa, thời hạn sử dụng: Đến ngày 01/7/2064. Nay UBND phường P phúc đáp một
số nội dung sau:
Tại Khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013 ghi: “2. Hộ gia đình,
nhân đang sử dụng đất không các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật
này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004
không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận
đất không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi
tiết xây dựng đô thị, quy hoạch y dựng điểm dân nông thôn đã được
quan nhà nước thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã quy hoạch thì được
6
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất”.
Tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05
năm 2014 của Chính Phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai
ghi: “Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định: 1. Sử dụng đất ổn
định việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời
điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất hoặc
đến thời điểm quyết định thu hồi đất của quan nhà nước thẩm quyền đối
với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà quyền sdụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền shữu nhà i sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung
Giấy chứng nhận).”
Tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013 ghi: 2. Nhà nước
thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây: “d) Giấy chứng
nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không
đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng
đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của
pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực
hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy
định của pháp luật đất đai.”
Tại Điểm d Khoản 2 Điều 152 Luật đất đai năm 2024 ghi: 2. Nhà nước
thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:“d) Giấy chứng
nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không
đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng
đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của
pháp luật đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận;”
Căn cứ các quy định trên đây, đối chiếu với tài liệu chứng cứ trong hồ
vụ án, lời khai trình bày với Toà án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên của
các bên đương sự, người làm chứng t thấy việc cấp GCNQSDĐ cho ông
Nguyễn Đăng C và Đỗ Thị S tại thửa đất số 458, tờ bản đồ số 12(115), diện
tích 112m
2
, đất trồng lúa, thời hạn sử dụng: Đến 01/7/2064 là chưa đảm bảo quy
định của pháp Luật đất đai năm 2013 do cấp sai nguồn gốc đất (Nguồn gốc theo
ghi nhận không phải do HTX chia năm 1993), tại thời điểm năm 1993 ông
Nguyễn Đăng C Đỗ Thị S không canh tác sử dụng tại thửa đất trên, thuộc
trường hợp thu hồi chứng nhận quyền sử dụng đất tại Điểm d Khoản 2 Điều 106
của Luật đất đai năm 2013 và Đ d Khoản 2 Điều 152 Luật đất đai năm 2024.
Người làm chứng anh Phạm Xuân P trình bày:
Anh cháu ruột của ông Nguyễn Đăng C (mẹ đẻ anh em gái ruột của
ông C), cùng tổ dân phố với gia đình ông C và gia đình ông T. Hiện nay trong
gia đình ông C chỉ có vợ chồng ông Nguyễn Đăng C và bà Đỗ Thị S ở với nhau,
không ở với người con nào, các con ông C đều ở riêng và ở nơi khác hết.
7
Thửa đất đang tranh chấp giữa gia đình ông T vợ chồng ông C liền
kề với thửa đất của gia đình anh, từ trước đến nay anh chỉ thấy vợ chồng ông T,
C1 làm, trồng cây trên thửa đất, chưa khi nào thấy gia đình ông C sử dụng.
Anh thấy toàn bộ người dân khu vực gần thửa đất cũng đều khẳng định thửa
đất đang tranh chấp giữa ông T ông C thửa đất của ông T, bà C1. địa
phương anh thấy ông C thường đi tranh chấp đất với người dân trong đó cả
đất của gia đình anh, ông C thấy mảnh đất của ai lâu không sử dụng nhận đất
của mình rồi m cách khai để cấp bìa đỏ, thực tế không phải đất của ông C.
Việc ông C cho rằng thửa đất đang tranh chấp với ông T có nguồn gốc là do ông
ngoại anh khai phá từ năm 1976 cho gia đình bà K mẹ ông T mượn đất
không đúng, mẹ anh T3 sdụng mảnh đất liền đó từ năm 1980, sau đó
đến năm 1994 anh bố anh trồng y cừ cây bạch đàn trên thửa đất
(cây cừ hiện nay vẫn còn trên thửa đất của gia đình anh), nếu mảnh đất đó
của ông ngoại anh tại sao không để cho mẹ anh sử dụng cả mảnh đất đó
lại cho bà K mẹ ông T sử dụng một phần, thực tế mảnh đất của gia đình anh
cũng rất nhỏ, không lớn, còn thửa đất gia đình ông T sử dụng cũng chỉ khoảng
hơn 100m
2
. Nếu như thực tế toàn bộ mảnh đất của ông ngoại anh tchắc
chắn sẽ để cho mẹ anh T3 sử dụng hết, không bao giờ để cho gia đình ông
T mượn sử dụng. Anh khẳng định mảnh đất gia đình ông T, bà C1 sử dụng là đất
của gia đình ông T, C1 không phải của ông C. Gia đình anh sinh sống gần
khu vực thửa đất, từ khi anh sinh ra đến nay chưa bao giờ anh thấy ông C sử
dụng mảnh đất đó, khi gia đình ông T sử dụng thửa đất trên cũng chưa khi nào
thấy vợ chồng ông C đến tranh chấp quyền sử dụng đất với gia đình ông T.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và
tiến hành đo đạc theo chỉ dẫn của các bên đương sự xác định vị trí, ranh giới,
diện tích đất tranh chấp. Các đương sự nhất trí với kết quả đo đạc và định giá tài
sản. Theo kết quả đo đạc theo chỉ dẫn của các đương skhi tiến hành xem xét
thẩm định tại chỗ cụ thể như sau:
Phần diện tích đất tranh chấp giữa ông T ông C thuộc thửa đất số 458,
tờ bản đồ số 12 (115), diện tích 112 m
2
. Trên thửa đất gia đình ông T trồng cây
bạch đàn, thời điểm thẩm định trên thửa đất chỉ còn 7 cây bạch đàn đã chết.
Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi mục đích sử dụng đất là trồng lúa
tuy nhiên trên thực tế mảnh đất nằm vị tkhông thuận lợi để trồng lúa. Tại
biên bản xác minh của Tòa án tại UBND phường P thể hiện thửa đất số 458, tờ
bản đồ số 12 (115), diện tích 112m
2
mục đích sử dụng là đất nông nghiệp. Vị
trí của thửa đất như sau: Một cạnh tiếp giáp với thửa đất của Công ty cổ phần N,
thửa đất của công ty cổ phần N ở vị trí cao hơn, có ranh giới rõ ràng với thửa đất
458. Một cạnh tiếp giáp với suối nước, một cạnh tiếp giáp với thửa đất của anh
Phạm Xuân P đang sử dụng, một cạnh tiếp giáp với đất của ông D1, L. Ranh
giới giữa thửa đất 458 với phần diện tích đất của gia đình anh Phạm Xuân P
không ràng. Các bên đương sự đều xác nhận hình dạng, ranh giới, diện tích
hiện trạng của thửa đất 458 giống hình dạng, kích thước, ranh giới của thửa đất
trên bản đồ địa chính đề nghị xác định theo ranh giới trên bản đồ địa chính.
8
Ngoài ra, các bên đương sự đều thống nhất giá trị của thửa đất 458 giá
78.000 đồng/1 m
2
.
Tại bản án dân sự thẩm số: 08/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 34, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều
146, Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 166,
203 Luật đất đai năm 2013 (nay Điều 26, Điều 236 Luật đất đai năm 2024);
Luật người cao tuổi; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn T:
- Huỷ giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BY675739, số vào sổ cấp
GCN 4213/QSDĐ/3843/QĐ – UBND do UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp
ngày 16/4/2015 mang tên ông Nguyễn Đăng C Đỗ Thị S đối với thửa đất
số 458, tờ bản đồ số 12 (115), diện tích 112m
2
, mục đích sử dụng: Đất trồng lúa
nước.
- Công nhận cho ông Hoàng Văn T Thị C1 được quyền sử dụng
hợp pháp thửa đất số 458, tờ bản đồ số 12 (115), diện tích 112m
2
, mục đích sử
dụng: Đất nông nghiệp. Vị trí thửa đất thuộc tổ dân phố Đ, phường P, tỉnh Thái
Nguyên.
2. Căn cứ bản án, quyết định đã hiệu lực pháp luật của Toà án ông
Hoàng Văn T và bà Thị C1 có trách nhiệm kê khai đề nghị cơ quan nhà nước
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 458,
tờ bản đồ số 12 (115), diện ch 112m
2
, mục đích sdụng: Đất nông nghiệp,
thuộc tổ dân phố Đ, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
3. Về lệ phí, chi phí tố tụng: Lệ phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo
đạc bằng máy định giá tài sản hết 11.200.000đ (Mười một triệu hai trăm
nghìn đồng). Do yêu cầu của ông T được chấp nhận nên ông C phải chịu toàn bộ
lệ phí, chi phí tố tụng theo quy định tại Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Ông T đã nộp đủ số tiền trên nên ông C phải trách nhiệm thanh toán cho
ông T số tiền 11.200.000đ (Mười một triệu hai trăm nghìn đồng) theo quy định.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026, bị đơn ông Nguyễn Đăng C kháng cáo toàn
bộ bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không nhất trí với kháng cáo
của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
9
- Bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo đnghị Toà án cấp phúc thẩm sửa
bản án thẩm với do Tòa án cấp thẩm xét xử không đúng, không khách
quan. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết công nhận thửa đất số 458 cho
bị đơn.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn là đúng trình tự thủ tục pháp luật
quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn vì không có căn cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên toà, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo
đúng quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu
vực 2 - Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp
thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp, người tham gia ttụng, tiến hành thu thập, tiếp cận, công khai chứng cứ,
hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm đúng theo các quy định của pháp luật nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đỗ Thị S, UBND phường P, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà mặc
đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng
không ý kiến gì, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị
Hội đồng xét xtiếp tục xét xvụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng những người
vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đã lời khai, bản tự khai,
lời trình bày trong hồ của vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng
đến việc giải quyết, xét xử của Toà án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296
của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn
Đăng C, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn T, Hội đồng xét xử phúc
thẩm thấy rằng, các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, lời khai của các
đương sự, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết quả
xem xét, thẩm định tại chỗ ý kiến của quan nhà nước thẩm quyền đều
đủ căn cứ xác định gia đình ông Hoàng Văn T, Thị C1 đã trực tiếp
10
quản lý, sdụng ổn định, liên tục thửa đất số 458, tbản đồ số 12 (115), diện
tích 112m² từ năm 1984 đến nay. Trên thực tế, gia đình ông T đã trồng cây và
quản sử dụng đất công khai, liên tục, không tranh chấp, trong khi gia đình
ông Nguyễn Đăng C không trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất này.
Lời khai của ông Hoàng Văn T1, Trần Lệ H và người làm chứng anh
Phạm Xuân P đều phù hợp với quá trình sử dụng đất thực tế của gia đình ông T,
đồng thời phù hợp với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, thể hiện trên đất vẫn
còn tài sản của gia đình ông T. Do đó, đủ sở xác định thửa đất đang tranh
chấp thuộc quyền quản lý, sdụng thực tế của ông Hoàng Văn T và Thị
C1.
[2.2] Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn Đăng C và bà Đỗ Thị S vào năm 2015, Hội đồng xét xử nhận thấy hồ sơ
cấp giấy chứng nhận không bảo đảm theo quy định pháp luật. Cụ thể, cơ quan có
thẩm quyền không tiến hành xác minh thực địa, không kiểm tra hiện trạng sử
dụng đất, không xác định đúng nguồn gốc đất, không lấy ý kiến của người đang
trực tiếp sử dụng đất các hộ liền kề; việc lấy ý kiến khu dân lại được thực
hiện tại địa bàn không phải nơi thửa đất. Bên cạnh đó, nguồn gốc đất được
ghi nhận trong hồ do Hợp tác giao năm 1993 nhưng không phợp với
các tài liệu, lời khai và quá trình sử dụng đất thực tế đã được chứng minh trong
quá trình giải quyết vụ án.
Bản thân ông Nguyễn Đăng C cũng thừa nhận khi thực hiện thủ tục cấp
giấy chứng nhận chỉ tkhai tại UBND xã, quan chuyên môn không tiến
hành kiểm tra thực tế thửa đất. Đồng thời, tại Công văn số 174/UBND-
KTHT&ĐT ngày 22/01/2026, UBND phường P cũng xác định việc cấp giấy
chứng nhận cho ông C, S là không đúng nguồn gốc đất, không đúng đối
tượng sử dụng đất thuộc trường hợp phải thu hồi theo điểm d khoản 2 Điều
106 Luật Đất đai năm 2013 và điểm d khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.
Như vậy, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn
Đăng C Đỗ Thị S không bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều
70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, dẫn đến xác định sai nguồn gốc đất và sai đối
tượng sử dụng đất.
Phần trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn
như đã phân tích ở trên, do đó không có căn cứ để chấp nhận.
Như vậy, với những nhận định nêu trên đủ căn cứ xác định yêu cầu
khởi kiện của ông Hoàng Văn T là căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều
166, Điều 170, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, nên cần chấp nhận
yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Đăng
C và Đỗ Thị S đối với thửa đất s458, đồng thời công nhận quyền sử dụng
đất cho ông Hoàng Văn T bà Thị C1 như bản án thẩm đã tuyên
căn cứ pháp luật.
[2.3] Đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Đăng C, Hội đồng xét x
thấy rằng nội dung yêu cầu chỉ thể hiện việc không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
11
của nguyên đơn và cho rằng thửa đất thuộc quyền sử dụng của mình. Tòa án cấp
thẩm nhận định đây chỉ là ý kiến, yêu cầu phản bác của ông C, không phải là
phản tố theo quy định tại Điều 200 của Bộ luật tố tụng Dân sự căn cứ pháp
luật.
Như vậy, Toà án cấp thẩm đã xem xét, nhận định đầy đủ, toàn diện,
khách quan toàn bộ các chứng cứ đgiải quyết vụ án theo quy định của pháp
luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ
mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo căn cứ pháp luật. Do vậy, yêu cầu
kháng cáo của bị đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, cần
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí:
Yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm
chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp
luật theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn người cao tuổi nên được
miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đăng C.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 08/2026/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho
bị đơn ông Nguyễn Đăng C.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự thẩm không kháng cáo,
không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
12
- TAND khu vực 2 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Phòng THA khu vực 2 - Thái Nguyên;
- THA Dân sự tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
Hoàng Anh Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 97/2026/DS-PT Bản án số 97/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất