Bản án số 602/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 602/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 602/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 602/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Hữu S - Lê Thị Phương T - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 602/2026/DS-PT Bản án số 602/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 602/2026/DS-PT Bản án số 602/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 602/2026/DS-PT
Ngày: 16-7-2026
V/v tranh chấp: “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Bà Nguyễn Thanh Nhàn
- Thư phiên a: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1000/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm
2025 về tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 111/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực T Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 276/2026/QĐ-PT ngày
08 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Hữu S, sinh năm 1966; Căn cước công dân số:
************.
Địa chỉ: Số C, ấp T, A, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ cũ: sC, ấp T, H,
huyện C, tỉnh Tiền Giang) Điện thoại: 0768.116.487.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Minh N, sinh năm 1999; Căn cước công
dân số: ************ (có mặt).
Địa chỉ: ấp Q, xã H, tỉnh Vĩnh Long; (Địa chỉ cũ: ấp Q, xã H, huyện V, tỉnh
Vĩnh Long); Điện thoại: 0395.918.694.
2
Chổ ở: Số B, đường L, Phường L, tỉnh Vĩnh Long; (Địa chỉ cũ: Số B, đường
L, Phường A, thành phố V, tnh Vĩnh Long).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Võ Tấn T
Văn phòng Luật sư Võ Tấn T thuộc Đoàn luật sư tỉnh V (có mặt)
Địa chỉ: Số B, đường L, Phường L, tỉnh Vĩnh Long; (Địa chỉ trước khi sắp
xếp: Số B, đường L, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long).
- Bị đơn: Chị Lê Thị Phương T1, sinh năm 1991 (có mặt);
Căn cước công dân số: ************.
Địa chỉ: sI, khóm P, P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ cũ: số I, khóm P, thị
trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp) Điện thoại: 0939.963.866.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Hà Đ, sinh năm 1982; Căn cước công
dân số: ************ (có mặt)
Địa chỉ: Khóm F, Phường C, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ cũ: Khóm F, phường
F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp) Điện thoại: 0902.740.077.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Tuấn K, sinh năm 1994; Căn cước công dân số: ************
(vắng mặt có đơn xin vắng mặt ngày 08/8/2025).
Địa chỉ: ấp T, P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ cũ: ấp T, A, huyện C, tỉnh
Đồng Tháp); Điện thoại: 0915.176.380.
2. Anh Phạm Quốc H, sinh năm 1986; Căn cước công dân số: ************
(vắng mặt có đơn xin vắng mặt ngày 09/8/2025).
Địa chỉ: ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ cũ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh
Đồng Tháp); Điện thoại: 0907.683.027
3. Ông Phạm Ngọc G, sinh năm 1965 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, tỉnh Đồng Tháp; (Địa chỉ cũ: Số A, ấp P, P,
huyện C, tỉnh Đồng Tháp) Điện thoại: 0364.738.768.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Hunh Hu S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thm;
Nguyên đơn Huỳnh Hữu S trình bày:
Ông Huỳnh Hữu S dượng 2 của chị Thị Phương T1 đthuận tiện cho
chị T1 giúp ông S thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất đai, ông S làm Hợp đồng
chuyển nhượng 03 thửa đất số 59, 356, 366 cho chị T1 (cụ thể Hợp đồng chuyển
nhượng thửa đất số 59 ngày 29/03/2023 giá chuyển nhượng300.000.000 đồng;
3
Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 356, 366 ngày 29/03/2023 g chuyển
nhượng là 700.000.000 đồng). Tổng số tiền 1.000.000.000 đồng ghi trong 02 Hợp
đồng chỉ là hợp thức, thực tế chị T1 không giao cho ông S tiền. Sau khi làm Hợp
đồng chuyển nhượng, ông S vẫn quản lý sử dụng các thửa 59, 356, 366, trên 03
thửa đất không công trình, còn cây trồng trên đất của con ông S (anh G đã
chết) trồng từ trước đó.
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án ông S xác định yêu
cầu vô hiệu 02 Hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 29/3/2023
đối với các thửa đất 59 đất tại: A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay P, tỉnh
Đồng Tháp) và thửa đất 356, 366 đất tại: P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay
P, tỉnh Đồng Tháp) do hai hợp đồng chuyển nhượng trên giả tạo không
chuyển nhượng thật trên thực tế.
Tại phiên tòa ngày 30/9/2025 ông S thay đổi ý kiến ông S yêu cầu hủy bỏ 02
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 29/3/2023 đối với các
thửa đất 59 đất tại: xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp)
thửa đất 356, 366 đất tại: xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay P, tỉnh Đồng
Tháp) do chị T1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo Hợp đồng chuyển nhượng.
Ông S xác định không yêu cầu xử hậu quả của việc hiệu hay hủy bỏ
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông S không tranh chấp, không ý
kiến, không yêu cầu đối với ông Phạm Ngọc G (người thuê thửa đất 356, 366
của ông S) trong vụ án này.
Bị đơn chị Lê Thị Phương T1 trình bày:
Chị T1 nhận chuyển nhượng 03 thửa đất số 59, 356, 366 của ông Huỳnh Hữu
S, giá chuyển nhượng 1.000.000.000 đồng (cụ thể: Hợp đồng chuyển nhượng
thửa đất số 59 ngày 29/03/2023 gchuyển nhượng 300.000.000 đồng; Hợp
đồng chuyển nhượng thửa đất số 356, 366 ngày 29/03/2023 giá chuyển nhượng là
700.000.000 đồng). Sau khi làm Hợp đồng chuyển nhượng thì ông S đã giao đất
cho chị T1 quản lý sử dụng cho đến nay, số tiền 1.000.000.000 đồng chị T1 cũng
đã giao cho ông S, nhưng nghĩ ông S là dượng, cháu sẽ không tranh chấp số tiền
này nên không làm Biên bản giao nhận tiền. Hiện nay 03 thửa đất này cho chị T1
quản lý sử dụng (thửa 59 chị T1 cho anh H thuê, thửa đất số 356, 366 chị T1 cho
anh K thuê), trên đất không có công trình kiến trúc, cây trồng trên đất có sẳn trước
khi chị T1 nhận chuyển nhượng 03 thửa đất nêu trên.
Chị T1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S. Chị T1 không
đồng ý hủy b 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày
29/3/2023 đối với các thửa đất 59 đất tại: xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là
P, tnh Đồng Tháp) thửa đất 356, 366 đất tại: P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp
(nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp).
Chị T1 không yêu cầu xử hậu quả trong trường hợp hiệu hay hủy bỏ
4
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Chị T1 không tranh chấp, không ý
kiến, không yêu cầu gì với anh K anh H (người thuê đất của chT1) trong vụ
án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tuấn K, Phạm Quốc H trình
bày:
Anh K thỏa thuận miệng thuê thửa đất số 356, 366 đất tại: xã P, huyện C, tỉnh
Đồng Tháp (nay P, tỉnh Đồng Tháp) anh H thỏa thuận miệng thuê thửa
đất 59 đất tại: A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay xã P, tỉnh Đồng Tháp) nhưng
không làm giấy tờ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc G trình bày:
Ông không thuê đất của ông S mà thuê của anh G con ông S. Khi anh G chết
do ông S cha của anh G nên ông G mới trình bày là thđất của ông S, ông G
không tranh chấp đối với việc thuê đất, không tranh chấp thửa đất số 356,
366, hiện nay thửa đất này ông G đã trả cho ch T1, do chị T1 nói đã nhận chuyển
nhượng của ông S. Khi ông G thuê của anh G (con ông S) tkhông làm giấy tờ
hết, đến đầu năm 2025 thì ông S kêu ông G làm giấy, tại thời điểm đó Tòa án
đã thụ lý vụ án rồi, ông S không biết nên mới ký tên.
Người làm chứng: Theo Biên bản ghi lời khai ngày 23/9/2025 anh Đào Tuấn
L trình bày anh L cập ranh thửa đất số 59 khi anh G còn sống tanh H canh tác
thửa đất, anh G chết anh H vẫn canh tác thửa đất, các cây chanh trên đất của anh
H trồng, anh L nghe nói việc chuyển nhượng thửa đất số 59 cho người bên chợ.
Anh L1 chỉ thấy ông S đến thửa đất 59 chỉ một lần vào ngày Tòa án xuống
xem xét, thẩm định, ngoài ra anh L1 không thấy ông S đến đất.
Tại bản án dân sthẩm số 111/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực T Đồng Tháp đã quyết định áp dng: Các Điều 5,
26, 35, 39, 147, 157, 158, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật sửa
đổi, bổ sung một sđiều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27, 133 Luật Đất
đai; Điều 398, 423, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, x:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh
Hữu S.
1.1. Không chấp nhận yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 29/03/2023 đối với thửa đất số 59 được chứng thực tại Ủy ban nhân
dân A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay xã P, tỉnh Đồng Tháp) giữa ông Huỳnh
Hữu S và chị Lê Th Phương T1.
5
1.2. Không chấp nhận yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 29/03/2023 đối với các thửa đất số 356, 366 được chứng thực tại
Ủy ban nhân dân P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay P, tỉnh Đồng Tháp)
giữa ông Huỳnh Hữu S và chị Lê Thị Phương T1.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của
các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 08/10/2025 nguyên đơn ông Huỳnh Hữu S đơn kháng cáo bản án
thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Hi đồng xét xử hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất các thửa 356, 366 thửa 59 giữa ông Huỳnh Hữu S với chị Thị
Phương T1 do chị T1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Huỳnh Hữu S trình
bày: Căn cứ hợp đồng chuyển nhượng kết ngày 29/3/2023 giữa ông Huỳnh Hữu
S chị Thị Phương T1, tại Điều 3 hợp đồng thể hiện giá chuyển nhượng 03
thửa đất 1.000.000.000 đồng, phương thức thanh toán: Tiền mặt. Sau khi hợp
đồng chuyển nhượng thì chị T1 chưa thanh toán số tiền chuyển nhượng cho ông S
vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên nhận chuyển nhượng. Do đó, ông S yêu
cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của ông Huỳnh Hữu S.
Đại diện ủy quyền của chị Thị Phương T1 trình bày: Các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được các bên kết ngày 29/3/2023 trên sở hoàn
toàn tự nguyện hợp đồng đã tuân thủ đúng qui định về hình thức, nội dung theo
quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật
Đất đai 2013. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng chị T1 đã thanh toán cho ông
S đủ số tiền 1.000.000.000 đồng, việc giao tiền thực hiện tại nhà chị T1. Như vậy
chị T1 đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông S, không vi phạm hơp đồng, nên
không có cơ sở hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Về tố
tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân
sự, kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng
theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất kết ngày
29/3/2023 giữa ông Huỳnh Hữu S và chị Lê Thị Phương T1 có ghi giá thỏa thuận
chuyển nhượng phương thức thanh toán tại Điều 2 của hợp đồng. Sau khi
hợp đồng chị T1 đã thanh toán xong số tiền chuyển nhượng cho ông S và làm thủ
6
tục đăng ký biến động. ChT1 đã nhận đất quản lý từ năm 2023 và được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng đến khi
tranh chấp hơn 02 năm ông S không có tranh chấp về s tiền chuyển nhượng. Tòa
án cấp thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn
cứ, ông S kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới. Đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông S, giữ nguyên bản án sơ
thẩm của Tòa án nhân dân khu vực T- Đồng Tháp.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, lời trình bày của các đương sự, Luật sư và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Hữu S thực hiện đúng quy
định theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn kháng cáo đúng quy định
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án
cấp thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất” theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đúng quy
định.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Hữu S yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Hữu S và chị Lê Thị Phương
T1 do chị T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán hợp đồng chuyển nhượng, xét thấy:
Các đương sđều trình bày thống nhất việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Huỳnh Hữu S với chị Thị Phương T1 xác lập vào ngày 29/03/2023.
Theo đó, các bên thỏa thuận ông S chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 366 diện
tích 2.068m
2
(đất trồng cây lâu năm); thửa 356 diện tích 4.367,8m
2
(đất nông
thôn) với giá chuyển nhượng 700.000.000 đồng; thửa đất số 59 diện tích 2.872,5
m
2
(đất trồng cây lâu năm) gchuyển nhượng 300.000.000 đồng. Việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa 59 được lập tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Đồng
Tháp. Còn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 366, thửa 356 được
chứng thực tại UBND P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (Theo số chứng thực 82,
quyển 01/2023_SCT/ HĐGD). Sau khi hợp đồng chuyển nhượng chị T1 đã
đăng ký biến động được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Huỳnh
Hữu S khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết
ngày 29/03/2023 giữa ông S chị T1 do chị T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán hợp
đồng chuyển nhượng số tiền 1.000.000.000 đồng. Phía chị T1 không đồng ý
7
cho rằng chị đã trả đủ cho ông S số tiền chuyển nhượng 1 tỷ đồng nhận đất canh
tác từ năm 2023 đến nay.
[2.2] Xét kháng cáo ông Huỳnh Hữu S, nhận thấy:
Căn cứ Điều 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày
29/03/2023 đối với thửa 366, 356 thể hiện thỏa thuận giá chuyển nhượng
700.000.000 đồng, phương thức thanh toán: tiền mặt.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng thửa 59 ngày 29/03/2023 tại Điều 2 hợp
đồng ghi thỏa thuận giá chuyển nhượng: 300.000.000 đồng; phương thức thanh
toán: một lần tiền mặt. Việc thanh toán số tiền nên tại Khoản 1 Điều này do hai
bên tự thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Xét ông S cho rằng hợp đồng chuyển nhượng ký ngày 29/3/2023 giả tạo
không sở, bởi lẽ; ông S không chứng minh được ngoài giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất các bên có xác lập giao dịch khác.
Xét ông Huỳnh Hữu S cho rằng sau khi hợp đồng chị T1 không giao trả
số tiền 1 tỷ đồng cho ông là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Chị T1 cho rằng chị đã
thanh toán, giao số tiền 1 tỷ đồng chuyển nhượng các thửa đất cho ông S. Số tiền
1 tỷ đồng giao sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng. Việc giao tiền tại nhà chị T1
không làm biên nhận (do 2 bên là quan hệ bà con). Phía đại diện ủy quyền của ông
S không thừa nhận việc ch T1 có giao trả số tiền 1 tỷ đồng cho ông S.
Xét thấy: Hợp đồng chuyển nhượng các thửa đất 59, 366, 356 nêu trên được
ông S, chị T1 kết trên sở tự nguyện không bép buộc, các bên đầy đ
năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được công chứng chứng thực theo quy định
pháp luật. Các bên thống nhất giá đã thỏa thuận chuyển nhượng như nêu trên. Chị
T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nhận đất quản s
dụng tlúc chuyển nhượng cho đến nay. Do đó, cần công nhận hiệu lực hợp đồng
chuyển nhượng thửa đất số 59, 366, 356. Tuy nhiên, việc thanh toán số tiền chuyển
nhượng 03 thửa đất, chT1 không có chứng cứ chứng minh mà phía ông S không
thừa nhận nên không cơ sở xác định chị T1 đã thực hiện việc giao trả tiền cho ông
S.
[3] Như phân tích trên, chị T1 không chứng minh được việc đã thanh toán số
tiền nhận chuyển nhượng cho ông S nên xác định nghĩa vụ thanh toán của bên
nhận chuyển nhượng theo giá chuyển nhượng thỏa thuận ghi trong hợp đồng
1.000.000.000 đồng. Do chị T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho ông S nên cần
buộc chị T1 có nghĩa vụ trả cho ông S số tiền 1.000.000.000 đồng và tiền lãi tính
trên số tiền 1.000.000.000 đồng tthời điểm hợp đồng ngày 29/3/2023 đến khi
xét xử là 647.400.000 đồng (39 tháng x 1.000.000.000 đồng x 1,66%).
Tòa án cấp thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông S và chị T1 có hiệu lực, không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của ông S phù hợp. Tuy nhiên, cấp thẩm không
8
buộc chị T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông S không phù hợp như đã
phân tích trên là không giải quyết triệt để nội dung vụ án.
[4] Xét ý kiến của bđơn cho rằng nguyên đơn chỉ yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có yêu cầu trả tiền chuyển nhượng đất
nên đnghị Hội đồng xét xử không xem xét. Xét thấy, nguyên đơn ông Huỳnh
Hữu S cho rằng bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền dẫn đến mục đích của hợp đồng
không đạt được nên yêu cầu hủy hợp đồng. Do vậy, việc xem xét bị đơn có thực
hiện nghĩa vụ trả tiền hay chưa nằm trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của ông Huỳnh Hữu S cơ sở một
phần nên chấp nhận một phần, Hội đng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm.
[5] Xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát căn cứ mt phần
nên được chấp nhận. Xét lời đnghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho nguyên đơn là có căn cứ mt phần nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Hữu S. Sửa bản
án sơ thẩm số 111/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực T
Đồng Tháp.
Căn cứ Điều 26, 27, 133 Luật Đất đai; Điều 398, 423, 500, 501, 502, 503 Bộ
luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên x:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hữu S.
1.1 Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 29/03/2023 đối với thửa đất số 59 được chứng thực tại Ủy ban nhân dân
A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay P, tỉnh Đồng Tháp) giữa ông Huỳnh
Hữu S và chị Lê Th Phương T1.
1.2 Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 29/03/2023 đối với các thửa đất số 356, 366 được chứng thực tại Ủy ban
nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp) giữa ông
Huỳnh Hữu S và chị Lê Thị Phương T1.
9
1.3 Buộc chị Thị Phương T1 nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Hữu S số tiền
1.000.000.000 đồng 647.400.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng 1.647.400.000 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự ơng ứng với
thời gian chậm thi hành án.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Hữu S phải chịu 800.000 đồng chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ. Số tiền ông Huỳnh Hữu S đã nộp tạm ứng 800.000 đồng
được trừ vào chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho ông Huỳnh Hữu S phải chịu
ng S đã nộp và chi xong).
3. Về án phí: Nguyên đơn ông Huỳnh Hữu S không phải chịu án phí phúc
thẩm.
Về án phí thẩm: Nguyên đơn Huỳnh Hữu S phải chịu 600.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm. Ông S đã tạm nộp 600.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu
số 0013834 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành
(nay Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp) nên xem nông S đã nộp xong án
phí. Trả lại cho ông Huỳnh Hữu S 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004243 ngày
10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn chị Lê Thị Phương T1 phải chịu 61.410.000 đồng án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực T Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diệp Thúy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 602/2026/DS-PT Bản án số 602/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 602/2026/DS-PT Bản án số 602/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất