Bản án số 485/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 485/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 485/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 485/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Dương Thị T, bà Dương Thị T1 kiện bà Phan Thị T2, ông Tô Văn V để đòi lại phần đất mà bà Phan Thị T2 đã nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị T4 và yêu cầu trả lại số tiền Nhà nước bồi thường về đất là 8.811.000 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 485/2026/DS-PT Bản án số 485/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 485/2026/DS-PT Bản án số 485/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 485/2026/DS-PT
Ngày: 16-7-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thúy Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 110/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 3
năm 2026, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 7 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 378/2026/QĐ-PT ngày 15 tháng 5
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Dương Thị T, sinh năm 1952; CCCD số ************
cấp ngày 21 tháng 8 năm 2022 Dương Thị T1, sinh năm 1954; CCCD số
************ cấp ngày 27 tháng 8 năm 2021; Cùng địa chỉ trú: Ấp T, V,
tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trang Văn X, sinh
năm 1954; CCCD số ************ cấp ngày 27 tháng 8 năm 2021; Địa chỉ
trú: ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật Nguyễn
Việt Q (có mặt); Địa chỉ: Văn phòng L1 Chi nhánh B2, Số D đường N, khóm B,
phường V, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Phan Thị T2, sinh năm 1963; Địa chtrú: p T, V, tỉnh
Cà Mau (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Văn V, sinh năm 1962; CCCD số ************ cấp ngày 02
tháng 7 năm 2021 (vắng mặt);
2. Bà Huỳnh Thị T3, sinh năm 1962 (vắng mặt);
3. Bà Trần Thị T4, sinh năm 1951 (xin vắng mặt);
4. Ông Lê Hồng D (vắng mặt);
5. Ông Phạm Thành T5 (vắng mặt);
6. Bà Nguyễn Hồng Y (vắng mặt);
7. Bà Phạm Hạnh N (vắng mặt);
8. Ông Phạm Hữu Đ (vắng mặt);
9. Ông Trang Văn X (có mặt);
10. Bà Phạm Thị L (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau.
11. Ông Phạm Thanh S (vắng mặt);
12. Bà Nguyễn Thị N1 (vắng mặt);
13. Bà Phạm Thị Út C (vắng mặt);
14. Bà Phạm Thị Út M (vắng mặt);
15. Bà Nguyễn Thị M1 (vắng mặt);
Không xác định được địa chỉ cư trú.
- Người kháng cáo:Dương Thị T; bà Dương Thị T1 (là nguyên đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của các bên đương sự kết quả xét xử sơ thẩm, vụ án
được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn Dương Thị T, Dương Thị T1 kin b đơn Phan Th
T2 để đòi lại phần đất din tích 216,1m
2
, thuc mt phn thửa đất s 83, t
bản đồ s 17, ta lc ti p T, V, tnh Cà Mau. Phần đất tranh chấp đang do vợ
chng bà Phan Th T2, ông Văn V qun lý, s dng ct nhà đất chưa được
cp giy chng nhn quyn s dng.
V ngun gốc đất theo nguyên đơn xác đnh ca ông Trang Văn T6 khai
phá và tng cho li cho bà Nguyn Th B vào năm 1974 (bà Nguyn Th B là thông
gia vi ông Trang Văn T6 m rut ca Dương Thị T, Dương Thị T1).
Nguyn Th B qun lý, s dụng đt ct nhà t khi được tặng cho và đã
đăng ký sử dụng đất (mục kê) vào năm 1983, được Hội đồng đăng ký đất đai xã M,
huyn V (c) cp Giy chng nhận khai đăng đất đai ngày 02/5/1983, ti
thửa đất s 71, din tích 800m
2
. Năm 1994, Nguyn Th B được Nhà nước ct
nhà tình nghĩa trên phần đất ca Dương Thị T1 (con ca Nguyn Th B),
phần đất ti tha s 71 được giao li cho Dương Thị T qun lý, s dụng. Năm
3
2000, do hoàn cảnh gia đình (chồng ca T chết) nên năm 2002 Dương Thị
Tuyết C1 đi nơi khác sinh sng, giao lại đất cho v chng Dương Thị T1, ông
Trang Văn X trông coi. Năm 2004, Trn Th T4 vào chiếm đất ri chuyn
nhưng mt phn cho Phan Th T2, mt phn cho con ca Trn Th T4
ông Hng D. T đó phát sinh tranh chấp cho đến nay. Dương Thị T, bà
Dương Thị T1 kin bà Phan Th T2, ông Tô Văn V để đòi lại phần đt mà bà Phan
Th T2 đã nhn chuyển nhượng t Trn Th T4 yêu cu tr li s tin Nhà
c bồi thường v đất là 8.811.000 đồng.
Phan Th T2 cho rng, ngày 11/10/2004 v chng nhn chuyn
nhưng ca Trn Th T4 phần đất ngang 10 mét, dài 13 mét vi giá chuyn
nhượng 11.000.000 đồng, đã được Trn Th T4 giao đất đã s dụng đất để
ct nhà cho đến nay. Năm 2009, Nhà nước m rng tuyến đưng C - N, đã thu
hi mt phn diện tích đất bồi thường cho v chng s tiền 8.810.000 đồng.
Do đất được nhn chuyển nhượng ca Trn Th T4 ch không phải đất ca
Nguyn Th B nên không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn.
Trn Th T4 xác định phần đất ngun gc ca các ông Trần Văn
N2, Trần Văn N3 (là bác ca Trn Th T4) khai phá tng cho lại bà. đã
cho ông Trang Văn T6 n, sau khi ông Trang Văn T6 tr lại đất thì tiếp tc
cho bà Nguyn Th B ợn đất để s dng và ct nhà t năm 1974. Khi gia đình
Nguyn Th B1 không còn s dụng đất tly lại đất tng cho con ca
ông Hng D mt phn chuyển nhượng mt phn cho v chng bà Phan Th
T2 nên bà không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn.
Ông Hng D thng nht ý kiến vi Trn Th T4; ông Văn V
thng nht ý kiến vi Phan Th Tuyết . Những người tham gia t tng còn li
không có ý kiến.
Tại bản án dân sự thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 7 Mau đã quyết định: Không chp nhn toàn b yêu cu
khi kin ca bà Dương Thị T, bà Dương Thị T1 v vic buc bà Phan Th T2, ông
Tô Văn V tr li phần đất 216,1m
2
và s tin 8.811.000 đồng.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo bản án theo luật định.
Ngày 10/10/2025, bà Dương Thị T, bà Dương Thị T1 kháng cáo yêu cầu sửa
án thẩm đchấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc
thẩm, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ
án; của Hội đồng xét xử những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, do căn cức xác định phần
đất tranh chấp thuộc quyền sdụng của Nguyễn Thị B nên đnghị Hội đồng
4
xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 Cà Mau theo hướng giao phần đất cho
vợ chồng bà Phan Thị T2 tiếp tục sử dụng và buộc vợ chồng bà Phan Thị T2 trả giá
trị đất cho Dương Thị T, Dương Thị T1 cùng với số tiền do Nhà nước bồi
thường về đất, điều chỉnh lại trách nhiệm chịu chi phí tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của Dương Thị T, Dương Thị T1 thực hiện trong hạn
luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về quan hệ pháp luật, nguyên đơn và bị đơn tranh chấp với nhau về
quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 216,1m
2
, tọa lạc tại ấp T, xã V, tỉnh Cà
Mau. Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật về tranh chấp quyền sử dụng
đất và áp dụng các qui định của Bộ luật dân sự, Luật đất đai để giải quyết là có căn
cứ.
[3] Xét về cách tham gia tố tụng, Dương Thị T, Dương Thị T1
con của Nguyễn Thị B cũng người thừa kế của Nguyễn Thị B (bà
Nguyễn Thị B chỉ 02 người con T T1). Dương Thị T, Dương
Thị T1 khởi kiện đòi lại phần đất do bà Nguyễn Thị B chết để lại nên việc xác định
Dương Thị T1, Dương Thị T nguyên đơn căn cứ đúng qui định
pháp luật.
[4] Xét về nguồn gốc đất, nội dung tranh chấp kháng cáo của nguyên
đơn:
[4.1] Nguồn gốc đất quá trình sử dụng đất, nguyên đơn cho rằng đất
của mẹ ruột (bà Nguyễn Thị B) được ông Trang Văn T6 (là thông gia) tng cho
vào năm 1974. Còn bị đơn và Trn Th T4 cho rng ngun gốc đất ca các
ông Trần Văn N2, Trần Văn N3 (là bác ca Trn Th T4) tng cho Trn Th
T4 trước năm 1975. Tuy nhiên, việc tặng cho đất theo trình bày của nguyên đơn và
Trn Th T4 thì ngoài ý kiến ca những người hiu biết s vic (ông Nguyn
Văn Q1, ông Ngô Hng Q2, ông Trn Thanh S1...) thì không tài liu, chng c
nào để chng minh.
Tuy nhiên, qua tng hp các ý kiến ca những người hiu biết s việc cũng
như xác định ca chính quyền địa phương thể hin ngun gc phần đất tranh chp
do ông Trần Văn N2 khai phá trước năm 1975, sau khi ông Trần Văn N2 chết thì
phần đất b trng, không ai s dụng. Sau đó, ông Trang Văn T6 vào qun lý, s
dụng đất được thi gian không lâu thì ông Trang Văn T6 cũng bỏ đi. Năm 1974, bà
Nguyn Th B vào qun lý, s dng phần đất. Sau năm 1994, phần đất được giao
li cho Dương Thị T (con bà B) s dụng đến năm 2002 bà Dương Thị Tuyết C1
ch đi nơi khác. Năm 2003, khi căn nhà ca Dương Th T b hỏng thì năm
5
2004 Trn Th T4 vào ly phần đất chuyển nhượng cho Phan Th T2 din
tích 130m
2
, phn còn li bà Trn Th T4 cho con là ông Lê Hng D.
[4.2] Theo b đơn bà Trn Th T4 xác định phần đất tranh chấp đất
ca Trn Th T4 đưc ông Trần Văn N2, ông Trần Văn N3 tặng cho đã
cho ông Trang Văn T6 ợn đất, sau khi ông Trang Văn T6 tr lại đất thì tiếp
tc cho bà Nguyn Th B ợn để . Tuy nhiên, việc được tặng cho đt vic
cho Nguyn Th B ợn đất thì b đơn cũng như Trn Th T4 đu không
cung cấp được bt c tài liu, chng c nào chng minh cho việc được tng cho
đất hay cho bà Nguyn Th B ợn đất ngoài ý kiến xác nhn ca ông Nguyn
Văn Q1, ông Ngô Hng Q2, ông Trn Thanh S1 (em rut Trn Th T4). Trong
khi đó, phía nguyên đơn cũng được rt nhiều người hiu biết s vic chính
quyền địa phương qua tng thi k xác nhận đất được Nguyn Th B qun lý,
s dng t năm 1974. Ngay c ông Ngô Hng Q2 cũng xác nhn phần đt do
Nguyn Th B chiếm s dng t năm 1974 sau khi ông Trang Văn T6 b đi, không
còn s dụng đất.
[4.3] Xét hồ đất đai thì phần đất tranh chấp chưa được quan Nhà
nước thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Hiện tại phần đất tranh
chấp được xác định tại thửa đất số 83, tờ bản đồ số 17 với diện tích tranh chấp
216,1m
2
. Theo sổ mục kê hiện tại ghi nhận diện tích đất tại thửa 83 tờ bản đồ số 17
do bà Huỳnh Thị T3 và ông Lê Văn V1 đứng tên kê khai với diện tích 293,4m
2
.
Từ năm 1974 phần đất do bà Nguyễn Thị B quản lý sử dụng, đến năm 1983
Nguyễn Thị B đăng đất đai diện tích 800m
2
được Hội đồng đăng đất
đai M, huyện V cấp Giấy chứng nhận kê khai đăng đất đai ngày 02/5/1983.
Năm 1993, Nguyễn Thị B tiếp tục khai đăng đất đai được ghi nhận
diện tích đăng 800m
2
; năm 1997, mục tại thửa đất này được ghi nhận người
đăng Nguyễn Thị T7 với diện tích 1.319m
2
(có sự xóa, sửa Tuyết thành T4
nhưng cơ quan quản lý đất đai không xác định lý do và nguyên nhân).
Từ những căn cứ trên đã xác định phần đất tranh chấp do Nguyễn Thị B
con B Dương Thị T đã quản lý, sử dụng đất từ năm 1974 cho đến năm
2004, đã đăng ký mục đất đai qua từng thời kỳ chính sách đất đai, sử dụng đất
ổn định, lâu dài. Còn đối với Trần Thị T4 không đăng ký, khai cũng không
sử dụng đất từ năm 1974 đến năm 2004 và hiện tại cũng không có đăng ký, kê khai
đối với phần đất đang tranh chấp.
Theo Công văn số: 683/CNVPĐKĐĐKV-HB ngày 02/6/2026 của Chi
nhánh Văn phòng Đ1 đã xác định Trần Thị T4 không đăng mục đối với
phần đất đang tranh chấp Trần Thị T4 chỉ đăng mục đất đai đối với
phần đất tại thửa đất số 459, tờ bản đồ số 04, địa chỉ ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau. Phần
đất này nằm phía Tây tuyến lộ Cầu S - N, còn phần đất tranh chấp nằm phía
Đông tuyến lộ C - N. Phần đất do bà Trần Thị T4 khai tại thửa 459 tờ bản đồ số
4 đã được cấp quyền sử dụng đất cho Trần Thị T4 cấp đổi lại vào năm 2006
6
tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 769166 ngày 23/10/2006. Từ hồ
đất đai này đã thể hiện Trần Thị T4 không việc khai, đăng đất đai đối
với phần đất đang tranh chấp phần đất tranh chấp do Nguyễn Thị Bkhai,
đăng sử dụng. Từ đó cũng thể hiện sự phù hợp với nội dung xác nhận của
ông Huỳnh Văn Q3, ông Trương Văn C2, Trương Thị T8 là những người công
tác quan nhà nước đã tham gia giải quyết mâu thuẫn giữa Nguyễn Thị B
với bà Trần Thị T4 vào năm 1976, theo nội dung xác nhận thì Nguyễn Thị B sử
dụng phần đất phía dưới lộ (giáp sông, phần đất đang tranh chấp) còn Trần
Thị T4 thì sử dụng phần đất phía trên lộ (là phần đất Trần Thị T4 được cấp
quyền sử dụng).
[4.4] Quá trình sử dụng đất đều được các bên đương sự thừa nhận phần
đất tranh chấp do Nguyễn Thị B quản lý, sử dụng từ năm 1974 cho đến năm
2004. Trong quá trình sử dụng đất thì bà Nguyễn Thị B có cất nhà ở và giao lại cho
con là bà Dương Thị Tuyết .1 Thời gian bà Dương Thị T sử dụng đất do hoàn cảnh
gia đình (chồng chết) nên chuyển đi nơi khác sinh sống giao đất lại cho vợ
chồng Dương Thị T1, ông Trang Văn X (là em ruột em rễ) trông coi. Ngay
tại thời điểm này, Trần Thị T4 vào chiếm đất đã chuyển nhượng một phần
diện tích đất (ngang 10 mét, dài 13 mét) cho vợ chồng bà Phan Thị T2, ông Tô Văn
V vào ngày 11/10/2004, phần còn lại bà Trần Thị T4 cho con là ông Lê Hồng D.
Theo nguyên đơn xác định việc tranh chấp xảy ra từ năm 2004 cho đến nay
nhưng theo tài liệu, chứng cứ thể hiện việc tranh chấp xảy ra từ năm 2009 khi Nhà
nước thu hồi đất để mở rộng lộ Cầu S - N. Thời gian này vợ chồng bà Phan Thị T2
chỉ cất nhà tạm đến năm 2012 mới xây dựng nhà kiên cố cho đến nay. Việc
chuyển nhượng đất giữa Trần Thị T4 với vợ chồng Phan Thị T2 chỉ thể hiện
giấy tay và phần đất chuyển nhượng chưa được cấp quyền sử dụng đất.
[5] Từ những sở trên cho thấy phần đất tranh chấp đã được Nguyễn
Thị B quản lý, sử dụng từ năm 1974 cho đến năm 2004, thời gian sử dụng đất được
xác định ổn định, lâu dài đã thực hiện việc khai, đăng đất đai qua nhiều
thời kỳ theo qui định của pháp luật vđất đai. Còn đối với Trần Thị T4 trước
năm 2004 không quản lý, sử dụng đất, không đăng ký, khai về đất đai
cũng không căn cứ xác định nguồn gốc đất được tặng cho, không chứng minh
được việc cho mượn đất nên không căn cứ để xác định phần đất tranh chấp
216,1m
2
, tọa lạc tại ấp T, V, tỉnh Mau thuộc quyền sdụng đất của Trần
Thị T4 việc Trần Thị T4 chuyển nhượng đất cho Phan Thị T2, ông
Văn V không đúng qui định của pháp luật. Từ đó, căn cứ buộc vợ chồng
Phan Thị T2, ông Tô Văn V trả lại đất cho bà Dương Thị T, bà Dương Thị T1 là có
căn cứ. Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn trong việc
yêu cầu Phan Thị T2, ông Văn V trả lại đất không bảo vệ được quyền lợi
chính đáng cho người sử dụng đất.
Tuy nhiên, phần diện tích đất Phan Thị Tuyết N4 chuyển nhượng
7
của Trần Thị T4 theo hợp đồng 130m
2
nhưng trên thực tế thì vợ chồng
Phan Thị T2 đang quản sử dụng phần diện tích đất tranh chấp 216,1m
2
phần không tranh chấp 91,1m
2
. Phần đất đang tranh chấp 216,1m
2
theo kết
quả thẩm định giá được các bên thống nhất giá trị 500.000.000 đồng. Ngoài
ra, trên đất đã được vợ chồng bà Phan Thị T2, ông Tô Văn V xây cất nhà ở kiên cố
từ năm 2012, xây dựng các công trình, nhà phụ trên đất đã được thẩm định
giá bằng số tiền 565.700.000 đồng. Xét thấy, phần đất tranh chấp đã được vợ
chồng Phan Thị T2 quản lý, sử dụng xây cất nhà ở. Từ đó, nhằm ổn định cuộc
sống cho gia đình Phan Thị T2 nên không buộc vợ chồng Phan Thị T2 giao
trả đất giao phần đất cho vợ chồng Phan Thị T2 tiếp tục sử dụng, Phan
Thị T2 ông Văn V trả lại giá trị của phần đất 216,1m
2
bằng 500.000.000
đồng cho bà Dương Thị T, bà Dương Thị T1 phù hợp.
Đồng thời, do phần đất được xác định thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn
và tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất để làm lộ giao thông thì các bên xảy ra tranh
chấp. Hội đồng bồi thường xác định gia đình bà Phan Thị T2 người đang s
dụng đất nên chi trả tiền bồi thường cho bà Phan Thị T2 bằng số tiền 8.811.000
đồng, số tiền này Phan Thị T2 thừa nhận. Tuy nhiên, thông qua phương án bồi
thường được phê duyệt thì số tiền Nhà nước bồi thường về giá trị đất bị thu hồi chỉ
2.713.620 đồng, số còn lại giá trị tài sản khác trên đất. Do vậy, buộc
Phan Thị T2, ông Văn V chịu trách nhiệm trả lại cho bà Dương Thị T,
Dương Thị T1 số tiền bồi thường giá trị đất bị thu hồi 2.713.620 đồng phù
hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn,
người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất yêu cầu vợ
chồng Phan Thị T2, ông Văn V trả lại giá trị đất tranh chấp bằng
500.000.000 đồng giá trị phần đất do Nhà nước bồi thường bằng 2.713.620
đồng.
[6] Từ các căn cứ đã phân tích trên, sở để chấp nhận kháng cáo của
Dương Thị T, bà Dương Thị T1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2025/DS-ST
ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cà Mau.
[7] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau phù
hợp, nên chấp nhận.
[8] Về chi phí tố tụng: Bao gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định
giá tài sản tranh chấp tổng cộng là 3.422.393 đồng, bà Dương Thị T, bà Dương Th
T1 đã nộp xong. Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Dương Thị T, Dương
Thị T1 nên buộc Phan Thị T2, ông Văn V trả lại chi phí tố tụng cho
Dương Thị T, bà Dương Thị T1.
[9] Đối với việc chuyển nhượng đất giữa Trần Thị T4 với Phan Thị
T2, quá trình giải quyết các bên xác định là không có ý kiến tranh chấp với nhau và
8
cũng không đặt ra yêu cầu. Do đó, giao cho Trần Thị T4 với Phan Thị Tuyết
T9 thỏa thuận với nhau trong việc chuyển nhượng đất, nếu không thỏa thuận được
và có tranh chấp thì các bên được quyền khởi kiện theo thủ tục chung.
[10] Phan Thị T2, ông Văn V người cao tuổi nên được miễn án
phí dân sự sơ thẩm theo qui định chung của pháp luật.
[11] Do yêu cầu kháng cáo của Dương Thị T, Dương Thị T1 được
chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị T, bà Dương Thị T1. Sửa bản
án dân sự thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 7 –Mau.
2. Căn cứ Điều 26, Điều 147, 148, 157, 165 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 165, 166, 180, 182, 183 của Bộ luật dân sự; các Điều 31, 45, 129, 131, 132,
236 của Luật đất đai Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị T, bà Dương Thị T1.
Giao cho Phan Thị T2, ông Văn V được tiếp tục quản lý, sử dụng
phần đất có diện tích 216,1m² tại thửa số 83, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp T, xã V,
tỉnh Mau. Vị trí phần đất được xác định tại thửa đất hiệu “g” Bản trích đo
hiện trạng lập ngày 06/6/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi trường
tỉnh B (nay tỉnh Mau), theo tứ cận sau: Cạnh giáp với kênh C - N, dài 10m;
Cạnh giáp với lộ nhựa Cầu S - N, dài 10m; Cạnh giáp với phần đất còn lại của
Phan Thị T2, ông Văn V, dài 21,50m; Cạnh giáp với đất ông Hồng D (thửa
82), dài 21,65m (Kèm theo bản án là Bản vẽ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất ngày
22 tháng 5 năm 2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và môi trường tỉnh B).
Phan Thị T2, ông Tô Văn V được quyền yêu cầu quan nhà nước cấp
thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định
chung khi có đủ điều kiện.
Buộc Phan Thị T2 ông Văn V trả cho Dương Thị T, Dương
Thị T1 giá trị phần đất 216,1m² bằng số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu
đồng).
Buộc Phan Thị T2, ông Văn V trả cho Dương Thị T, bà Dương
Thị T1 số tiền Nhà nước bồi thường do thu hồi đất là 2.713.620 đồng (hai triệu bảy
trăm mười ba ngàn sáu trăm hai mươi đồng).
Buộc Phan Thị T2, ông Tô Văn V nghĩa vụ hoàn trả chi phí tố tụng
9
(chi phí xem xét, thẩm định định giá tài sản) cho Dương Thị T, Dương
Thị T1 bằng số tiền là 3.422.393 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành
án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực
hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Miễn án phí dân sự thẩm cho Phan Thị T2, ông Văn V.
Dương Thị T, Dương Thị T1 không phải chịu án pdân sự thẩm phúc
thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 7 – Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 485/2026/DS-PT Bản án số 485/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 485/2026/DS-PT Bản án số 485/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất