Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT ngày 23/07/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT ngày 23/07/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 15/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Đỗ Xuân T ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn với bà Đinh Thị Thu H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH NINH BÌNH
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp T do Hnh phúc
Bn án số: 15/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 23 - 7 - 2026
V/v ly hôn, tranh chp chia
tài sn khi ly hôn
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH NINH BÌNH
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán Ch ta phiên tòa: bà Nguyn Th Phượng.
Các Thm phán:
+ Ông Trần Văn San;
+ Ông Nguyễn Đức Cnh.
- Thư phn tòa: Phan Th Hi Yến T ký Tòa án nn dân tỉnh Ninh
Bình.
- Đi din Vin kim sát nhân dân tnh Ninh Bình: Phm Th Thanh Mơ -
Kim sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23/7/2026 ti tr s Tòa án nhân dân tnh Ninh Bình xét x phúc thm
công khai v án hôn nhân gia đình thụ s 05/2026/TLPT-HNGĐ ngày
26/3/2026 v Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm s 04/2026/HNGĐ-ST ngày
06/02/2026 ca Tòa án nhân dân khu vc 4 Ninh Bình b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x phúc thm s 12/2026/QĐ-PT ngày
26/5/2026; Quyết định hoãn phiên toà phúc thm s 17/2026/QĐPT-DS ngày
24/6/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Đỗ Xuân T, sinh m 1968; Căn cước công dân số
************ cấp ngày 14/02/2023; địa chỉ: thôn Y, K, huyện Y, tỉnh Ninh
Bình; nay là xã Y, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)
2. Bị đơn: bà Đinh Thị Thu H, sinh năm 1972; Căn cước công dân số
************ cấp ngày 11/01/2017; địa chỉ: thôn Y, K, huyện Y, tỉnh Ninh
Bình; nay là xã Y, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân Y, tỉnh Ninh
Bình; địa chỉ: xã Y, tỉnh Ninh Bình.
*. Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân xã Y: ông Bùi Minh Đ
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y. Là người đại diện theo pháp luật. (Vắng mặt)
4. Người kháng cáo: ông Đỗ Xuân T (nguyên đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2023, trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn là ông Đỗ Xuân T trình bày:
Ông Đinh Thị Thu H được tự do tìm hiểu, đăng kết hôn tại Uỷ
ban nhân dân (sau đây viết tắt UBND) K vào ngày 31/12/1991. Năm 1999
ông đi nước ngoài là Cộng hoà Liên bang Đ, đến đầu năm 2023 ông về nước. Khi
ông về nước, vợ chồng đã xảy ra bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 7 năm 2023
bà H đã bỏ nhà đi, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay ông xác định
tình cảm vợ chồng không còn, ông đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn
với bà H.
Về con chung: ông H có hai con chung, cụ thể là cháu Đỗ Thị Thùy D,
sinh ngày 14/9/1992 cháu Đỗ Thị Thùy D1, sinh ngày 01/10/1998. Hiện nay
các cháu đã trưởng thành lập gia đình nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: H yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là nhà
mái bằng 02 tầng, công trình phụ và đất thuộc thửa đất số 3330, tờ bản đồ số P9,
diện tích 160m
2
đất tại thôn Y, K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Đất đã được
UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt
GCNQSDĐ) ngày 21/6/1996 mang tên ông Đỗ Văn T1, ông có ý kiến như sau:
Về đất là tài sản riêng của ông vì tài sản có từ trước khi ông và H kết hôn
với nhau. Khoảng tháng 6, tháng 7 năm 1991, khi ông đi học tại Trường K,
Nội thì nhà bố đẻ ông Đỗ Nguyên Q, đại diện cho ông đxin cấp đất bố
ông đã đăng ký cho ông đứng tên thửa đất này, số tiền nộp lệ phí thời điểm đó
1.400.000 đồng. Ông đã cung cấp chứng cứ là xác nhận của ông Văn L (cán
bộ ruộng đất), ông Lã Khắc S (nguyên Chủ tịch xã K) đã xác nhận nguồn gốc đất
cho ông. Đến tháng 10 năm 1992 khi giao đất thì ông Hoàng Văn V, ông Đỗ
Văn M người được đo đất cùng thời điểm với ông. Đến năm 1996 Nhà nước
cấp GCNQSDĐ mang tên ông là Đỗ Văn T1. Đến năm 1997 bà H mới nhập khẩu
về xã K. Ông đã cung cấp sổ hộ khẩu cho Tòa án. Ngoài các tài liệu chứng cứ trên
ông không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác. Về GCNQSDĐ (bản gốc) ông T1
đang quản lý đã có đính chính tại mục những thay đổi sau khi cấp GCNQSDĐ
ghi tên Đỗ Văn T1 có sai sót nay điều chỉnh lại tên là Đỗ Xuân T.
Về nhà trên đất là tài sản chung của vợ chồng. Sau khi kết hôn ông và bà H
sống chung cùng nhà với bố mẹ ông thôn Y, K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
Đến năm 1992 ông được Nhà nước giao đất là thửa đất hiện nay đang tranh chấp.
Đến đầu năm 1993 bố mẹ ông có xây dựng nhà cấp 4 cho ông, sau đó ông đưa bà
H và con gái là cháu D về đây ở trên căn nhà cấp 4 này. Đến năm 2013 thì ông
bà H thống nhất thuê người phá dỡ căn nhà cấp 4 để xây dựng nhà mái bằng hiện
nay. Tại thời điểm xây dựng, giá căn nhà 700.000.000 đồng, nguồn tiền xây
dựng căn nhà này do ông đi lao động bên nước Đ gửi tiền về. Ông đi nước ngoài
từ năm 1999 đến đầu năm 2023 ông về nước. Bà H nhà đã sử dụng tiền ông gửi
về để làm nhà. Hình thức gửi tiền thông qua bạn đối tác làm ăn nước ngoài
khi họ về Việt Nam thì đưa cho bà H. Còn bà H ở nhà không làm gì, không tham
gia sản xuất, không đi làm xí nghiệp nên không có thu nhập.
Khoảng năm 2006 đến năm 2008, ông nghe mẹ ông nói H ở nhà còn lừa
bắt mẹ ông phải đi vay Ngân hàng 500.000.000 đồng để đưa cho bà ấy, còn bà ấy
làm gì ông không biết. Tháng 11 năm 2021 H nói đi mthận yêu cầu ông
gửi tiền về nên ông đã gửi về cho bà H 3000 euro (tiền Đ) nhưng đến nay ông xác
minh không sự việc bà H đi mổ thận nên ông cho rằng H đã lừa ông, ông
yêu cầu bà H phải trả cho ông số tiền này. Ông Thủy cung cấp P siêu âm của
H ngày 18/4/2021 tại Phòng khám Đ1.
Ông xác định đất là tài sản riêng của ông, ông không đồng ý phân chia, còn
phần nhà thì ông đồng ý chia theo pháp luật. Theo ông là khi xây dựng nhà năm
2013 700.000.000 đồng, đến nay nhà xuống cấp trầm trọng nên ông xác định
giá trị 400.000.000 đồng. Trước đây ông khai khi bà H bỏ nhà đi còn cầm
tiền mặt khoảng 1.600.000.000 đồng nhưng ông không cung cấp được tài liệu
chứng cứ về vấn đề này nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: không có, ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, bà Đinh Thị Thu H trình
bày:
ông Đỗ Xuân T đăng kết hôn ngày 31/12/1991 tại UBND K.
Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc. Đầu năm 1999 ông T đi nước ngoài,
đến tháng 01 năm 2023 mới về nước. Khi ông T về nước, giữa bà và ông T đã xảy
ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, bà và ông T đã sống ly
thân từ tháng 7 năm 2023 và không ai quan tâm đến ai. Nay ông T có đơn ly hôn,
bà đồng ý ly hôn với ông T.
Về con chung: ông T hai con chung cháu Đỗ Thị Thùy D, sinh
ngày 14/9/1992; cháu Đỗ Thị Thùy D1, sinh ngày 01/10/1998. Hiện nay các cháu
đã trưởng thành, lập gia đình nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: bà đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng gồm: nhà mái
bằng 02 tầng và công trình phụ trên thửa đất số 3330, thuộc tờ bản đồ số P9, diện
tích 160m
2
đất tại thôn Y, K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình do UBND huyện Y
cấp ngày 21/6/1996 đứng tên ông Đỗ Văn T1 và các tài sản sinh hoạt đồ dùng nội
thất trong gia đình gồm tủ, giường, bàn ghế, tranh, các vật trang trí nội thất...
Ngày 08/4/2025, H đơn xin rút một phần yêu cầu chia tài sản, không
đề nghị phân chia với đối với các tài sản đồ dùng sinh hoạt nội thất trong gia đình
chỉ đề nghị Toà án phân chia tài sản chung của vợ chồng nhà đất. trình
bày: sau khi bà ông T1 kết hôn, về chung sống cùng với bố mẹ ông T1 tại thôn
Y. Sau đó vợ chồng đã làm đơn xin cấp đất. Đến năm 1993, vợ chồng được
cấp đất theo diện giãn dân thửa đất hiện nay, gia đình bà phải nộp số tiền
1.500.000 đồng, đối tượng ưu tiên cho những người kết hôn đã con. Đầu
năm 1994, vợ chồng xây dựng 03 gian nhà cấp 4 trên diện tích đất này, tổng
diện tích khoảng 35, còn lại là để làm sân và vườn. Khi làm căn nhà cấp 4, bố m
hai bên gia đình hỗ trợ. Đến năm 1996 Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Vì vậy bìa đỏ
ghi tên ĐVăn T1. Đến năm 1999 ông T1 đi nước ngoài ở Cộng hòa Liên bang
Đ bằng hình thức du lịch, sau đó ông T1 ở lại nước Đ làm việc với hy vọng sang
nước ngoài để giúp vợ chồng kiếm được thu nhập tốt nênđồng ý cho ông T1
đi nước ngoài. Sau khi ông T1 sang Đức, bà hoàn toàn bị vỡ mộng khi 11 năm
ông T1 không hề gửi tiền về để trả nợ, nuôi con. được ông T1 giải thích do
ông không giấy tờ hợp pháp nên phải vào trại tị nạn 11 năm nên không thể
kiếm tiền gửi về. Đến năm 2010, khi cháu D đỗ Đại học năm thứ nhất, ông T1
mới bắt đầu gửi tiền về có tháng tháng không nhưng cân đối chi tiêu, ưu
tiên các khoản cho các con mà thành quả sau này là các con đỗ đạt, công ăn việc
làm ổn định. Đến năm 2013 căn nhà cấp 4 xuống cấp, có bàn với ông T1 phá
đi để xây nhà mới 2 tầng hiện nay. Khi xây dựng nhà, bố đẻ bà cho 700.000.000
đồng. Ông T1 lúc đó nước ngoài gửi tiền về cho nhưng không đáng kể.
Việc ông T1 khai toàn bộ tiền làm nhà do ông T1 gửi tiền về không đúng.
Đến tháng 1 năm 2023 ông T1 mới về Việt Nam.
Việc ông T1 đòi bà trả 3000 Euro do tháng 11 năm 2021 ông T1 có gửi tiền
cho thông qua con gái (cháu D1) em trai bà: không chấp nhận trả
trước đây ông T1 không gửi tiền vcho bà; nhà một mình phải lo nhiều công
việc trong gia đình, làm nhà, lo học hành công việc cho con, lúc đó bà bị ốm đau
nhiều bệnh trong người nên bà bảo ông T1 phải gửi tiền. Số tiền 3000 Euro tương
ứng lúc đó là 75.000.000 đồng. Hiện nay số tiền đó cũng không còn. 24 năm ông
T1 đi nước ngoài, một mình nhà phải đảm nhiệm rất nhiều trọng trách lo toan
công việc nội ngoại hai bên gia đình, phụng dưỡng bố mẹ chồng, nuôi hai con
trưởng thành đều học Đại học và công ăn việc làm ổn định nhưng ông T1 đã
không tôn trọng những hy sinh chịu đựng của n xỉ nhục đổi cho
nhiều chuyện xấu nên là không thể gắn bó với ông T1 được. Bà xác định nhà đất
tại thửa 3330 tại thôn Y 1 tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, bà đồng ý
giao nhà đất cho ông T1 sở hữu sử dụng ông T1 trách nhiệm thanh toán tiền
cho bà theo quy định của pháp luật. Đối với phần tài sản nằm ngoài GCNQSDĐ
các cây lưu niên trồng trên đất bà không đề nghị phân chia. Đối với việc ông
T1 khai sau khi bỏ nhà ra đi nói cầm số tiền 1.600.000.000 đồng là không
đúng sự thật.
Quá trình giải quyết vụ án, UBND xã Y có quan điểm:
Qua xem xét hiện trạng sdụng đất làm việc với hộ gia đình, tại thời điểm
xây dựng, người dân chưa nắm rõ mốc giới thửa đất, không đề nghị UBND xã K
(cũ) xác định ranh giới thửa đất, dẫn đến việc xây dựng vượt phạm vi cho phép
ngoài ý muốn. Nhằm bảo đảm ổn định trật tự tại địa phương, UBND đề nghị
giữ nguyên hiện trạng các công trình đã xây dựng; đồng thời yêu cầu hộ gia đình
không được xây dựng mới, không cơi nới, mở rộng thêm bất kỳ hạng mục nào
trên phần diện tích đất thuộc đất lưu không đường giao thông thực hiện quản
lý, sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật. UBND Y đề nghị Tòa án
xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
*. Tại Chứng thư thẩm định giá số 435/2025/0571 ngày 12/9/2025 của Công
ty cổ phần T2 thể hiện: giá trị quyền sử dụng đất 23.151.000 đồng/m
2
x 160m
2
=
3.704.160.000 đồng; giá trị căn n2 tầng: 446.898.905 đồng; tường bao trị giá
2.824.903 đồng; sân: 7.229.884 đồng. Tổng cộng: 4.161.113.692 đồng.
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 04/2026/HNGĐ-ST ngày
06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình đã quyết định:
Căn cứ Điều 33, 56 Luật Hôn nhân Gia đình. Khoản 4 Điều 147, Điều
157, Điều 165, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Nghị quyết 01/2024 ngày
16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Chấp nhận đơn yêu
cầu ly hôn của ông Đỗ Xuân T. Xử ly hôn giữa ông T và bà H. Quan hệ hôn nhân
của ông T và bà H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Chấp nhận
yêu cầu phân chia tài sản chung của H cụ thể: giao cho ông T được quyền s
dụng diện tích đất 160m
2
đất thuộc thửa đất số 3330, hiện đã được UBND huyện
Y cấp GCNQSDĐ ngày 21/6/1996 mang tên Đỗ Văn T1 và sở hữu nhà mái bằng
02 tầng công trình xây dựng gắn liền với đất nằm trên phần đất được cấp
GCNQSDĐ. Ông T1 trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho H
số tiền 2.080.557.000 đồng. Đình chỉ giải quyết phần yêu cầu chia tài sản của
H đối với toàn bộ cây cối trên đất, đồ dùng sinh hoạt nội thất trong nhà phần
tài sản nằm ngoài diện tích đất được cấp GCNQSDĐ. Ngoài ra bản án còn quyết
định về án phí, về quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 23/02/2026, ông T1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần chia
tài sản khi ly hôn. Lý do kháng cáo: ông không nhất trí việc Toà án xác định đất
là tài sản chung của vchồng. Ông đã bằng chứng xác nhận về nguồn gốc
đất cụ thể là xác nhận của ông Lã Khắc S (nguyên Chủ tịch UBND xã K) và ông
Văn L (nguyên cán bđịa chính K) ông đã nộp cho Toà án. GCNQSDĐ
mang tên riêng cá nhân ông. Về phần bà H không có hộ khẩu tại nơi cấp giao đất
tại thời điểm 1993. H cũng không được chia ruộng đất đcanh tác. Đề nghị
cấp phúc thẩm xem xét giải quyết xác định phần đất ở là tài sản riêng của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm: ông T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến như sau:
trong quá trình giải quyết ván giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư phiên tòa những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1. Giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số 04/2026/HN-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4
- Ninh Bình. Về án phí dân sphúc thẩm: ông T1 phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng.
[1.1] Đơn kháng cáo của ông T1 làm trong thời hạn pháp luật quy định
đúng hình thức, nội dung nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên toà, H vắng mặt nhưng có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
UBND Y là người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập
hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 296 Bộ luật
Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vụ án theo quy định của pháp
luật.
[1.3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm.
Ông T1 kháng cáo cho rằng quyền sử dụng 160m
2
đất tại thửa 3330 tài sản
riêng của ông, không phải tài sản chung của vợ chồng. Căn cứ quy định tại Điều
293 của Bộ luật Tố tụng dân sự về phạm vi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử
phúc thẩm xem xét một phần bản án sơ thẩm theo yêu cầu kháng cáo của ông T1.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Xuân T.
[2.1] Quá trình giải quyết tại Toà án cấp thẩm, ông T H đã thống
nhất tài sản chung của vợ chồng gồm:
Giá trị căn nhà 2 tầng: 446.898.905 đồng; tường bao 786.943 đồng +
2.037.960 đồng = 2.824.903 đồng; sân: 7.229.884 đồng; tổng cộng là:
456.953.692 đồng, làm tròn là 456.954.000 đồng.
[2.2] Về tài sản chung của vợ chồng chưa thống nhất, Hội đồng xét xử xét
thấy:
Về quyền sử dụng đất diện tích 160m
2
tại thửa đất số 3330 tờ bản đồ số
P9, là thửa đất số 253, tờ bản đồ số 33, bản đồ địa chính xã K lập năm 2023; nay
thửa đất số 253, tờ bản đồ số 64 bản đồ địa chính Y; địa chỉ thửa đất: thôn
Y, Y, tỉnh Ninh Bình (sau đây viết tắt thửa đất số 3330). Thửa đất trị giá
3.704.160.000 đồng.
Về nguồn gốc thửa đất:
Tại trích lục bản đồ địa chính xã K lập năm 1996 thể hiện: thửa đất số 3330,
tờ bản đồ số P9, diện tích 160m
2
đất mang tên “Thủy”.
Tại trích lục bản đồ địa chính xã K lập năm 2023 thể hiện: thửa đất số 253,
tờ bản đồ số 33 (nay tờ bản đồ số 64, Y), diện tích 160m
2
đất mang tên
“Thúy”.
Tại trích sổ địa chính K lập năm 1996 thể hiện: thửa 3330, diện tích 160m
2
đất ở mang tên Đỗ Văn T1.
Tại trích smục kê đất đai K lập năm 2023 thể hiện thửa đất số 253, tờ
bản đồ số 33 mang tên ông Đỗ Văn T1.
Tại GCNQSDĐ do UBND huyện Y, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 21/6/1996 thể
hiện thửa đất s3330, diện tích 160m
2
đất ở mang tên ông Đỗ Văn T1 (được đính
chính lại là ông Đỗ Xuân T).
Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ: quá trình giải quyết vụ án, UBND huyện Y, tỉnh
Ninh Bình; UBND Y, tỉnh Ninh Bình; Chi nhánh Văn phòng Đ2, Văn phòng
Đ3 và các đương sự đều không cung cấp được hồ sơ cấp GCNQSDĐ nêu trên.
Tại Biên bản xác minh ngày 13/11/2025 thể hiện: bản đồ địa chính năm 1985
K là thửa đất số 565 nằm trong tổng diện tích đất 739m
2
đất lúa mầu do UBND
xã K quản lý. Năm 1993 không có bản đồ địa chính.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T trình bày bố mẹ ông đã nộp lệ phí đất
1.400.000 đồng nhưng ông T không có tài liệu chứng minh. H trình bày năm
1993, ông T làm đơn xin được cấp đất mua đất với số tiền 1.500.000
đồng nhưng H cũng không tài liệu chứng minh. Không đương snào
cung cấp được biên lai thu tiền đất và quyết định giao đất của UBND huyện Y.
Ông T cho rằng GCNQSDĐ mang tên riêng nhân ông; cùng thời điểm
ông được giao đất có ông V, ông M; sau khi được cấp đất thì H mới nhập khẩu
về nhà ông, bà H không được chia ruộng đất để canh tác; ông Vũ Văn L (nguyên
cán bộ địa chính xã K), ông Khắc S (nguyên Chủ tịch UBND K) đã xác
nhận nguồn gốc đất là cấp cho ông nên ông T xác định thửa đất s3330 là tài sản
riêng của ông, không phải là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, ông Vũ Văn
L (nguyên cán bộ địa chính xã) ông Khắc S (nguyên Chủ tịch UBND xã)
không xác nhận nội dung đất được cấp cho riêng ông T hay vợ chồng ông T. Ông
L chỉ xác nhận đã giao đất cho ông ĐXuân T 160m
2
đất theo quyết định giao
đất của cấp thẩm quyền. Ông S xác nhận cấp đất năm 1991 để làm nở.
Ngoài ra, ông T không cung cấp được bất kỳ tài liệu nào khác chứng minh đất
được cấp riêng cho ông, không cung cấp được Biên bản giao đất của cơ quan N
nước có thẩm quyền.
Thửa đất số 3330 không phải tài sản ông T được thừa kế riêng, ông T
không được tặng cho riêng, không thông qua giao dịch bằng tài sản riêng nên
không phải là tài sản riêng của ông T. Năm 1991, ông Tbà H đăng ký kết hôn.
Ông T xác nhận Nhà nước giao đất cho ông vào tháng 10 năm 1992. Đến ngày
21/6/1996 UBND huyện Y, tỉnh Ninh Bình cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số
3330, thuộc trường hợp Nhà nước cấp quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân,
tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Ông T không căn cứ để chứng
minh quyền sử dụng 160m
2
đất ở tại thửa đất số 3330 là tài sản riêng của ông T.
Căn cứ Điều 33 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xác định quyền
sử dụng 160m
2
đất tại thửa đất số 3330 mà vợ, chồng ông T H được trong
thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.
Hội đồng xét xử xác định tài sản chung của ông T, bà H bao gồm:
3.704.160.000 đồng (giá trị thửa đất số 3330) + 456.954.000 đồng (tài sản
trên đất) = 4.161.114.000 đồng.
Toà án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 3330 là tài sản chung của ông T và
H, xác định ông T, H đóng góp như nhau vào khối tài sản chung vợ chồng
nên chia đôi tài sản chung của vợ chồng, mỗi người được hưởng 2.080.557.000
đồng (4.161.114.000 đồng/2); giao cho ông T thửa đất số 3330 và tài sản gắn liền
với đất là nhà 2 tầng, tường, sân nằm trong diện tích 160m
2
đất ở, ông T có trách
nhiệm thanh toán chênh lệch về tài sản cho H số tiền 2.080.557.000 đồng
đúng pháp luật.
[3] Như vậy, các lý do kháng cáo của ông T là không có căn cứ. Từ những
nhận định trên, xét thấy: tại phiên toà phúc thẩm, phía ông T không xuất trình tài
liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó,
Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông T; giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
[4] Những phần của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm, ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm nên hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí dân sphúc thẩm: do u cầu kháng o của ông T không đưc chp
nhận n ông T phi chu án phí n s pc thm theo quy định của pp lut.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Xuân T.
2. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 04/2026/HNGĐ-ST
ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Đỗ Xuân T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng
được trừ vào stiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000942 ngày 05/3/2026 của Thi hành án dân
sự tỉnh Ninh Bình. Ông Đỗ Xuân T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân
sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
23/7/2026).
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Phòng Giám đốc, kiểm tra,
thanh tra và thi hành án;
- TAND khu vực 4 – Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Phòng THADS khu vực 4 - Ninh Bình;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, Tòa DS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất