Bản án số 375/2026/HS-PT ngày 03/07/2026 của TAND TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 375/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 375/2026/HS-PT ngày 03/07/2026 của TAND TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 375/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 375/2026/HS-PT Bản án số 375/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 375/2026/HS-PT Bản án số 375/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 375/2026/HS-PT
Ngày: 03-7-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Bà Bùi Th Thu Hng
Các Thm phán: Bà Nguyn Th Kiu Trang
Bà Nguyn Th Thanh Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phm Th Trang - Thư ký TAND thành phố Hà Ni
- Đại din Vin kim sát nhân dân thành ph Hà Ni tham gia phiên tòa:
Ông Trần Đức Duy - Kim sát viên
Ngày 03/07/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 285/2026/TLPT-HS ngày 11 tháng 5 năm
2026 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viển L đối với Bản án hình sự sơ thẩm
số 141/2026/HSST ngày 07/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5, thành phố
Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ tên: Nguyễn Viển L, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1978, tại: Ninh Bình;
CCCD: ************ do Cục Q về TTXH cấp ngày 18/10/2022; Giới tính: Nữ;
Nơi ĐKTT: Số E, phố V, phường N, tỉnh Ninh Bình Nơi ở hiện tại: P407 Tòa nhà
C khu đô thị R, phường Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Viên chức Thư viện
H2; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Bố
đẻ: Nguyễn Giang P, sinh năm 1944; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1949;
Chồng: Nguyễn Văn B, sinh năm 1974 (đã ly hôn), có 02: con lớn sinh năm 2007
và con nhỏ sinh năm 2011 ; Tiền án, tiền sự: Không.
Danh bản, chỉ bản số 390 ngày 07/02/2026 do Công an thành phố H lập. Hiện
đang bị tạm giam tại Trại giam S Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Dương Đức T- Công ty L2 thuộc đoàn
luật sư thành phố H ( Có mặt )
Bị hại: Đặng Thị C, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ A, phường V, Thành
phố Hà Nội. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liu có trong h sơ v án và din biến ti phiên tòa, ni dung v
án được tóm tắt như sau:
Năm 2019, Đặng Thị C (Sinh năm: 1966, HKTT: Tổ A G, quận L, TP
Nội nay là Phường V, TP Nội) có nhu cầu xin việc cho con gái C là ch
Trần ch N. Qua mt sbạn giới thiệu, bà C làm quen được với Nguyễn Viển
L là cán bộ trường H2 (Địa chỉ số E L, phường Đ, B, TP Hà Nội nay là phường
Đ TP Nội). C gặp gỡ trao đổi, nói với L vnguyện vọng xin cho con gái
C ứng tuyển thi công chức được vào làm việc giảng dạy tại trường H2. L
đồng ý nói với C chi phí xin việc cho con gái C 230.000.00(Hai
trăm ba mươi triệu đồng). Thỏa thuận chuyển trước số tiền 100.000.000 đồng
(Một trăm triệu đồng) khi nào nộp hồ sơ thì tiếp tục chuyển tiếp số tiền còn lại là
130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Ngày 05/7/2019, tại phòng G,
đường N, phường Đ, quận L, TP Nội C đã chuyển số tiền 100.000.000 đồng
(Một trăm triệu đồng) đến tài khoản 21510000087655 của Nguyễn Viển L tại
Ngân hàng Đ - B1. N thực hiện nộp hồ sơ theo yêu cầu và hướng dẫn của L, tuy
nhiên sau đó L nói không thể xin được việc cho N vào Học viện H2 do hồ
không đủ điều kiện xét duyệt, điểm không đạt yêu cầu. L tiếp tục hứa hẹn xin việc
cho N vào Trường đại học K. Ngày 20/9/2021, tại nhà bà C (Địa chỉ tổ A, phường
G, quận L, TP Nội) chị N chuyển số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi
triệu đồng) ttài khoản chị N đến tài khoản 21510000087655 của L tại Ngân
hàng B1 qua ứng dụng Internet banking. L tiếp tục đưa ra thông tin gian dối với
C về việc đưa số tiền 230.000.000đ (Hai trăm ba mươi triệu đồng) cho H
trường Trường đại học K để chạy việc cho N thực tế L đã tiêu xài cá nhân hết số
tiền này không đưa tiền cho ai. Sau thời gian dài chờ đợi, L không xin được
việc cho N, bà C yêu cầu L trả lại tiền không nhờ L xin việc cho chị N nữa.
Nguyễn Viển L đồng ý trả lại tiền tuy nhiên sau nhiều lần đòi tiền, L đều không
trả lại. Vì vậy, bà C viết đơn tố giác L về hành vi chiếm đoạt tài sản.
Vật chứng thu giữ: Số tiền: 107.000.000 đ ( Một trăm linh bảy triệu đồng)
do Nguyễn Viễn L1 giao nộp
Tiến hành xác minh tại Học viện H2 xác định: Nguyễn Viển L được giao
công việc phụ trách số hóa các tài liệu nội sinh của Học viên; quản công văn đi
đến của Thư viện. Ngoài nhiệm vụ được giao nêu trên L không được giao nhiệm
vụ liên quan đến công tác tuyển dụng và các nhiệm vụ khác.
3
Đối với việc tuyển dụng của chị Trần Bích N Học viện H2 cung cấp như sau:
Năm 2021, Học viện H2 thực hiện Kế hoạch tuyển dụng viên chức theo Quyết
định số 1388/QĐ-BTC ngày 27/07/2021 của Bộ trưởng Bộ T2 về việc phê duyệt
kế hoạch tuyển dụng viên chức. Học viện H2 nhận được hồ sơ đăng tuyển
dụng của Trần Thị Bích N qua Bưu điện. Hội đồng tuyển dụng của Học viện
H2 đã nghiên cứu, xem xét hồ sơ của các ứng viên, đối chiếu với tiêu chuẩn tuyển
dụng của Học viện năm 2021, hồ sơ của bà Trần Thị Bích N ứng tuyển vào vị trí
giảng viên Bộ môn Tài chính doanh nghiệp, Khoa Tài chính doanh nghiệp không
đủ điều kiện, tiêu chuẩn dự tuyển chức danh giảng viên .
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Trường đại học K xác định: Từ năm
2019 đến năm 2022 hiện nay, T1 không tuyển dụng tiếp nhận hồ tuyển
dụng của cán bộ, giảng viên, nhân viên nào tên Nguyễn Viển L ( Sinh năm:
1978, CCCD số: ************) Trần Bích N ( Sinh năm: 1996, CCCD số:
************).
Tiến hành xác minh số điện thoại 0364083737 là số điện thoại của Nguyễn
Viển L sdụng, xác định không có việc L liên hvới ông Trần P1 - Nguyên hiệu
trưởng trường Đại Học K (đã chết), Nguyễn Trọng C1 - N1 hiệu trưởng Học viện
H2 (Sinh năm: 1963; Trú tại: Tòa nhà A - Chung cư V, phường P, thành phố Hà
Nội) ông n H1 (Sinh năm: 1944, Trú tại: Số A, đường N, phường Đ,
quận B nay thuộc phường Đ, thành phố Hà Nội) nguyên Phó hiệu trưởng Trường
K.
Tại quan điều tra, Nguyễn Viển L khai nhận như trên, phù hợp với lời
khai bị hại, người liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.
Đối với số tiền 107.000.000 đ (Một trăm linh bảy triệu đồng) bị cáo nộp khắc
phục hậu quả cơ quan điều tra chuyển Tòa án xem xét, xử lý.
Về dân sự: Ngày 02/2026, Ông Nguyễn Giang P (Sinh năm: 1944, trú tại:
S E, ph V, phường N, tnh Ninh Bình bố của bị can) đã trả C số tiền
123.000.000 đồng (Một trăm hai mươi ba triệu đồng), bà C không yêu cầu
thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với L.
Tại bản cáo Cáo trạng số 193 ngày 09/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 5 Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Viển L vtội: “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản ” theo điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2026/HSST ngày 07/4/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 5, Thành phố Hà Nội quyết định:
4
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viển L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Viển L 7 (bảy) năm. Thời hạn tù tính từ ngày
06/02/2025
Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/4/2026 bị cáo Nguyễn Viển L kháng cáo bản
án hình sự sơ thẩm số 141/2026/HSST ngày 07/4/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 5, thành phố Hà Nội, đề nghị sửa án thẩm với do xin giảm nhẹ hình phạt
do bị cáo đã khắc phục bồi thường.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Viển L giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo giảm mức án phạt tù
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Viển L nộp đơn
kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm
chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá toàn bộ tình tiết, nội dung vụ án,
nhân thân bị cáo, tài liệu chứng cứ bị cáo xuất trình tại phiên tòa, Đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viển L: Sửa một phần quyết định của
bản án thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo, giảm hình phạt cho bcáo. Áp
dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38;
Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn
Viển L mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Bị cáo không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Luật bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải, phạm tội lần đầu. Số tiền bị cáo chiếm đoạt đã được khắc phục hoàn toàn,
trả cho bị hại, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bố
đẻ là người có nhiều đóng góp vào lĩnh vực Văn học, nghệ thuật được tặng nhiều
giải thưởng kỷ niệm chương, gia đình công với Cách mạng. Đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, áp dụng điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51, điều 54 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt
5
thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo hội cải tạo
sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo nhận tội, ăn năn hối hận về hành vi
của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Trên cơ s ni dung v án, căn cứ vào các tài liu trong h vụ án đã được
tranh tng ti phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn,
đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng trong qtrình điều tra, truy tố, xét xử thẩm về
trình tự, thủ tục thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự. Quá trình điều tra tại phiên toà, bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do
đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung:
Căn cứ li khai ca b cáo Nguyễn Viển L; căn cứ các tài liu, chng c khác
có trong h sơ; hành vi ca các b cáo th hin như sau:
Năm 2019, tại phường Đ, quận L, thành phố Nội (nay phường V, thành
phố Hà Nội) bị cáo Nguyễn Viển L có hành vi lừa đảo (đưa thông tin gian dối để
nhận tiền xin việc làm) chiếm đoạt số tiền 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi
triệu đồng) của bà Đặng Thị C bị phát hiện, bắt giữ.
Với hành vi trên, Bản án thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Viển L vtội Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bluật Hình
sự năm 2015 như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội. Hành vi phạm tội của
bị cáo nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến an ninh trật tự, an toàn
hội nên phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật để phòng chống tội phạm
và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về hình phạt: Khi quyết định hình pht Tòa cấp thẩm đã xem xét
nhân thân, vai trò đánh giá tính cht, mức độ hành vi phm ti áp dng các tình
tiết tăng nặng, gim nh trách nhim hình s x pht b cáo L 7 (bảy) năm
giam là có phn nghiêm khc.
Hội đồng xét x xét thy ti cp phúc thm b cáo xin gim nh hình pht
do bị cáo Nguyễn Viển L đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo phạm tội lần
6
đầu, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, bcáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải,
bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bố đẻ là người có
nhiều đóng góp vào lĩnh vực Văn học, nghệ thuật được tặng nhiều giải thưởng và
kỷ niệm chương, gia đình công với Cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình stheo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357
Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 54 Bộ luật hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa quyết định của bản án sơ thẩm: Xử bị cáo
mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục
và tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 45, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357
Bộ luật tố tụng hình sự:
I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viển L
II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2026/HSST ngày 07/4/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 5, thành phố Hà Nội về hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viển L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Viển L 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm
giam 06/02/2025.
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi và danh mc án phí, l phí;
Bị cáo Nguyễn Viển L không phải chịu 200.000 án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
7
Nơi nhận:
- VKSND TP Hà Nội;
- Tòa án và VKSND khu vực 5, Hà Nội;
- Phòng THADS khu vực 5, Hà Nội;
- Công an TP Hà Nội;
- Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thu Hồng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 375/2026/HS-PT Bản án số 375/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 375/2026/HS-PT Bản án số 375/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất