Bản án số 195/2026/DS-PT ngày 15/07/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 195/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 195/2026/DS-PT ngày 15/07/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 195/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, chia thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 195/2026/DS-PT Bản án số 195/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 195/2026/DS-PT Bản án số 195/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 195/2026/DS-PT
Ngày 15/7/2026
Tranh chấp tuyên bố văn bản công
chứng hiệu, giải quyết hậu quả
hợp đồng vô hiệu, chia thừa kế”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Bé.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Mai.
Ông Nguyễn Văn Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Nguyễn Hữu Quân
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 81/2026/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm
2026 về việc Tranh chấp tuyên bố văn bản công chứng hiệu, giải quyết hậu quả hợp
đồng vô hiệu, chia thừa kế”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 166/2026/DSST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 1, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 170/2026/QĐ-PT ngày 05
tháng 6 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 269/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng 6
năm 2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đặng Thị L, sinh năm 1965; Số CCCD: *********xxx; Địa
chỉ: P, nhà E, chung H, phường H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ liên hệ: G đường T,
phường T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Thị Mai H, sinh năm 1977; Số
CCCD: *********xxx; Địa chỉ: G đường T, phường T, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy
ủy quyền ngày 27/5/2025). Có mặt.
- Bị đơn: Hồ Thị Kim L1, sinh năm 1957; Số CCCD: *********xxx; Địa chỉ:
E đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng;
Đại diện theo y quyền của bị đơn: Công ty L4; Địa chỉ: 5 đường H, phường H,
thành phố Đà Nẵng. Người đại diện Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Số CCCD:
*********xxx. (Theo Giấy ủy quyền ngày 19/3/2025). Có mặt.
2
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Hồ Thị Kim O sinh năm 1946; (Đã chết ngày 27/8/2025).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Hồ Thị Kim O: Ông T, sinh
năm 1943; Ông Minh H2, sinh năm 1973; Thị Minh T1, sinh năm 1974; Cùng
địa chỉ: A đường H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
2. Ông Hồ Kim L2, sinh năm 1948; Địa chỉ: K đường T, phường P, thành phố Hồ
Chí Minh;
Đại diện theo ủy quyền của ông Hồ Kim L2: Công ty L4; Địa chỉ: 5 đường H,
phường H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Số
CCCD: *********xxx. (Theo Giấy ủy quyền ngày 05/9/2025). Có mặt.
3. Bà Hồ Thị Kim Y, sinh năm 1951; Địa chỉ: 5 đường Đ, phường T, thành phố Hồ
Chí Minh;
Đại diện theo ủy quyền bà Hồ Thị Kim Y: Công ty L4; Địa chỉ: 5 đường H, phường
H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Số CCCD:
*********xxx. (Theo Giấy ủy quyền ngày 03/9/2025). Có mặt.
4. Ông Hồ Kim S, sinh năm 1953; Địa chỉ: 4 đường N, phường B, thành phố Hồ
Chí Minh;
Đại diện theo ủy quyền ông Hồ Kim S: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Số
CCCD: *********xxx; Địa chỉ: 5 đường H, phường H, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy
ủy quyền ngày 08/9/2025). Có mặt.
5. Bà Hồ Thị Kim C, sinh năm 1956; Địa chỉ: phường N, tỉnh Quảng Ngãi;
Đại diện theo ủy quyền của Hồ Thị Kim C: Công ty L4; Địa chỉ: 5 đường H,
phường H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Số
CCCD: *********xxx. (Theo Giấy ủy quyền ngày 05/9/2025). Có mặt.
6. Văn phòng C1; Địa chỉ: I đường L, phường H, thành phố Đà Nẵng. đơn xin
giải quyết vắng mặt.
7. Chi nhánh Văn phòng Đ1- Đà Nẵng; Địa chỉ: E đường Q, phường H, thành phố
Đà Nẵng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo:Đặng Thị L là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn là Đặng Thị L trình bày: Cha nuôi Đặng Thị L tên Hồ H3
(sinh năm: 1916, chết năm: 2007), mẹ nuôi Đặng Thị L tên Thái Thị H4 (sinh năm:
1926, chết năm: 2007). Cha mẹ nuôi L sinh được 07 người con (trong đó 01 người
con gái đầu đã mất từ nhỏ), nên còn 06 người con, gồm: Hồ Thị Kim O, Hồ Kim L2, Hồ
Thị Kim Y, Hồ Kim S, Hồ Kim C, Hồ Thị Kim L1 và người con nuôi là L, sau này do
anh trai của bà L muốn bảo lãnh bà L định cư nước ngoài nên bà L đã đổi họ thành Đặng
Thị L. Khi đó, L cũng đã nói chuyện với ba mẹ nuôi về việc này ba mẹ nuôi L
3
cũng đồng ý, giờ anh em ruột bảo lãnh qua điều mừng đbà L cuộc sống tốt
hơn. Trong thời gian chung sống, cha mẹ nuôi L tạo dựng tài sản nhà đất tại
thửa đất s2, tbản đồ số 16, diện tích 125,10m², địa chỉ tại K đường L, quận H,
thành phố Đà Nẵng do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3401030504 vào ngày 17/01/2000.
Vào năm 2007, ông Hồ H3 Thái Thị H4 đều chết, không để lại di chúc. Sau
khi cha mẹ nuôi L mất, do các anh chị đều ở xa, chỉ có bà Hồ Thị Kim L1 lập gia đình
và ở ngay cạnh thửa đất của cha mẹ nuôi bà L nênL1 đã giữ toàn bộ hồ sơ giấy tờ của
gia đình, trong đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà đất trên. Đến đầu năm
2023, lúc đó bệnh đau đầu kinh niên của L lại tái phát, bà phải nhập viện về nhà
tiếp tục điều trị. Lúc đó Hồ Thị Kim L1 gặp L nói ngôi nhà của ba mẹ s
để làm nhà thờ tự, các anh chị em khác cũng đã đồng ý hết nên yêu cầu L cũng đồng
ý, nên nhờ L vào văn bản uỷ quyền để L1 làm giấy tờ và xây nhà thờ ba mẹ. Bà
L1 cũng cam kết di sản của bố mẹ để lại sẽ không mua bán, không chuyển nhượng,
không chia phần thừa kế, để xây lại làm nhà thờ tự. L1 đã lừa lúc đó L
đau nặng phải nằm trên giường không đủ tỉnh táo để suy nghĩ nên L1 dẫn một
người bên Văn phòng Công chứng đến nhà bà L người của Văn phòng Công chứng đã
hướng dẫn và đọc cho bà L viết ký vào trong văn bản đó. Do bà không hiểu biết pháp luật
nên khi L văn bản chỉ đơn thuần nghĩ để L1 thuận tiện làm thủ tục xây nthờ
tự cho đàng hoàng hơn so với nhà bố mẹ đã ở. Sau này, L mới được biết đó
Văn bản từ chối di sản do Văn phòng C1 chứng thực để bà L1 lấy tài sản và đứng tên trên
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhiện giờ. Khoảng vài tháng sau, L phát hiện
L1 không xây nhà thờ đang muốn xây Văn phòng Công ty nên L yêu cầu
phải trích một phần tài sản của cha mẹ để lại cho L bà L cũng là người thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của cha mẹ nuôi L. Đã nhiều lần bà L yêu cầuL1 phải huỷ bỏ văn
bản công chứng tiến hành chia khối di sản cha mẹ L đlại nhưng L1 không
đồng ý. Đồng thời, bà L cũng đã ghi âm được những cuộc nói chuyện giữa bà L và bà L1,
cùng chồng của bà L1. Di sản của ông Hồ H3 và bà Thái Thị H4 để lại là nhà và đất theo
chứng thư định giá 6.638.000.000 đồng. Hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ H3
Thái Thị H4 gồm có 07 người, gồm: Hồ Thị Kim O, Hồ Kim L2, Hồ Thị Kim Y, Hồ Kim
S, Hồ Kim C, Hồ Thị Kim L1Đặng Thị L. Theo đó, di sản thừa kế sẽ được chia thành
07 kỷ phần là: 6.638.000.000 đồng : 7 kỷ phần = 948.285.714 đồng/01 kỷ phần. Như vậy,
kỷ phần bà L được nhận là 948.285.714 đồng. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Tuyên bố Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế số công chứng 0513, quyển số
01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 vào ngày 25/4/2023 hiệu do bị lừa
dối.
2. Tuyên hủy chỉnh lý biến động sang tên bà Hồ Thị Kim L1 đối với thửa đất số 2,
tờ bản đồ số 16, diện tích 125,10m², địa chỉ tại K đường L, quận H, thành phố Đà
4
Nẵng do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
và quyền sử dụng đất số 3401030504 vào ngày 17/01/2000.
3. Chia di sản thừa kế theo pháp luật ông Hồ H3 Thái Thị H4 để lại
nhà đất tại thửa đất số 2, tờ bản đồ số 16, diện tích 125,10m², địa chỉ tại K đường
L, quận H, thành phố Đà Nẵng do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3401030504 vào ngày 17/01/2000 (Hồ
gốc số 5833), theo kỷ phần L được nhận bằng tiền giá trị 948.285.714
đồng.
Hồ Thị Kim L1 là bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Vào năm 1976, L1 thi đỗ đại
học tại Đại học B, thời đó bắt buộc sinh viên phải nội trú. Các anh chị đều xa, nhà
buồn nên ba mẹ L1 làm thủ tục xin con nuôi tại trại nhi của Hội thánh tin lành Mỹ
Khê Đ được nhận một gái khoảng 12-13 tuổi Đặng Thị L. Sau này, ba L1
có đổi họ khi nhận con nuôi là Hồ Thị L3 để xin cho đi học. Ở được một thời gian, L3
có chồng và bỏ đi, sau đó có một lần về nhà đề nghị ông H3 đổi họ Hồ thành họ Đ để tiện
cho việc người anh bảo lãnh đi Mỹ, L1 nghe nói L3 cũng đổi năm sinh
1965 để tiện cho việc bảo lãnh hợp tuổi. Thời gian đó rất khó khăn, cha L1 công
chức, mẹ nội trợ, không làm ra tiền ngoài đồng lương nhà nước nên ông rất tiết
kiệm, lại phải nuôi đứa con nuôi cho ăn học cũng vất vả. Sau khi lấy chồng, L3 không
với cha mL1 nữa. Khi bà L1 ra trường năm 1981 thì L3 không còn nhà và kể
từ đó L3 đi biệt xử, không hề đoái hoài đến cha mẹ nuôi. Do đó, trong sổ hộ khẩu
của cha mẹ L1 không tên L3. Tất cả các anh chị em của L1 đều thống nhất
giao cho bà Hồ Thị Kim L1 được quyền sở hữu sử dụng toàn bộ di sản của cha mẹ để
lại nhà đất tại K (5/3 cũ) đường L, thành phố Đà Nẵng. Hiện nay, bà L1 đã được đứng
tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất đối với di sản là nhà đất nói trên theo quy định của pháp luật vì di chúc của ba mẹ
L1 lập ngày 22/11/2002 không hề nhắc đến tên Đặng Thị L. Bản di chúc này thể
hiện ý chí của ba mẹ L1 về việc để lại di sản thừa kế nđất tại địa chỉ K (cũ)
đường L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng được UBND thành phố Đ cấp Giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất ngày 17/01/2000, hồ gốc
số 5833 cho 06 người con ruột là: Hồ Thị Kim O, Hồ Kim L2, Hồ Thị Kim Y, Hồ Kim S,
Hồ Thị Kim C Hồ Thị Kim L1 được toàn quyền định đoạt. Việc Đặng Thị L
tự tay viết vào Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế lập ngày 25/4/2023 do Văn phòng C1
chứng thực khẳng định những điều trình bày trên đúng sự thật. Do đó, L1 yêu cầu
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Công nhận hiệu lực của
Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế bà Đặng Thị L lập ngày 25/4/2023 do Văn phòng C1
chứng thực.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Hồ ThKim O, Hồ Thị Kim C, ông Hồ Kim S, Hồ Thị Kim Y, ông H
Kim L2 có văn bản trình bày: Trước đây, cha mẹ các ông bà có nhận nuôi bà Đặng Thị L
5
được hơn 10 tuổi từ Cô nhi viện của Giáo hội Tin lành. Ở với cha mẹ được một thời gian,
bà L bỏ nhà đi đâu, gia đình không hề hay biết. Năm 2007, mẹ các ông bà bệnh nặng, sau
đó đến cha các ông cũng bệnh, các ông nhiều lần về thăm lại dài ngày
nhưng không hề thấy bà L đến thăm cha mẹ ngày nào. Cha mẹ ông lần lượt qua đời,
những lần về chịu tang, không hề thấy L về chịu tang cha mẹ. trước đây L đã
đổi lại họ cũ (họ Đ) thì không còn dính dáng đến gia đình nữa.
Tất cả các anh chị em thống nhất giao cho bà Hồ Thị Kim L1 được quyền sở hữu sử
dụng toàn bộ di sản của cha mẹ đlại nhà đất tại K (5/3 cũ) đường L, thành phố Đà
Nẵng. Hiện nay, Hồ Thị Kim L1 đã được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với di sản là nhà đất nói
trên theo quy định của pháp luật. Do đó, các ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; công nhận hiệu lực pháp luật của
Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế bà Đặng Thị L lập ngày 25/4/2023 do Văn phòng C1
chứng thực. Các ông thống nhất với Chứng thư thẩm định giá nhà đất tại ti tha
đất tranh chấp có giá trị 6.638.000.000 đồng. Do không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
bà L nên các ông bà không có ý kiến về việc chia thừa kế.
+ Văn phòng C1 trình bày: Tại thời điểm tiếp nhận hồ yêu cầu công chứng, Văn
phòng C1 không nhận được bất kỳ văn bản tranh chấp, công văn ngăn chặn nào liên quan
đến tài sản, người thừa kế liên quan đến hồ sơ có tên nêu trên. Văn phòng C1 đã thụ lý hồ
yêu cầu công chứng của Đặng Thị L (Hồ Thị L3) khi đầy đủ thủ tục theo quy định
của pháp luật, người từ chối đã tự nguyện cung cấp hyêu cầu lấy chữ tại nhà,
được thể hiện trong phiếu yêu cầu công chứng, phần nội dung yêu cầu đã thể hiện “vì bị
đau yêu cầu lấy chữ ký tại phòng C001, khu chung cư H, phường H, TP Đà Nẵng do
Đặng Thị L (Hồ Thị L3) tự viết. Trong văn bản tchối nhận di sản L3 đã được Công
chứng viên giải thích quyền, nghĩa vụ và lợi ích của mình, bà đã tự đọc lại đồng ý toàn bộ
nội dung trước khi ký, đồng thời điểm chvào văn bản này. Như vậy, ng chứng
viên - Văn phòng C1 đã tuân theo đúng quy trình trình tự thủ tục công chứng được quy
định Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng 2014 khi thụ “văn bản từ chối nhận di sản”
của Đặng Thị L (Hồ Thị lan). đã thụ “văn bản từ chối nhận di sản” theo đúng
yêu cầu của người yêu cầu công chứng.
+ Chi nhánh Văn phòng Đ1- Đà Nẵng ý kiến: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
và quyền sử dụng đất ở số 3401030504 do UBND thành phố Đ cấp ngày 17/01/2000 cho
ông Hồ H3 Thái Thị H4 tại địa chỉ K (513 cũ) đường L, phường T (cũ) nay
phường H, thành phố Đà Nẵng diện tích 125,1m² đất ở; kết cấu hai tầng; tường xây,
mái ngói sàn đúc; diện tích xây dựng 42,4m²; Tổng diện tích sử dụng 89,35m². Ngày
05/5/2023, bà Hồ Thị Kim L1 nộp hồ sơ đăng ký biến động về thừa kế theo hồ sơ Văn
bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế số 0515, do Văn phòng C1 lập ngày 25/4/2023.
Hồ số biên nhận số: 02995/2023/VPĐK-ĐĐ. Theo đó, tại nội dung Văn bản thoả
thuận phân chia di sản nêu trên thể hiện nội dung: “... Hồ Thị Kim L1 được hưởng
6
toàn bộ di sản của ông Hồ H3 Thái ThH4 để lại đối với di sản nêu trên, theo quy
định của pháp luật...". Căn cứ vào Văn bản thoả thuận phân chia di sản số 0515, do Văn
phòng C1 lập ngày 25/4/2023, ngày 18/5/2023, nhà đất tại Giấy chứng nhận 3401030504
đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai tại quận H, nay Chi nhánh Khu vực I
đăng biến động sang tên về thừa kế cho Hồ Thị Kim L1 theo đúng trình tự thủ tục
quy định.
+ Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hồ Thị Kim O ông Minh H2,
Lê Thị Minh T1 và ông Lê Minh H5 cùng ý kiến: Vào ngày 27/8/2025, mẹ của các ông bà
bà Hồ Thị Kim O chết. Các ông thống nhất việc mẹ các cậu, của các ông
giao cho bà Hồ Thị Kim L1 được quyền sở hữu và sử dụng toàn bộ di sản là nhà đất tại K
(5/3 ) đường L, thành phố Đà Nẵng của ông ngoại các ông để lại. Hiện nay,
Hồ Thị Kim L1 đã được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với di sản nhà đất nói trên theo quy định của
pháp luật.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án dân ssố: 166/2026/DSST ngày 26 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, thành phố Đà Nẵng đã xử quyết định: Căn cứ
các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 163, 164, 165, 166, 201, 202, 217, 227, 228, 235, 266, 271,
273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ các Điều 117, 118, 119, 620 Bộ luật dân sự năm
2015; Điều 40, 41 Luật Công chứng 2014; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về tuyên bố Văn
bản từ chối nhận di sản hiệu, giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu chia di sản
thừa kế.
2. Về án phí: Hoàn trả cho Đặng Thị L số tiền tạm ứng án phí 12.000.000 đồng
(Mười hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0004987 ngày 17/12/2024 của Chi Cc Thi
hành án dân s qun Hi Châu, thành ph Đà Nẵng (nay Phòng Thi hành án dân s
khu vc 1- Thi hành án dân s thành ph Đà Nng).
3. V chi phí t tng: Chi phí xem xét thẩm định ti ch 2.000.000 đồng và chi phí
định giá tài sản 15.000.000 đồng; Tng cộng: 17.000.000 đồng (Mười by triệu đồng)
Đặng Th L phi chu. Bà L đã nộp và chi xong.
Ngoài ra án thẩm còn thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự biết theo
quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 06/4/2026, Đặng Thị L đơn kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm với do Tòa án cấp thẩm đã không công bố đưa ra làm lại nội
dung trong buổi đối chất để tại phiên tòa xem xét nội dung ghi âm đã được làm tại
buổi đối chất là căn cứ chứng cứ cụ thể, có sự thừa nhận của vợ chồng bà Hồ Thị Kim L1
trong việc lừa dối để bà ký vào văn bản từ chối nhận di sản nhưng cấp sơ thẩm đã bỏ qua
7
nên đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị L đối với bà Hồ Thị Kim L1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa kết quả tranh tụng
tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận nghị
án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn Đặng Thị L tthấy: Ông
Hồ H3 bà Thái Thị H4 (đều chết năm 2007) sinh được 07 người con, có 01 người con
gái đầu chết tnhỏ nên còn 06 người con gồm: Hồ Thị Kim O, ông Hồ Kim L2,
Hồ Thị Kim Y, ông Hồ Kim S, bà Hồ Kim C, bà Hồ Thị Kim L1 và có 01 người con nuôi
là bà Đặng Thị L. Khi còn sống, ông H3H4 tạo lập được khối tài sản là Nhà và đất
tại thửa đất s2, tờ bản đồ số 16, diện tích 125,10m² tại địa chỉ K đường L, quận H,
thành phố Đà Nẵng do UBND quận H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
quyền sử dụng đất số 3401030504 vào ngày 17/01/2000. Khi chết đi ông H3 và bà H4
để lại di chúc lập ngày 22/11/2002, có xác nhận của UBND phường T, quận H, thành phố
Đà Nẵng. Nội dung di chúc chứa rất nhiều nội dung, nhưng không có nội dung nào để lại
cho con nuôi Đặng Thị L. Ngày 25/4/2023, Đặng Thị L đã làm Văn bản từ chối
nhận di sản thừa kế do Văn phòng C1 lập và công chứng, chứng thực những người
anh emn lại trong gia đình cũng từ chối phần di sản thừa kế nhường lại cho Hồ Thị
Kim L1 quản lý, sử dụng. Hiện nay nhà đất đã được chỉnh biến động sang cho
Hồ Thị Kim L1. Theo L thì văn bản tchối trên hoàn toàn bị L1 lừa dối để
vào văn bản từ chối, đồng thời di chúc lập ngày 22/11/2002 là không hợp pháp, không ký
giáp lai từng trang một nhưng bà Đặng Thị L không có yêu cầu xem xét nội dung di chúc
lập ngày 22/11/2002, chỉ yêu cầu chia 1 suất được hưởng theo pháp luật. HĐXX xét thấy:
Đối với văn bản từ chối nhận di sản thừa kế của Đặng Thị L thì thấy về hình thức
trình tự, thủ tục xác lập văn bản, hồ công chứng thể hiện Văn bản từ chối nhận di sản
thừa kế do Đặng Thị L lập ngày 25/4/2023 đã được công chứng viên của Văn phòng
C1 chứng nhận theo đúng trình tự, thủ tục quy định. L được yêu cầu lấy chữ tại
nhà được thể hiện trong phiếu yêu cầu công chứng, nội dung thể hiệnvì đau yêu cầu
lấy chữ tại phòng C001, khu chung H, phường H do Đặng Thị L tự viết nên
việc công chứng viên đến công chứng tại nhà. Về nội dung văn bản L người trực
tiếp yêu cầu công chứng, tự ghi nội dung yêu cầu công chứng “Tôi đồng ý từ chối nhận
ngôi nhà tại K (5/3 cũ) Tự T2 của ông Hồ H3 Thái Thị H4 để lại”, L thừa
nhận chữ ký và chữ viết là do chính bà L viết và ký. Tại thời điểm công chứng văn bản từ
chối nhận di sản, bà L cho rằng bà bị đau đầu nhưng không một quan chuyên môn
nào kết luận xác định mất khả năng nhận thức hoặc hạn chế năng lực nh vi dân sự.
Đồng thời, các tài liệu khám chữa bệnh L cung cấp sau thời điểm xác lập Văn bản.
Ngoài ra, tại đơn trình bày của bà L về giải trình xuất xứ, nội dung đoạn ghi âm hội thoại
giữa bà L1, ông X (chồng bà L1) do bà L1 trình bày ngày 18/10/2024 và căn cứ tại
8
phiên tòa phúc thẩm đã mở đoạn ghi âm cho các bên đối chất, làm rõ thì thấy có nội dung
L1 cho rằng bên công chứng làm, bà không biết và không nội dung nào L1 thừa
nhận việc tchối nhận di sản của bà Đặng Thị L bị ép buộc, không tnguyện. Trong
đoạn ghi âm còn ông X chồng L1 hội thoại với L nhưng nội dung không
ràng. Do đó, việc L cho rằng mình chỉ ý định văn bản y quyền để Hồ Thị
Kim L1 làm thủ tục xây dựng nhà thờ tự lời khai mang tính chủ quan, không phù hợp
thực tế nên việc cấp sơ thẩm xác định không đủ căn cứ để phủ nhận giá trị pháp của
văn bản công chứng đã được xác lập hợp pháp để bà L yêu cầu tuyên bố Văn bản từ chối
nhận di sản thừa kế lập ngày 25/4/2023 do Văn phòng C1 chứng thực hiệu theo
Điều 117, 118, 119, 127, 620 Bộ luật dân sự không căn cứ. Do yêu cầu tuyên bố
văn bản từ chối nhận di sản thừa kế hiệu không được chấp nhận nên việc đặt ra các
yêu cầu khác về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là tuyên hủy chỉnh biến
động sang tên Hồ Thị Kim L1 đối với ngôi nhà diện tích xây dựng 42,40m
2
, diện tích
sử dụng 89,35m
2
tọa lạc tại thửa đất s2, tờ bản đồ số 16, diện tích 125,10m², địa chỉ
tại K đường L, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất số 3401030504 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày
17/01/2000 (Hồ gốc số 5833) yêu cầu chia theo pháp luật L được hưởng một kỷ
phần bằng tiền là 948.285.714 đồng là không có căn cứ chấp nhận.
[2] Mặt khác, đối với di chúc lập ngày 22/11/2002, có xác nhận của UBND
phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, theo L di chúc này không được giáp lai
từng trang, không đúng chữ ký của cha mẹ nuôi của bà L viết. Tuy nhiên, tại đơn đề nghị
ngày 18/7/2025, bà Đặng Thị L đơn yêu cầu không thực hiện giám định chữ viết, chữ
của ông Hồ H3 Thái Thị H4 và L cũng không yêu cầu tuyên bố di chúc
lập ngày 22/11/2002 của ông H6, bà H4 là không hợp pháp.
[3] Từ những phân tích trên, không n cứ chấp nhận kháng cáo của Đặng
Thị L đối với bà Hồ Thị Kim L1.
[4] Về án phí DSST: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên
L phải chịu án phí nhưng do L thuộc trường hợp người cao tuổi, đơn nên xét
miễn toàn bộ tiền án phí.
[5] V chi phí t tng: Chi phí xem xét thẩm định ti ch 2.000.000 đng chi
phí định giá tài sản 15.000.000 đồng; Tng cộng 17.000.000 đng. Do yêu cu ca L
không được chp nhn nên bà Đặng Th L phi chịu. (Đã nộp và chi xong).
[6] Do không chấp nhận kháng cáo nên Đặng Thị L phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm nhưng được xét miễn toàn bộ án phí.
[7] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân
theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự giai đoạn phúc thẩm đề nghị
Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án
thẩm số: 166/2026/DSST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1,
thành phố Đà Nẵng theo hướng không chấp nhận kháng cáo của Đặng Thị L. Xét đề
9
nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên
chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 117, 118, 119,
127, 620 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 40, 41 Luật Công chứng 2014; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
I. Không chấp nhận kháng cáo của Đặng Thị L đối với bà Hồ Thị Kim L1.
II. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 166/2026/DSST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1, thành phố Đà Nẵng.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Đặng Thị L về việc:
1.1. Tuyên bố Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế củaĐặng Thị L (Hồ Thị L3)
số công chứng 0513, quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 lập ngày
25/4/2023 là vô hiệu do bị lừa dối.
1.2. Tuyên hủy chỉnh lý biến động xác nhận ngày 18/5/2023 để thừa kế cho bà H
Thị Kim L1 đối với ngôi nhà diện tích xây dựng 42,40m
2
, diện tích sử dụng 89,35m
2
tọa
lạc tại thửa đất số 2, tbản đồ s16, diện tích 125,10m², địa chỉ tại K đường L, quận
H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất
số 3401030504 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 17/01/2000 (Hồ gốc
số 5833).
1.3. Chia di sản thừa kế theo pháp luật bằng tiền có giá trị là 948.285.714
đồng/suất ông Hồ H3 bà Thái Thị H4 đlại nhà đất tại thửa đất số 2, tờ bản
đồ s16, diện tích 125,10m², địa chỉ tại K đường L, quận H theo Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà quyền sdụng đất số 3401030504 do UBND quận H, thành phố
Đà Nẵng cấp vào ngày 17/01/2000.
1.4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng chi
phí định gtài sản 15.000.000 đồng; Tổng cộng 17.000.000 đồng. Do yêu cầu của
Đặng Thị L không được chấp nhận nên bà L phải chịu. (Đã nộp và chi xong).
1.5. Về án phí DSST: Đặng Thị L được xét miễn toàn bộ tiền án phí. Hoàn trả
lại cho bà Đặng Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.000.000 đồng (mười hai triệu
đồng) theo biên lai thu số 0004987 ngày 17/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận
Hải Châu nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Thi hành án dân sự thành phố Đà
Nẵng.
III. Án phí DSPT: Bà Đặng Thị L được xét miễn toàn bộ án phí.
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut thi
hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b
10
ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7 và 9 Lut Thi hành án dân s; thi
hiệu thi hành án được thc hin theo quy định tại Điều 30 Lut Thi hành án dân s.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- TAND khu vực 1 - Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 1 - Đà Nẵng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bé
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 195/2026/DS-PT Bản án số 195/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 195/2026/DS-PT Bản án số 195/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất