Bản án số 1311/2026/DS-PT ngày 01/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1311/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1311/2026/DS-PT ngày 01/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1311/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác. Xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng hợp tác. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1311/2026/DS-PT Bản án số 1311/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1311/2026/DS-PT Bản án số 1311/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 1311/2026/DS-PT
Ngày: 01-7-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phn Hội đồng xét xử phúc thm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Vui
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Vũ Vân Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Lê Thị Vẹn
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Các ngày 24-6 01-7-2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1535/2025/TLPT-DS ngày
16-12-2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hợp tác”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 07-8-2025 của a án nhân
dân Khu vực 14 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 2486/2026/QĐ-PT ngày 16-4-2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc
thẩm số 7127/2026/QĐ-PT ngày 15-5-2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm
số 8875/2026/QĐ-PT ngày 10-6-2026, Quyết định thay đổi Thẩm phán tham gia Hội
đồng xét xử số 1535/2026/QĐ-TA ngày 24-6-2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số nhà E, đường
P, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường B, Thành phố Hồ Chí
Minh); Địa chỉ liên hệ: Số nhà B đường H, khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh
Rịa - Vũng Tàu (nay là ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Bị đơn: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số nhà B, đường H, khu
phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay ấp P, H, Thành phố H
Chí Minh).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Q ông Nguyễn Thanh
H2 Đoàn Luật Thành phố H; Địa chỉ: Số A T, phường T, Quận A, Thành phố
Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Ông Nguyễn Thế C, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số nhà B, đường H, khu phố P,
thị trấn P, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay ấp P, H, Thành phố Hồ Chí
Minh).
- Nguyễn Thị Kim H3, sinh năm 1980; Địa chỉ: A Chung cư A N, Phường
C, thành phố V, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Phạm Thị H4, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn P, huyện X,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ấp T, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ông Trần Minh H5, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số nhà A, đường số A, Phường
A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn Trần Thị Thu H
trình bày:
1. Về việc vay tiền:
Từ ngày 23-9-2021 đến ngày 22-11-2021, bà H cho H1 vay tổng số tiền
2.000.000.000 đồng trong 05 lần:
- Ngày 23-9-2021 cho vay số tiền 500.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận miệng
mức lãi suất 02%/tháng.
- Ngày 22-11-2021 cho vay s tiền 1.000.000.000 đồng, trong đó, lần đầu
500.000.000 đồng thì hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 01%/tháng lần sau
500.000.000 đồng thì hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 02%/tháng.
- Ngày 22-11-2021 cho vay số tiền 300.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận miệng
mức lãi suất 1,5%/tháng.
- cho vay số tiền 200.000.000 đồng, qua hình thức chuyển khoản, hai bên
thỏa thuận miệng mức lãi suất 02%/tháng.
Việc cho vay không thế chấp tài sản gì, cũng không ai chứng kiến, không thỏa
thuận thời hạn trả nợ khi nào H cần sẽ báo trước cho H1 một thời gian nhất
định.
Ngoài ra, bà H nhờ bà H1 vay Ngân hàng số tiền 500.000.000 đồng để góp
vào tiền hợp tác mua đất thì bà H tính trừ vào số tiền mà bà H1 vay của H.
Tổng số tiền nH1 đã trả cho H 590.850.000 đồng, trtrong 06 lần
(mỗi lần trả đều không giấy xác nhận). Cụ thể: Lần 1 trả 180.000.000 đồng tiền
mặt; Lần 2 trả 70.000.000 đồng tiền mặt; Lần 3 trả 99.500.000 đồng tiền mặt; Lần 4
trả 46.500.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào ngày 09-4-2022; Lần 5 tr
53.500.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào ngày 12-4-2022; Lần 6 trả
141.350.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào ngày 07-3-2022, sau khi trừ đi
số tiền liên quan đến việc hợp tác làm ăn, theo giao dịch số 3934.
3
2. Về việc hùn vốn mua đất chung:
Vào tháng 10-2021, hai bên hùn hạp góp tiền mua chung diện tích đất 2.644,9m
2
đất thuộc thửa số 153, tờ bản đồ 28 tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay
H, Thành phố Hồ Chí Minh), của ông Nguyễn T với giá 4.000.000.000 đồng,
mỗi bên góp một nửa. H1 để H đứng tên trên hợp đồng đặt cọc ngày 30-10-
2021 với giá nhận chuyển nhượng từ ông T là 3.990.000.000 đồng (chủ đất bớt cho
10.000.000 đồng). Đến ngày 30-11-2021, bà H và bà H1 thống nhất để ông Nguyễn
Thế C (chồng H1) đứng tên, vì bà H không đứng tên trên giấy tờ n được giao
bản chính sổ đỏ đất để quản lý từ tháng 01-2022. Bà H1 người quyết định toàn bộ
về việc chuyển nhượng đất, bà H chỉ góp tiền mua đất và được chia lợi nhuận, hai
chỉ hùn vốn mua chung thửa đất này, ngoài ra không mua chung thửa đất nào khác.
Việc hùn tiền mua đất chung này chỉ chồng H1 ông Nguyễn Thế C anh
trai bà H là ông Trần Minh H5 chứng kiến.
Ngày 04-3-2022, bà H1 có báo cho H biết qua tin nhắn về việc thỏa thuận
chuyển nhượng diện tích đất mua chung nói trên cho học trò của bà H1, theo đó, bán
hết phần của H, còn phần đất của H1 chừa lại 10m. Ngoài ra, H1 không
cung cấp cho H bất kỳ giấy tờ, thông tin nào khác liên quan đến việc mua bán
thửa đất trên. Đến ngày 07-3-2022, H1 chuyển nhượng được đất với g
110.000.000 đồng/mét ngang với tổng số tiền 5.717.300.000 đồng (đã trphí môi
giới) và chia đôi cho bà H. Theo như nội dung vi bằng tin nhắn giữa bà H với bà H1,
cùng ngày 04-3-2022, H1 chuyển khoản 06 lần cho H qua tài khoản Ngân hàng
với tổng số tiền 3.000.000.000 đồng, trong đó 2.000.000.000 đồng là tiền gốc mua
đất, 858.650.000 đồng là tiền lãi bán đất, 141.350.000 đồng còn lại để trả tiền nợ đã
vay nêu trên. Sau khi giao đủ tiền gốc và lãi từ việc hùn hạp mua bán đất, H1 yêu
cầu H giao lại sổ đỏ, nên trong ngày 07-3-2022, H đã trả lại sổ đỏ bản chính
cho H1 việc hợp tác giữa bà H H1 kết thúc. Sau ngày 07-3-2022 thì
H không đứng tên, không giao dịch gì liên quan đến thửa đất số 153, tờ bản đồ 28 tại
xã P, huyện X (nay là xã H, Thành phố H Chí Minh) nữa.
Đến tháng 12-2022, H1 mới nhắn tin báo cho H rằng khi bán đất thì
H1 thỏa thuận với người mua sẽ phủ hồng” thửa đất (tức chuyển đổi mục đích
sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở) nhưng nay không thực hiện được, nên
yêu cầu H cùng giải quyết các công việc như đo đạc lại đất, trả lại tiền cọc cho
người mua, bán đất cho người khác. H trả lời H1 qua tin nhắn bà H không
liên quan.
3. Đối với yêu cầu phản tố của bà H1 thì H không đồng ý, cụ thể: Bà H1 cho
rằng bà H1 giao cho bà H đo đạc đất để làm thủ tục phủ hồng là không đúng, do đó,
sau khi đã chấm dứt hợp tác làm ăn, H1 lãi hay lỗ từ việc mua bán đất, cũng
như việc H1 đã nhận được số tiền 5.171.300.000 đồng chưa, nhận từ ai bằng
hình thức nào thì bà H không biết, không liên quan. Về các vi bằng bà H1 nộp cho
4
Tòa án, H cho rằng các nội dung trao đổi đó liên quan đến việc giao nhận tiền
chuyển nhượng đất.
4. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H:
Ngày 26-4-2022, bà H và anh trai bà H là ông Trần Minh H5 có liên hệ và đến
nhà bà H1, ông C để yêu cầu trả số tiền vay còn lại. H có cho H1 thời gian đến
cuối tháng 12-2022 phải trả nợ cho H thì bà H1 đã thừa nhận nợ xin gia hạn
đến hết tháng giêng năm 2023 nhưng cho đến nay vẫn không thực hiện. Do đó, bà H
khởi kiện yêu cầu bà H1 phải trả số tiền vay là 859.000.000 đồng và không yêu cầu
tính lãi. Số tiền giao dịch với bà H1 là tiền riêng của cá nhân bà H và bà H hiện độc
thân.
Theo đơn phản tố quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị H1 những
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thống nhất trình bày:
1. Về việc vay mượn tiền:
Về số lần vay, số tiền vay, lãi suất vay thì bà H1 thống nhất với phần trình bày
của H. Khi vay, bà H1 viết n vào giấy mượn tiền, không thế chấp tài
sản, không hẹn thời hạn trả nợ, không còn ai khác chứng kiến. Ngoài ra, bà H nhờ
H1 vay Ngân hàng số tiền 500.000.000 đồng để góp vào tiền hợp tác mua đất thì
H1 cũng thống nhất tính trừ vào số tiền mà bà H1 vay của bà H. Như vậy, bà H1
nợ bà H tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng.
Ngày 07-3-2022, sau khi nhận được tiền đặt cọc đất từ bà Phạm Thị H4, bà H1
đã chuyển khoản tiền cọc đất tiền trả nợ cho H, cụ thể, H1 đã trả bà Hằng
số tiền 1.000.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 23-9-2021, chuyển vào số tài
khoản 101869829787 tại Ngân hàng V của chủ tài khoản Trần Thị Thu H theo
giao dịch số 3909 (số tiền 500.000.000 đồng, nội dung “NGUYEN THI HUE ck tien
dat”) giao dịch s3934 (số tiền 500.000.000 đồng, nội dung “NGUYEN THI
HUE chuyen khoan”). Về việc trả tiền vay nhưng ghi nội dung chuyển khoản “tiền
đất” là vì bà H1 ghi nhầm, bà H1 đã điện thoại báo cho bà H. Ngoài hai lần chuyển
khoản nêu trên, bà H1 còn trả số tiền nợ H thành nhiều lần khác, cụ thể: Chuyển
khoản 100.000.000 đồng ngày 15-3-2022, chuyển khoản 46.500.000 đồng ngày 09-
4-2022, chuyển khoản 53.500.000 đồng ngày 12-4-2022 theo ghi nhận tại tài khoản
của bà H1349.000.000 đồng tiền mặt theo sự thừa nhận ca bà H. Như vậy, tng
số tiền mà bà H1 đã chuyển khoản trả nợ cho H 1.549.500.000 đồng, trong đó,
H đã trả lại cho H1 số tiền 49.500.000 đồng lãi vay và các bên không tranh chấp
số tiền này. Bà H1 xác định đã trả xong toàn bộ số tiền vay của bà H.
Khi bà H1 trả đủ số nợ gốc nêu trên, bà H1 có yêu cầu bà H trả lại các giấy ghi
nợ bản chính nhưng H không trả, bà H1 nghĩ đã chuyển khoản ngân hàng nên
việc bà H có giữ giấy nợ bản chính cũng không còn quan trọng.
2. Về việc hùn vốn mua đất chung: Vào tháng 10-2021, bà H1 và bà H có hùn
tiền mua chung diện tích 2.644,9m
2
đất thuộc thửa số 153, tờ bản đồ 28 tại xã P,
5
huyện X, tỉnh Rịa - Vũng u (nay H, Thành phố Hồ Chí Minh) của ông
Nguyễn T với giá 4.000.000.000 đồng, mỗi bên góp một nửa, trong đó, bà H có nhờ
H1 vay Ngân hàng giúp 500.000.000 đồng. H1 H thống nhất để ông
Nguyễn Thế C (chồng H1) đứng n, sau đó H1 giao bản chính Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCN QSDĐ) cho bà H quản lý. H1
người toàn quyền quyết định việc chuyển nhượng đất cho bất kỳ ai, không cần báo
cho H biết, H chỉ người góp tiền mua đất được chia đôi lợi nhuận. Đến
ngày 07-3-2022, H1 chuyển nhượng hết đất cho bà Phạm Thị H4 với tổng số tiền
5.717.300.000 đồng (đã trừ phí môi giới), hai bên thỏa thuận điều kiện chuyển
nhượng chậm nhất đến cuối năm 2022, thửa đất phải được phủ hồng nên cùng
ngày, bà H4 đặt cọc cho H1 4.000.000.000 đồng và H1 chuyển khoản cho bà
Hằng số tiền 3.000.000.000 đồng, trong đó, 2.000.000.000 đồng chia đôi số tiền
cọc đất và 1.000.000.000 đồng còn lại đtrả nợ tiền vay như đã nêu trên. Tuy nhiên,
do thửa đất không phủ hồng được như thỏa thuận nên H4 đã yêu cầu hủy Hợp
đồng đặt cọc yêu cầu bà H1 trả lại số tiền 4.000.000.000 đồng, đến ngày 20-6-
2023, bà H1 đã trả đủ tiền mặt cho bà H4.
3. Về yêu cầu khởi kiện của bà H thì bà H1 không đồng ý:
Đối với số tiền 859.000.000 đồng mà H cho rằng khoản tiền vay yêu
cầu bà H1 trả thì bà H1 cho rằng đây là tiền lãi của việc bán đất nhưng đến nay giao
dịch không thành công, ông C vẫn người đứng tên trên giấy tờ quản lý sử dụng
thửa đất. Bà H1 đã điện thoại đề nghị H thực hiện thủ tục đo đạc đất để giao đất
cho người mua nhưng H không đồng ý. Trước khi trả tiền lại cho H4, H1
cũng có nhắn tin qua Zalo cho bà H để trao đổi tình hình và yêu cầu cùng tìm người
để bán thửa đất nhưng bà H không trả lời. Do đó, H1 đã tự quyết về việc bán lại
thửa đất cho bà Nguyễn ThKim H3 (là em gái bà H1) bằng giấy tờ tay với giá
3.000.000.000 đồng nhưng hiện nay cũng chưa làm thủ tục sang tên được cho H3.
H1 xác nhận, đoạn ghi âm ngày 26-4-2022 là trao đổi giữa vợ chồng H1,
ông C bà H, ông H5 (anh trai H), trong đó, bà H1 có nói về số tiền 870.000.000
đồng nhưng đây tiền lãi đất người mua đất chưa trả đủ cho H1 nên H1
chưa trả được cho bà H, không phải tiền vay nợ nH trình bày. Đồng thời, trước
đây, H1 có trao đổi qua tin nhắn với ông Trần Minh H5 anh trai H về số tiền
này.
H1 đồng ý Mảnh đo đạc hiện trạng sử dụng đất ngày 09-4-2025 Biên bản
định gtài sản ngày 10-4-2025 đối với thửa đất s153, tờ bản đồ 28 tại xã P, huyện
X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Bị đơn H1 có yêu cầu phản tố như sau:
Yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng diện tích 2.644,9m² đất thuộc thửa
số 153, tờ bản đồ 28 tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, Thành
phố Hồ CMinh) do ông Nguyễn Thế C đứng tên trên GCN QSDĐ, chia cho H1
6
và bà H mỗi người hưởng ½ diện tích đất, trường hợp không chia được bằng đất thì
chia theo giá trị.
Yêu cầu H hoàn trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng mà H1 đã giao cho bà
H từ việc nhận tiền cọc của H4 tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày 20-6-
2023 cho đến nay.
Còn đối với yêu cầu bà H phải trả cho bị đơn số tiền 500.000.000 đồng tiền lỗ
từ việc chuyển nhượng thửa đất số 153, tờ bản đố 28 tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu thì bà H1 có đơn xin rút.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thế
C trình bày: Ông C đang đứng tên trên GCN QSDĐ đối với diện tích 2.644,9m
2
đất
thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ 28 tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay
H, Thành phố Hồ Chí Minh). Toàn bộ việc góp vốn, mua bán như trên ông C
đều biết đồng ý để H1 chủ động với các bên, khi nào cần thực hiện thủ tục công
chứng, đăng bộ sang tên thì ông C sẽ hỗ trợ thực hiện. Ông C thống nhất với toàn bộ
các ý kiến, trình bày của bà H1 không yêu cầu gì thêm. do công việc, ông
C xin vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp, xét xử của Tòa án nhân dân các
cấp và đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H4
trình bày: Ngày 07-3-2022, bà và bà H1 có ký kết hợp đồng đặt cọc, bà đã đưa cho
H1 số tiền mặt là 4.000.000.000 đồng để đặt cọc mua thửa đất số 153, tờ bản đồ
28 tạiP, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh)
với giá trị mua bán thỏa thuận là 5.717.300.000 đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm mua
bán, thửa đất này mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, do đó, để hoàn tất
việc chuyển nhượng và thanh toán khoản tiền còn lại tcác bên thỏa thuận đến cuối
năm 2022, H1 phải thực hiện xong thủ tục “phủ hồng” thửa đất nêu trên và thực
hiện việc đo đạc để khi giao đất đúng như trong GCN QSDĐ. Tuy nhiên, đến cuối
năm 2022, việc “phủ hồng” không thực hiện được, sau thời gian trao đổi, thỏa thuận
nhưng không đạt kết quả, đến ngày 20-6-2023, H1 đã hoàn trả lại cho H4 số
tiền đã nhận đặt cọc là 4.000.000.000 đồng. Việc mua bán, đặt cọc giữa bà H4
H1 đã chấm dứt, bà H4 không có tranh chấp gì với các bên trong vụ án và không có
yêu cầu thêm. do công việc, H4 xin vắng mặt trong các buổi làm việc,
phiên họp, xét xử của Tòa án các cấp đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án
theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vliên quan Nguyễn Thị
Kim H3 trình bày: Ngày 21-6-2023, bà đã mua từ H1 thửa đất số 153, tờ bản đồ
28 tại xã P, huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay là H, Thành phố Hồ Chí Minh)
theo GCN QSDĐ số 763578 đứng tên ông Nguyễn Thế C với giá trị 3.000.000.000
đồng. Việc mua bán được thực hiện bằng giấy tay, H3 đã thanh toán đủ cho
H1. Vì việc giao nhận tiền đã thực hiện xong nên khi cần thực hiện các thủ tục công
chứng, đăng bộ, bà H3 sẽ liên hệ vợ chồng H1, ông C đthực hiện. Bà H3 không
7
có tranh chấp với các bên trong vụ án và không có yêu cầuthêm. Vì lý do công
việc, bà H3 xin vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp, xét xử của Tòa án các
cấp và đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh
H5 trình bày: Ông H5 anh ruột của bà H. Về việc cho vay tiền hùn vốn mua
đất chung giữa H và bà H1 thì ông H5 biết nhưng không có liên quan. Về việc
H1 cho rằng trao đổi với ông H5 qua tin nhắn vsố tiền đang tranh chấp
cho rằng ông H5 biết số tiền này không phải tiền vay, tông H5 khẳng định việc
trao đổi qua tin nhắn như bà H1 trình bày chỉ để nắm bắt thông tin, tuy nhiên, khi v
nhà ông H5 trao đổi lại với H thì sự việc không đúng nnhững bà H1 đã nhắn
cho ông. Do đó, ngày 26-4-2022, bà H cùng ông H5 qua nvợ chồng bà H1, ông C
để trao đổi về số tiền vay mà bà H1 còn nợ bà H. Trong khi hai bên nói chuyện với
nhau, H1 đã khẳng định còn nợ bà H stiền 870.000.000 đồng xin gia hạn thời
gian trả nợ đến tháng giêng năm 2023 nhưng đến nay H1 vẫn không thực hiện.
Ông H5 cho rằng vì bà H1 đã giao đủ tiền gốc và lãi đất cho H từ ny 07-3-2022
nên số tiền hai bên trao đổi như trên không phải là tiền lãi đất. Ông H5 đề nghị Tòa
án xem xét, giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.
Bản án dân sự thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 07-8-2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 14 Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca bà Trần Thị Thu H đối với bà Nguyễn Thị
H1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị Thu H số tiền
vay gốc 859.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 đối với
nguyên đơn bà Trần Thị Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” đối với yêu
cầu chia ½ thửa đất số 153, tờ bản đồ 28 có diện tích 2.644,9m² tại P, huyện X,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, thành phố Hồ Chí Minh) và buộc bà Trần Thị
Thu H hoàn trả số tiền 2.000.000.000 đồng.
3. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị H1 về việc yêu cầu
nguyên đơn bà Trần Thị Thu H trả số tiền 500.000.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về lãi do chậm thi hành án, chi phí tố tụng,
án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Kháng cáo: Ngày 22-8-2025, bị đơn Nguyễn Thị H1 kháng cáo toàn bộ Bản
án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố ca bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu phản tố.
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
8
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến thời
điểm xét xử thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư đã thực hiện đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền nghĩa vụ
được quy định tại pháp luật tố tụng.
Về nội dung vụ án:
Bà H cho bà H1 vay tiền nhiều lần với tổng số tiền 2.000.000.000 đồng, không
thế chấp tài sản, không ai chứng kiến, không thỏa thuận thời hạn trả nợ H1
cũng thừa nhận chữ của trong các giấy mượn tiền. H và bà H1 đều thống
nhất cấn trừ khoản tiền bà H1 vay Ngân hàng giúp bà H vào khoản vay nêu trên, nên
số tiền H1 vay H 1.500.000.000 đồng. Ngoài ra, hai thỏa thuận miệng
góp vốn nhận chuyển nhượng thửa đất số 153, tờ bản đồ 28 tại P, huyện X, tỉnh
Rịa - Vũng Tàu (nay H, Thành phố Hồ Chí Minh) với giá 4.000.000.000
đồng, mỗi bên góp 2.000.000.000 đồng. Tính đến ngày 07-3-2022, H1 giao cho
bà H tổng cộng 4.000.000.000 đồng. Đây là các tình tiết được các đương sự có liên
quan thống nhất thừa nhận, không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Về việc thực hiện giao dịch chuyển nhượng, H1 tự quyết định, không báo
cho H biết chuyển nhượng cho ai, thời hạn, điều kiện nghĩa vụ của các bên
trong hợp đồng đặt cọc, H1 chỉ thông báo giá chuyển nhượng 5.717.300.000
đồng. Về số tiền 3.000.000.000 đồng mà bà H1 chuyển khoản cho H ngày 07-3-
2022, nguyên đơn cho rằng bao gồm 2.858.650.000 đồng tiền gốc lãi từ việc
bán đất, 141.350.000 đồng tiền trả nợ; bị đơn cho rằng bao gồm 2.000.000.000
đồng tiền cọc từ việc bán đất (tương đương tiền gc mua đất), 1.000.000.000 đồng
tiền trả nợ. Với nội dung chuyển khoản ghi “Huê chuyển khoản tiền đất” thì bà H1
cho rằng ghi nhầm đã báo cho H qua điện thoại, tuy nhiên H không thừa
nhận, bà H1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ngoài ra, theo hồ sơ và sự
thừa nhận của các bên thì ngày 09-4-2022 ngày 12-4-2022, H1 vẫn tiếp tục
chuyển khoản tiền cho bà H để thanh toán nợ (theo bà H1 thì để trả lãi) nên việc bà
H1 cho rằng đã chuyển khoản trả cho bà H tất cả tiền vay vào ngày 07-3-2022 (cùng
với tiền đất) không phù hợp. Mặt khác, theo nội dung cuộc trao đổi giữa hai bên
o ngày 26-4-2022, tức sau ngày 07-3-2022, bà H1 vẫn xác nhận đã trả đủ tiền lãi
bán đất cho bà H và còn nợ bà H số tiền vay là 870.000.000 đồng, đồng thời, bà H1
hứa hẹn thời hạn thanh toán tiền vay cho H vào tháng giêng năm 2023. Như
vậy, lời trình bày của H1 tại phiên tòa mâu thuẫn với những tài liệu trong hồ
vụ án. Do vậy, căn cứ khẳng định H1 đã chia đôi chuyển xong số tiền
gốc lợi nhuận từ việc bán đất cho H, mục đích hợp tác giữa hai bên đã đạt được
9
nên thỏa thuận miệng hùn hạp góp vốn cũng chấm dứt từ ngày 07-3-2022 và số tiền
cho đến nay bà H1 còn nợ bà H là 859.000.000 đồng.
Về yêu cầu phản tố của bị đơn bà H1: H chỉ p vốn nên chỉ mối quan
hệ hợp tác với H1. Giao dịch đặt cọc chuyển nhượng đất ngày 07-3-2022 được ký
kết giữa H4 và bà H1, bà H1 khẳng định bà tự quyết và không thông báo cho bà
H biết về thỏa thuận “phủ hồng” thửa đất với H4. Mặt khác, H1 khẳng định
chưa liên hệ cơ quan nhà nước để đăng làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất,
điều này phù hợp với nội dung xác minh tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện X, tỉnh
Rịa - Vũng Tàu (nay xã H, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, việc giao dịch chuyển
nhượng không thành công hoàn toàn là lỗi của bà H1; bà H không biết, không tham
gia, không được thông báo, không được hưởng thêm lợi ích riêng từ giao dịch này,
cũng không cam kết chịu trách nhiệm nếu giao dịch không hoàn thành. Giữa H
H1 đã thực hiện xong nghĩa vụ với nhau đối với việc góp vốn mua đất, hiện nay
ông Nguyễn Thế C chồng H1 đang đứng tên trên GCN QSDĐ đối với thửa đất
nêu trên nên xác định thửa đất tài sản của H1, không còn liên quan đến H,
do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H1.
Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa
căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn
Thị H1 đảm bảo nội dung và nộp trong thời hạn quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ
luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự vắng
mặt tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, thuộc trường hợp đã đơn đề nghị
xét xử vắng mặt, do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tng dân sự,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1:
[2.1] Theoc tài liệu, chứng cứ có trong hsơ và sự thừa nhận của các đương
sự trong suốt quá trình giải quyết vụ án cho đến phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét
xử xét thấy có căn cứ để xác nhận các nội dung sau:
Từ tháng 9 đến tháng 11-2021, bà H1 nhiều lần vay tiền của bà H với tổng
số tiền 2.000.000.000 đồng. Đối với 03 bản chính “Giấy mượn tiền” viết tay đề
ngày 23-9-2021, ngày 22-11-2021 (02 giấy) thì H1 xác nhận chữ viết tên
đúng của H xác nhận số tiền 1.300.000.000 đồng theo các giấy tay này
đã bao gồm trong tổng số tiền vay mượn 2.000.000.000 đồng nêu trên. Việc vay
mượn giữa hai bên không thế chấp tài sản, không ai chứng kiến, không thỏa thuận
10
thời hạn trả nợ, khi nào bà H cần thu hồi nợ thì sẽ báo trước cho bà H1 một khoảng
thời gian nhất định. Về lãi suất, các bên thỏa thuận miệng với nhau, lãi suất của
từng lần vay không giống nhau. Quá trình trả nợ, H1 đã trả được cho H
49.500.000 đồng lãi vay, tuy nhiên, H đã trả lại khoản tiền lãi này cho bà H1, các
bên đều thừa nhận và không tranh chấp. Ngoài ra, H nhờ H1 vay từ Ngân
hàng số tiền 500.000.000 đồng, các bên cũng thống nhất đối trừ vào khoản tiền
2.000.000.000 đồng H1 vay H, như vậy, số tiền nợ H1 phải trả cho
H 1.500.000.000 đồng. Đối với lãi suất vay của Ngân hàng tđều do H1 tự trả,
tuy nhiên, số tiền H cho H1 mượn cũng do H đi vay lãi từ người
khác và tự trả lãi. Do đó, các bên xác định không tranh chấp về lãi với nhau, không
yêu cầu thanh toán lại các khoản lãi đã tự trả và đến nay, bà H cũng xác định không
yêu cầu tính lãi đối với toàn bộ khoản tiền mà bà H1 đã vay.
Tháng 10-2021, bà H và H1 hùn tiền, nhận chuyển nhượng chung diện tích
2.644,9m² đất thuộc thửa số 153, tờ bản đồ 28 tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu (nay H, Thành phố Hồ Chí Minh) (sau đây gọi tắt thửa đất số 153) từ
ông Nguyễn T với giá 4.000.000.000 đồng, mỗi bên góp 2.000.000.000 đồng. Theo
đó, ngày 30-10-2021, ông T H kết hợp đồng đặt cọc, ghi giá bán
3.990.000.000 đồng (do được ông T giảm cho 10.000.000 đồng), số tiền đặt cọc
500.000.000 đồng. Sau đó, bà H và bà H1 thỏa thuận để ông Nguyễn Thế C (chồng
H1) đứng tên trên GCN QSDĐ nên ngày 30-11-2021, sau khi thanh toán đủ phần
còn lại, ông T ông C kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được Văn phòng
C1, quyển số 07/2021 TP/CC-SCC/HĐGD. Ngày 30-12-2021, ông C được cập nhật
biến động sang tên tại GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CU 763584 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (cũ) cấp ngày 24-3-2020
đối với thửa đất nêu trên. Bà H và bà H1 xác nhận, việc góp vốn mua bán đất chung
không được lập thành văn bản và ngoài thửa đất nêu trên thì hai không còn mua
chung thửa đất nào khác.
Quá trình vay mượn góp vốn cho đến nay, H H1 xác nhận, H1
đã đưa tiền mặt chuyển khoản cho H với tổng số tiền 4.000.000.000 đồng,
trong đó, bao gồm 2.000.000.000 đồng là tiền gốc của việc hùn vốn mua đất.
[2.2] Xét thời điểm chấm dứt việc hợp tác giữa nguyên đơn bà Trần Thị Thu H
và bị đơn Nguyễn Thị H1:
[2.2.1] Việc hùn tiền để nhận chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất số 153
thỏa thuận để ông Nguyễn Thế C đứng tên trên GCN QSDĐ như đã nêu tại mục [2.1]
thì H H1 thống nhất và không tranh chấp. Theo vi bằng do H cung cấp
thì ngày 04-3-2026, H1 thông báo qua tin nhắn cho H biết về việc người
muốn nhận chuyển nhượng thửa đất số 153 với giá 110.000.000 đống/mét ngang, tuy
nhiên, bà H1 không thông báo cụ thể người mua là ai. Ngày 07-3-2026, bà H1
Phạm Thị H4 ký kết hợp đồng đặt cọc để đảm bảo giao dịch chuyển nhượng quyền
sử dụng thửa đất số 153, trong hợp đồng có thỏa thuận nội dung “1, Bà H1 cam kết
11
đất đến cuối năm mảnh đất trên sẽ phủ hồng. 2, H1 phải có trách nhiệm đo đạc
đúng hiện trạng.”. Quá trình giải quyết vụ án, bà H4 trình bày đã thực hiện theo nội
dung hợp đồng trên giao cho H1 số tiền đặt cọc 4.000.000.000 đồng tiền
mặt, tuy các đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc giao nhận
tiền nhưng H1 xác nhận đã nhận đủ số tiền đặt cọc từ H4. Cùng ngày 07-3-
2026, H1 chuyển khoản cho H 06 lần, mỗi lần 499.999.999 đồng, các bên thống
nhất tính làm tròn số tiền mỗi lần giao dịch 500.000.000 đồng. Về số tiền
3.000.000.000 đồng này, nguyên đơn H cho rằng bao gồm 2.858.650.000 đồng là
tiền gốc và lãi từ việc chuyển nhượng lại đất cho người khác và 141.350.000 đồng
tiền H1 trả nợ; còn bị đơn bà H1 lại cho rằng bao gồm 2.000.000.000 đồng là tiền
cọc từ việc bán đất (tương đương tiền gốc mua đất), 1.000.000.000 đồng tiền
H1 trả nợ.
[2.2.2] Theo vi bằng do H cung cấp, ngày 07-3-2026, H1 báo cho H
biết rằng sẽ chuyển khoản cho bà H 3.000.000.000 đồng (nội dung nhắn tin là “C ck
3 tỉ”(Cô chuyển khoản 3 tỷ)), bao gồm số tiền H nhận được từ việc chuyển nhượng
QSDĐ thửa đất số 153 cho người khác 2.844.350.000 đồng (theo nội dung hình
ảnh H1 gửi) phần tiền còn dư (nội dung tin nhắn là “Dư: 155 650”) được dùng
để trkhoản nợ bà H1 vay bà H (nội dung tin nhắn “Tổng: 855 650 đ”, “Còn:
1 144 350 k” trùng khớp với khoản nợ 2.000.000.000 đồng). Qua trao đổi, hai bên
thống nhất lại chính xác về số tiền (bao gồm gốc và lãi) mà bà H nhận được từ việc
hợp tác làm ăn 2.858.650.000 đồng, sau khi bà H1 chuyển khoản cho H
3.000.000.000 đồng thì lại tiếp tục xác nhận lại bằng tin nhắn “Dư: 141 350”.
Ngoài ra, đối với 06 giao dịch chuyển khoản H1 thực hiện để chuyển tiền
cho bà H vào ngày 07-3-2026 thì có 05 giao dịch xác nhận nội dung H1 chuyển
khoản “tiền đất”, chỉ 01 giao dịch thì H1 không ghi cụ thể nội dung chuyển
khoản. H1 cho rằng 01 giao dịch không ghi nội dung cụ thể vì số tiền này mục
đích để trả nợ trong số 05 giao dịch ghi nội dung “tiền đất” t01 giao dịch
thực chất cũng tiền trnợ nhưng do chuyển khoản liên tục nên bà đã ghi nhầm nội
dung cũng đã nhắn tin báo cho H về nội dung bnhầm. Tuy nhiên, tại phiên
tòa phúc thẩm, H không thừa nhận về việc nhận được tin nhắn báo H1 ghi
nhầm nội dung chuyển khoản, còn H1 thì không chứng minh được trình bày của
là có thật. Về phía H thì cho rằng bà H1 không ghi nội dung cụ thể vì số tiền
này bao gồm một phần tiền từ việc chuyển nhượng đất một phần tiền để trả nợ,
lời trình bày này phù hợp với các tin nhắn do bà H1 tự gửi để xác nhận từng khoản
tiền “Dư”, “Tổng”, “Còn” như đã nêu trên.
Hơn nữa, H cung cấp một USB ghi âm thông tin nội dung trao đổi giữa
H, ông Trần Minh H5 (anh trai H) với H1, ông Nguyễn Thế C (chồng bà H1)
vào ngày 26-4-2022, tài liệu này bà H1 đã được tiếp cận và xác nhận giọng nói của
mình trong cuộc hội thoại. Theo nội dung trao đổi, H1 thừa nhận “trong vấn đề
mua đất, tiền lời 870.000.000 đồng đã đưa cho H rồi. Còn lại 870.000.000 đồng là
12
tiền vay…”. Tuy nhiên, sau khi phát sinh tranh chấp tại Tòa án và biết thông tin
H yêu cầu H1 thanh toán tiền vay nợ thì H1 lại trình y rằng đã thanh toán
toàn bộ khoản nợ và phần tiền chưa thanh toán là lợi nhuận từ việc làm ăn chung để
làm căn cứ cho rằng thỏa thuận hợp tác chưa chấm dứt và yêu cầu H cùng chịu lỗ
từ việc làm ăn chung là không phù hợp với diễn biến khách quan của sự việc.
[2.2.3] Cùng với đó, H1 n cứ vào chứng cứ vi bằng các tin nhắn trao đổi
giữa bà H1 với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh H5 để cho
rằng ông H5 biết về khoản tiền H1 còn thiếu H tiền lãi từ việc chuyển
nhượng QSDĐ, không phải tiền nợ. Tuy nhiên, các chứng cứ H1 cung cấp chỉ
thể hiện việc ông H5 người tiếp nhận thông tin, H1 người cung cấp thông tin
từ một phía hoàn toàn không sự thừa nhận hay xác nhận thông tin từ phía
H.
[2.2.4] Mặt khác, H trình bày rằng mọi việc liên quan đến chuyển nhượng
thửa đất số 153 đều phải được thống nhất ý kiến giữa H H1 theo như quy
định pháp luật về giao dịch hợp tác nên khi H1 thông báo người muốn nhận
chuyển nhượng thì bà H hỏi nhưng H1 không cung cấp thông tin nào khác
ngoài giá chuyển nhượng, thậm chí không cho biết người mua là ai và đối với thỏa
thuận đến cuối năm 2022 sẽ “phủ hồng” thửa đất số 13 (tức chuyển đổi mục đích sử
dụng thửa đất tđất trông lâu năm sang đất ở) giữa bà H1 với H4 thì bà H chỉ biết
sau khi đã phát sinh tranh chấp. Còn H1 thì cho rằng trong việc hợp tác làm ăn,
bà H chỉ góp tiền, bà H1 được quyết tất cả mọi việc và bà H1 cũng thừa nhận trong
giai đoạn trao đổi, kết hợp đồng đặt cọc, H1 hoàn toàn không thông báo cho
H biết vcam kết “phủ hồng” nêu trên. Tuy nhiên, thỏa thuận hợp tác giữa hai
bên không được lập thành văn bản H1 không cung cấp được chứng cứ nào khác
chứng minh hai bên đã thỏa thuận bà H1 được toàn quyền quyết định nhưng hai
phải cùng chịu trách nhiệm trong việc chuyển nhượng thửa đất số 153. Theo vi bằng
ghi nhận tin nhắn bà H gửi cho H1 ngày 04-3-2022 có nội dung “Đất có phải phủ
hồng đâu”, “Thôi bán đi” cho thấy bà H không biết về thỏa thuận giữa bà H1 với
H4. Do đó, H1 là người có trách nhiệm thực hiện cam kết đến cuối năm 2022
“phủ hồng” thửa đất cũng như cam kết đo đạc hiện trạng để giao đất cho bà H4.
Tại phiên tòa phúc thẩm, H1 xác nhận chưa từng thực hiện thủ tục đăng
chuyển mục đích sử dụng thửa đất số 153, điều này phù hợp với kết quả xác minh
của Tòa án, tại Văn bản số 3581/UBND-NNMT ngày 25-4-2025 của Ủy ban nhân
dân huyện X, tỉnh Rịa Vũng Tàu (cũ) xác nhận “Thửa đất số 153… không
trong danh mục đăng chuyển mục đích sử dụng đất…”. giải cho việc không
thực hiện thủ tục, H1 cho rằng thông qua một người bạn thì biết được rằng thửa
đất số 153 không đđiều kiện “phủ hồng”, tuy nhiên, theo kết quxác minh của Tòa
án, tại Công văn số 556/CNVPĐK-KTĐC ngày 20-02-2025 của Chi nhánh Văn
phòng Đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Rịa Vũng Tàu (cũ) xác nhận Theo quy
hoạch sử dụng đất P được pduyệt tại Quyết định số 1098/QĐ-UBND ngày
13
01/4/2022 của UBND tỉnh B, thửa đất số 153 tờ bản đồ số 28 xã P thuộc quy hoạch
đất ở”. Cũng tại phn tòa phúc thẩm, H1 cho rằng đã giao nhiệm vụ cho H
thực hiện thủ tục đo đạc đất để bàn giao, tuy nhiên, theo chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án là vi bằng do chính bà H1 cung cấp thì yêu cầu nêu trên được trao đổi sau khi bà
H1 đã chuyển cho bà H toàn bộ khoản tiền liên quan đến hợp tác làm ăn chung như
đã nêu tại mục [2.2.2], sau thời điểm hai bên phát sinh tranh chấp và cũng chỉ là yêu
cầu đơn phương đưa ra từ một phía của bà H1 mà chưa được bà H thống nhất ý kiến.
[2.2.5] Quá trình giải quyết vụ án, bà H cho rằng do bà không có tên trên giấy
tờ pháp của thửa đất số 153 n được H1 giao bản chính GCN QSDĐ để giữ
cả hai bên xác định rằng việc hợp tác làm ăn chung đã hoàn thành nên H1
yêu cầu và bà H đã trả lại bản chính GCN QSDĐ cho bà H1. Lời trình bày này phù
hợp với diễn biến khách quan ca sự việc.
[2.2.6] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H và bà H1 thừa nhận không có thỏa thuận
nào khác về thời điểm chấm dứt việc hợp tác làm ăn. Bà H cho rằng thỏa thuận hợp
tác chấm dứt tại thời điểm bà H1 chuyển đủ tiền gốc và lãi từ chuyển nhượng QSDĐ
vào ngày 07-3-2022; còn H1 cho rằng chưa chuyển tiền lãi từ việc chuyển
nhượng QSDĐ cho H việc chuyển nhượng QSDĐ với H4 cũng không thành
công nên thỏa thuận hợp tác chưa chấm dứt.
Đồng thời, Hội đồng xét xử xét thấy, có cơ sở để xác định bà H1 đã hoàn thành
việc chuyển toàn bộ số tiền H nhận được từ giao dịch chuyển nhượng QSDĐ thửa
đất số 153, bà H đã đạt được mục đích của việc hợp tác làm ăn chung với H1
khoản lợi nhuận từ giao dịch chuyển nhượng QSDĐ thửa đất số 153và việc giao dịch
với bà H4 không thành không phải do lỗi của H. Việc về mặt pháp lý, thửa đất số
153 chưa được sang tên cho H4 căn cứ đxác định giao dịch chuyển nhượng
QSDĐ chưa hoàn thành, không phải căn cứ để xác định thỏa thuận hợp tác giữa
H với H1 chưa hoàn thành như quan điểm của bà H1. Như vậy, căn cứ vào khoản
1 Điều 422 điểm c khoản 1 Điều 512 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy
cần xác định thỏa thuận miệng về việc hợp tác làm ăn chung giữa bà H và bà H1 đã
chấm dứt kể từ ngày 07-3-2022.
[2.3] Về số tiền nợ màH1 đã thanh toán cho bà H:
Các đương sự xác nhận việc vay nợ không thỏa thuận về thời hạn trả nhưng yêu
cầu trả nợ phải báo trước một thời gian hợp lý. Hội đồng xét xử xét thấy, các bên
phát sinh tranh chấp từ năm 2023 đến nay, nguyên đơn bà H đã nhiều lần yêu cầu bà
H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà H1 hẹn thời hạn nhưng không thực hiện đúng cam
kết. Do đó, yêu cầu thanh toán nợ của H đã được thông báo trong một thời gian
hợp lý.
Các bên thống nhất thừa nhận rằng bà H1 đã trả cho H 03 lần tiền mặt với
tổng số tiền 180.000.000 đồng + 70.000.000 đồng + 99.500.000 đồng =
349.500.000 đồng (1) và chuyển khoản với số tiền 46.500.000 đồng (2) vào ngày 09-
4-2022, chuyển khoản với số tiền 53.500.000 đồng (3) vào ngày 12-4-2022.
14
Đối với số tiền 3.000.000.000 đồng mà H1 chuyển cho bà H vào ngày 07-3-
2022, như đã nêu tại mục [2.2], Hội đồng xét xử xác định, khoản tiền này bao gồm
2.585.650.000 đồng tiền từ việc hợp tác làm ăn và 141.350.000 đồng (4) là tiền để
trả nợ.
Đối với số tiền 100.000.000 đồng H1 chuyển cho H vào ngày 15-3-
2022 thì H1 cho rằng tiền trả nợ vay, tuy nhiên, H không thừa nhận, nội dung
chuyển khoản không nêu rõ và H1 không có chứng cứ nào khác chứng minh mục
đích chuyển khoản tiền này nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định khoản
tiền này là để trả nợ.
Như vậy, tổng số tiền từ việc vay nợ mà bà H1 đã thanh toán cho bà H là (1) +
(2) + (3) + (4) = 590.850.000 đồng, bà H1 còn nợ H 1.500.000.000 đồng
590.850.000 đồng = 909.150.000 đồng. Tuy nhiên, H chỉ yêu cầu H1 thanh
toán số tiền 859.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi lợi cho bà H1
sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Xét yêu cầu phản tố của H1 về việc chia tài sản chung QSDĐ thửa
đất số 153 và buộc bà H trả lại số tiền cọc 2.000.000.000 đồng:
Tại cấp sơ thẩm, bà H1 trình bày sau khi trả lại số tiền cọc 4.000.000.000 đồng
cho H4 vào ngày 20-6-2023 thì đến ngày 21-6-2023 bà tiếp tục ký kết hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ thửa đất số 153 với Nguyễn Thị Kim H3 với số tiền
3.000.000.000 đồng, hợp đồng không được công chứng chứng thực. Bà H1 bà H3
đều xác nhận đã giao nhận đủ số tiền chuyển nhượng bằng tiền mặt nhưng chưa thực
hiện thủ tục đăng biến động sang tên. Tại phn tòa phúc thẩm, H1 lại cho rằng,
giao dịch chuyển nhượng với bà H3 cũng đã bị hai bên thỏa thuận hủy bỏ, bà H1 đã
trả lại toàn bộ số tiền đã nhận trước đó cho H3 để căn cứ vào đó, H1 tiếp
tục yêu cầu chia tài sản chung là QSDĐ thửa đất số 153 với bà H. Tuy nhiên, bà H3
vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm, không có văn bản nêu ý kiến xác nhận về việc đã
hủy bỏ giao dịch chuyển nhượng thửa đất số 153, còn H1 không cung cấp được
chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử xét thấy không n cứ xác định lời
trình bày nêu trên ca H1 là đúng sự thật.
Hơn nữa, thỏa thuận hợp tác giữa H H1 đã chấm dứt từ ngày 07-3-
2022, thửa đất số 153 hiện không còn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của H, không
phải là tài sản chung của bà H1 và bà H.
[2.5] Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm đã được xem xét, giải quyết đúng
theo quy định của pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là có căn cứ; Yêu cầu kháng cáo cũng như yêu cầu phản tố của
bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
15
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn H1 không được chấp
nhận nên bà H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số
tiền tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai số 0015850 ngày 09-9-2025 của Thi hành
án dân sự Thành phố H, bà H1 đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên, căn c khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 26, 38, 92, 147, 148, 157, 165, 272, 273, 296, 313 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); các Điều 280, 422, 463, 466,
469, 504, 512 Bộ luật n sự năm 2015; Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H1. Giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 07-8-2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 14 – Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H đối với bà Nguyễn Thị
H1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần ThThu H số tiền
vay gốc 859.000.000đ (T1 trăm năm mươi chín triệu đồng), không yêu cầu tính lãi
suất.
Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
cơ quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị H1 đối với
nguyên đơn bà Trần Thị Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” đối với yêu
cầu chia ½ quyền sử dụng diện tích 2.644,9m
2
đất thuộc thửa số 153, tờ bản đồ 28
tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh)
buộc bà Trần Thị Thu H hoàn trả số tiền 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng) đã nhận từ
việc đặt cọc của bà Phạm Thị H4.
3. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị H1 về việc yêu cầu
nguyên đơn bà Trần Thị Thu H trlại 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) khoản
lỗ từ việc hợp tác.
4. Chi phí tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải nộp 9.320.180đ (Chín triệu,
ba trăm hai mươi nghìn, một trăm tám mươi đồng), đã nộp xong.
5. Án phí dân sự sơ thẩm:
16
Nguyên đơn bà Trần Thị Thu H không phải chịu, được hoàn trả số tiền đã nộp
là 19.800.000đ (Mười chín triệu, tám trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng số
0011815 ngày 18-4-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng Thi
hành án dân sự Khu vực 14));
Bị đơn Nguyễn Thị H1 phải chịu số tiền 109.770.000đ (Một trăm lẻ chín
triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp 12.000.000đ
(Mười hai triệu đồng) 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng) theo Biên lai thu
tạm ứng số 0002561 ngày 23-11-2023 và số 0002465 ngày 07-01-2025 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thi hành án
dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 14)); Bị đơn
Nguyễn Thị H1 còn phải nộp thêm số tiền án phí 76.770.000đ (Bảy ơi sáu triệu,
bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
6. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 300.000đ (Ba
trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số số
0015850 ngày 09-9-2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đã thi
hành xong.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (01-7-2026).
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND TP . HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 14, TP.HCM;
- THADS TP.HCM
(Phòng THADS Khu vực 14);
- Các đương sự; (Đã ký)
- Lưu hồ sơ vụ án (01).
Trần Văn Vui
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1311/2026/DS-PT Bản án số 1311/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1311/2026/DS-PT Bản án số 1311/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất