Bản án số 483/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 483/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 483/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 483/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng thuê đất được thiết lập giữa bà T với ông C3 vào năm 2001. Buộc bà K, anh M, chị L, chị K4, anh L1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng và giao phần đất cho bà T quản lý sử dụng. Phần đất ngang giáp sông K 34m; ngang hậu 60m; dài 660m, có vị trí
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 483/2026/DS-PT Bản án số 483/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 483/2026/DS-PT Bản án số 483/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 483/2026/DS-PT
Ngày: 16 - 07 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng thuê quyền
sử dụng đất, bồi thường thiệt hại do
tài sản bị xâm phạm.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập;
Ông Lê Phan Công Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thủy Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Trương Trung Tín - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 185/2025/TLPT-DS ngày
17 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, bồi thường
thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4
- Cà Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 348/2026/-PT ngày 19
tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Thị T, sinh năm 1951; Căn cước công dân số:
************; cấp ngày: 22/09/2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính v
trật tự xã hội; Cư trú tại: Ấp C, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Ấp C, xã
G, tỉnh Cà Mau).
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Bùi Kim N, sinh
năm 1976; Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 07/04/2023; nơi cấp:
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cư trú tại: Ấp D, xã G, tỉnh
Mau (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Trần Như N1,
sinh năm 1992; Cư trú tại: Khóm C, phường T, Thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là:
Phường T, tỉnh Cà Mau) (có mặt).
2
- Bị đơn:
1. Trần Thị K, sinh năm 1958; n cước công dân số: ************;
cấp ngày: 14/08/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội;
Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (có
đơn xét xử vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Kha M, sinh năm 1983; Căn cước công dân số:
************; cấp ngày: 27/10/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự xã hội; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là: ấp L, xã T,
tỉnh Cà Mau) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh M: Ông Trần Chí T1 - Luật
sư thuộc Công ty L7 - Chi nhánh C5 - Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Hòa L, sinh năm 1981; Căn cước công dân số:
************; cấp ngày: 14/08/2021 ; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự hội; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay là: ấp L, T,
tỉnh Cà Mau) (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị L: Ông Trần Chí T1 - Luật
sư thuộc Công ty L7 - Chi nhánh C5 - Đoàn luật sư Thành phố H.
2. Anh Nguyễn Duy L1, sinh năm 1989; trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh
Cà Mau (nay là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (có đơn xét xử vắng mặt).
3. Chị Phạm Mộng N2; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
4. Anh Nguyễn Khánh D; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
5. Anh Nguyễn Văn Q; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
6. Anh Nguyễn Văn P; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
7. Ông Trần Văn C; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là: ấp
L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
8. Anh Nguyễn Xuân T2; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
9. Chị Nguyễn Thị H; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
10. Anh Trương Tuấn K1; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
11. Anh Trương Tuấn K2; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
3
12. Anh Trương Tuấn K3; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
13. Chị Thái Ngọc V; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay là: ấp
L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
14. Chị Thái Ngọc T3; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
15. Chị Nguyễn Thị N3; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
16. Anh Thái Tạ L2; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là: ấp
L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
17. Chị Nguyễn Thị H1; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
18. Anh Trần Văn P1; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
19. Ông Trần Văn H2; Cư trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
20. Chị Trần Thị V1; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là: ấp
L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
21. Anh Nguyễn Văn C1; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
22. Chị Trương Thị Thu T4; ttại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
23. Anh Nguyễn Văn T5; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
24. Anh Trần Thanh L3; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
25. Anh Huỳnh Quốc T6; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
26. Ông Văn T7, sinh năm 1965; Cư trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Cà
Mau (nay là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
27. Nguyễn Mỹ H3, sinh năm 1966; trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh
Cà Mau (nay là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
28. Chị Trần Thị C2, sinh năm 1976; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà
Mau (nay là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
29. Anh Huỳnh Văn V2; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
30. Phan Hồng D1; trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay là:
ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
4
31. Huỳnh Mỹ S; trú tại: thị trấn N, huyện N, huyện Đ, tỉnh Mau
(nay là: xã N, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
32. Anh Huỳnh Anh H4; trú tại: ấp L, T, huyện Đ, tỉnh Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
33. Bà Trần Thị T8; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là: ấp
L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
34. Ông Nguyễn Ngọc T9; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
35. Ông Nguyễn Văn S1; trú tại: ấp N, T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang
(nay là: Ấp N, Phường T, An Giang) (vắng mặt).
36. Anh Nguyễn Văn T10; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay
là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
37. Cháu Nguyễn Cát T11, sinh năm 2000; trú tại: ấp L, T, huyện Đ,
tỉnh Cà Mau (nay là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
38. Cháu Nguyễn Tường V3, sinh năm 2003; Cư trú tại: ấp L, xã T, huyện Đ,
tỉnh Cà Mau (nay là: ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
- Do có kháng cáo của:
1. Bà Trương Thị T - Nguyên đơn.
2. Bà Trần Thị K - Bị đơn.
3. Anh Nguyễn Kha M - Bị đơn.
4. Chị Nguyễn Thị Hòa L - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5. Anh Nguyễn Duy L1 - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn trình bày: Năm 2001, bà T hợp đồng thuê phần đất nuôi
tôm diện tích hơn 03ha của ông Nguyễn Văn C3, với số tiền 250.000.000 đồng, thời
hạn thuê 49 năm ông C3 đã nhận đủ tiền. Ngày 02/9/2022 ông C3 chết. Sau khi
ông C3 chết, bà K và anh M làm thủ tục thừa kế và đứng tên phần đất của ông C3.
Khi nhận đất thuê từ ông C3, bà T cải tạo đất, làm cống xổ, thả con giống với
tổng số tiền là 95.000.000 đồng. Thời gian sau, gia đình ông C3 biết T bị thất lạc
hợp đồng thuê đất nên đã lấy lại phần đất, không cho T sử dụng phần đất thuê.
Khi ông C3 lấy lại đất thì không bồi thường hay trả lại tiền cho T số tiền đầu
và số tiền thuê đất là 345.000.000 đồng.
Nay bà T u cầu Tòa án công nhận hợp đồng thuê đất được thiết lập giữa bà
T với ông C3 vào năm 2001. Buộc bà K, anh M, chị L, chK4, anh L1 phải tiếp tục
thực hiện hợp đồng và giao phần đất cho T quản lý sử dụng. Phần đất ngang giáp
sông K 34m; ngang hậu 60m; dài 660m, có vị trí: Hướng Đông giáp đường kinh xổ
của ông C3; hướng y giáp phần đất ông Văn L4; hướng Nam giáp sông K;
5
hướng Bắc giáp đất ông Cao Tấn L5. Buộc bà K, anh M, chị L, chị K4, anh L1 bồi
thường các khoản với số tiền 9.936.000.000 đồng.
Phía bị đơn trình bày: Về hợp đồng thuê đất nuôi tôm dài hạn đề ngày
12/9/2001 do T cung cấp cho rằng ông Nguyễn Văn C3 đã nhận đủ số
tiền 250.000.000 đồng và có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T. Khi còn
sống ông C3 khẳng định giữa ông với T không bất cứ hợp đồng cho thuê
đất nào cũng không nhận bất cứ khoản tiền nào từ việc cho thuê đất của bà T.
Chữ và chữ viết trên hợp đồng nuôi tôm dài hạn (bên bán đất, cho thuê đất ký)
không phải của ông C3. Bị đơn không đồng ý giao phần đất thuê và bồi thường thiệt
hại theo yêu cầu của T. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng đã hết.
Nay bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại Bản án dân sự thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Mau (Nay Tòa án nhân dân Khu
vực 4 - Cà Mau) đã quyết định (tóm tắt):
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa nguyên đơn bà Trương
Thị T với bị đơn bà Trần Thị K và anh Nguyễn Kha M.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
- Ngày 12/5/2025 Trương Thị T nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc
thẩm tuyên hủy bản án thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân
dân huyện Đầm Dơi để giải quyết lại theo hướng xác định quan hệ tranh chấp đòi lại
tài sản là quyền sử dụng đất thuê.
- Ngày 24/6/2026, T đơn kháng o bổ sung, cho rằng mới tìm được
“Giấy sang nhượng đất” lập ngày 10/9/2001, nội dung ông Nguyễn Văn C3
chuyển nhượng cho diện tích hơn 03ha đất nuôi tôm với giá 250.000.000 đồng;
từ đó yêu cầu hủy bản án thẩm, xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp quyền
sử dụng đất, công nhận hợp đồng chuyển nhượng và công nhận phần đất tranh chấp
thuộc quyền sử dụng của bà.
- Ngày 14/5/2025 bà Trần Thị K, anh Nguyễn Kha M bị đơn; chị Nguyễn
Thị Hòa L, anh Nguyên Duy L6 là người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo
một phần bản án dân sự thẩm số 106/2025/DSST, ngày 29/4/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Đầm Dơi. Những người kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh
Mau xem xét giải quyết phúc thẩm, cụ thể như sau:
1. Trường hợp giám định chữ mang tên C3 trên "Hợp đồng cho thuê đất
nuôi tôm i hạn bổ sung sang nhượng đất lập ngày 12/9/2001" không phải
chữ ký ca ông Nguyên Văn C4. Chúng tôi yêu cầu Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
2. Trường hợp giám định chữ ký là của ông Nguyễn Văn C3 hoặc Tòa án cấp
phúc thẩm không trưng cầu giám định chữ ký mang tên C3 trên "Hợp đồng cho th
6
đất nuôi tôm dài hạn và bổ sung sang nhượng đất lập ngày 12/9/2001". Chúng tôi
yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện giữ y bản án sơ thẩm số 106/2025/DS
- ST, ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Bùi Kim N yêu cầu rút đơn
khởi kiện rút đơn kháng cáo nhưng do phía bị đơn không đồng ý việc rút đơn
kháng cáo, nên bà Bùi Kim N xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và kháng cáo
bổ sung.
Bị đơn không đồng ý việc rút đơn khởi kiện của phía nguyên đơn. Bị đơn và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bà Trương Thị T trình bày:
Tại cấp phúc thẩm, T có chứng cứ mới để chứng minh việc ông C3 chuyển
nhượng quyền sdụng đất chứ không phải là hợp đồng thuê đất. Do đó, đề nghHội
đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án thẩm số 106/2025/DS-ST ngày
29/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau để giải quyết lại theo
thủ tục sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho anh Nguyễn Kha M chị Nguyễn Thị
Hòa L trình bày:
Nếu T cho rằng tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thì không việc thuê đất, đề nghị Hội đồng xét xbác đơn khởi kiện. Nếu xác định
tranh chấp hợp đồng thuê đất thì đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án
thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo
pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của Trương Thị T. Chấp nhận kháng
cáo của bị đơn bà Trần Thị K, anh Nguyễn Kha M và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan anh Nguyễn Duy L1, chị Nguyễn Thị Hòa L. Sửa Bản án sơ thẩm số
106/2025/DS-ST, ngày 29 tháng 4 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi,
tỉnh Mau (nay Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Mau), theo hướng dành cho
bà T quyền khởi kiện để đòi lại số tiền 250.000.000 đồng đã giao cho ông C3.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của Trương Thị T nguyên đơn, Trần Thị K,
anh Nguyễn Kha M bị đơn, chị Nguyễn Thị Hòa L anh Nguyễn Duy L1
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xthấy rằng các đơn kháng
cáo đều được thực hiện trong thời hạn luật định, đáp ứng các điều kiện quy định tại
7
các Điều 271, 272 273 Bộ luật Tố tụng dân snên được xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
Trần Thị K là bị đơn, anh Nguyễn Duy L1 là người có quyền lợi, nghĩa v
liên quan có kháng cáo nhưng có đơn yêu cầu xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử
tiến hành xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của T: T cho rằng Tòa án cấp thẩm xác
định quan htranh chấp “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất bồi
thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” không đúng, phải xác định “Đòi
lại tài sản là quyền sử dụng đất thuê” để không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy, trong đơn khởi kiện và suốt quá trình tố tụng
tại cấp thẩm, T đều cho rằng quyền sử dụng phần đất tranh chấp của phát
sinh thợp đồng thuê đất thời hạn 49 năm với ông Nguyễn Văn C3; trên sở
đó yêu cầu công nhận hợp đồng, buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông
C3 tiếp tục thực hiện hợp đồng, giao đất cho bà sử dụng và bồi thường thiệt hại.
[2.2] Như vậy, quyền T u cầu bảo vệ quyền phát sinh từ hợp đồng.
T không phải là người quyền sử dụng đất độc lập với hợp đồng; nếu không
hợp đồng thuê thì bà không có căn cứ yêu cầu giao đất. Do đó, yêu cầu giao đất chỉ
là hệ quả của yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, không phải yêu cầu đòi lại tài sản
độc lập. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp và áp dụng thời hiệu khởi
kiện đối với tranh chấp hợp đồng theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 là có căn
cứ.
[3] Vthời hiệu khởi kiện: Theo lời trình bày của nguyên đơn, cuối năm 2002
ông Nguyễn Văn C3 đã lấy lại đất và không cho T tiếp tục sử dụng. Từ thời điểm
này, T đã biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm nhưng đến năm 2024 mới
khởi kiện.
Việc bà T cho rằng nhà bị sạt lở làm thất lạc hợp đồng không phải là sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo Điều 156 Bộ luật Dân snăm 2015.
Việc thất lạc hợp đồng chỉ ảnh hưởng đến khả năng cung cấp chứng cứ, không làm
mất quyền khởi kiện cũng không cản trở T yêu cầu quan thẩm quyền
bảo vệ quyền lợi khi biết đất đã bị lấy lại. Vì vậy, không căn cứ loại trừ khoảng
thời gian này khi tính thời hiệu khởi kiện.
Bị đơn đã yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án.
Do quyền, lợi ích mà nguyên đơn yêu cầu bảo vệ đã bị xâm phạm từ năm 2002, đến
năm 2024 mới khởi kiện và không có căn cứ áp dụng Điều 156 Bộ luật Dân sự năm
2015 nên Tòa án cấp thẩm đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 2 Điều 184 Bộ
luật Tố tụng dân sự là đúng pháp luật.
[4] Tại cấp phúc thẩm, các bên yêu cầu giám định những tài liệu liên quan đến
việc thuê đất, nhận tiền giao đất. Tuy nhiên, kết quả giám định các tài liệu này,
nếu , chỉ ý nghĩa đối với việc xác định giao dịch được xác lập hay không,
không làm thay đổi thời điểm nguyên đơn biết quyền lợi bị xâm phạm và không làm
phát sinh lại thời hiệu khởi kiện đã hết.
8
[5] Về kháng cáo bổ sung của bà Trương Thị T
Tại cấp sơ thẩm trong đơn kháng cáo ban đầu, T đều căn cứ vào hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất thời hạn 49 năm để yêu cầu công nhận hợp đồng,
tiếp tục thực hiện hợp đồng và giao đất cho bà sử dụng.
Đến ngày 15/7/2026, bà T nộp bổ sung Đơn kháng cáo (đơn ghi ngày
24/6/2026), căn cứ vào “Giấy sang nhượng đất” ngày 10/9/2001 để yêu cầu công
nhận hợp đồng chuyển nhượng và công nhận quyền sử dụng đất. Nội dung này làm
thay đổi căn cứ phát sinh quyền, nội dung yêu cầu và hậu quả pháp lý của giao dịch;
thuộc quan hệ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất, khác với
quan hệ tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất đã được cấp thẩm giải quyết.
Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng chưa được khởi kiện, thụ lý và
giải quyết tại cấp thẩm; đồng thời vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu theo khoản
2 Điều 284 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, không có căn cứ chấp nhận
kháng cáo bổ sung yêu cầu hủy bản án thẩm. T quyền khởi kiện bằng vụ
án khác đối với giao dịch chuyển nhượng nếu căn cứ đủ điều kiện theo quy
định của pháp luật.
[6] Đối với yêu cầu trưng cầu giám định theo đơn ngày 13/7/2026
Ngày 15/6/2026 người đại diện của T nộp đơn yêu cầu thu thập mẫu chữ
của ông Nguyễn Văn C3 để giám định chữ trong “Giấy sang nhượng đất” ngày
10/9/2001.
Như đã nhận định trên, tài liệu này được cung cấp để chứng minh cho một
giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quan hệ tranh chấp khác không
thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm của vụ án. Vì vậy, việc xác định chữ ký trong giấy
sang nhượng phải của ông C3 hay không không cần thiết cho việc giải quyết
kháng cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không
chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định theo đơn ngày 13/7/2026.
[7] Đối với kháng cáo của Trần Thị K, anh Nguyễn Kha M bị đơn; chị
Nguyễn Thị Hòa L, anh Nguyên Duy L6 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Từ các phân tích trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng thời hiệu và đình chỉ
giải quyết vụ án căn cứ. Do đó, chấp nhận kháng cáo của Trần Thị K, anh
Nguyễn Kha M, chị Nguyễn Thị Hòa L và anh Nguyễn Duy L1 về việc giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc không chấp nhận kháng cáo
của T và xác định vụ án đã hết thời hiệu phù hợp nên được chấp nhận. Tuy
nhiên, nguyên đơn không yêu cầu độc lập về việc hoàn trả số tiền 250.000.000
đồng nên Tòa án không xem xét trong vụ án này. Việc khởi kiện yêu cầu hoàn trả
tiền, nếu có, là quyền tố tụng của đương sự và không phụ thuộc vào việc bản án
tuyên “dành quyền khởi kiện” hay không.
[9] Từ những căn cứ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo của bà Trương Thị T; chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị K, anh Nguyễn Kha
M, chị Nguyễn Thị Hòa L, anh Nguyễn Duy L1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
9
[10] Lời trình bày của Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho nguyên
đơn không phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử, nên không được
chấp nhận.
Lời trình bày của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn
Kha M, chị Nguyễn Thị Hòa L phần phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng
xét xử, nên được chấp nhận một phần.
[11] Chi phí tố tụng:
Trương Thị T phải chịu chi phí thẩm định tại cấp thẩm, với số tiền
4.985.000 đồng (đã nộp xong).
Chi phí giám định tại cấp phúc thẩm: Tổng stiền 7.322.000 đồng. Do phía
nguyên đơn là bà Trương Thị T và phía bị đơn, người có quyền lợi & nghĩa vụ liên
quan (gồm bà Trần Thị K, anh Nguyễn Kha M, chị Nguyễn Thị Hòa L, anh Nguyễn
Duy L1) đều yêu cầu giám định, nên mỗi bên phải chịu ½ chi phí = 3.661.000
đồng (đã nộp xong).
[12] Án phí dân sự:
Trương Thị T người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và
phúc thẩm.
Trần Thị K, anh Nguyễn Kha M, chị Nguyễn Thị a L, anh Nguyễn Duy
L1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại số tiền đã tạm ứng án.
[13] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bkháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo củaTrương Thị T.
Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị K, anh Nguyễn Kha M, chị Nguyễn Thị
Hòa L, anh Nguyễn Duy L1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Mau (nay Tòa án nhân dân
Khu vực 4 - Cà Mau).
Tuyên xử:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng thuê quyền
sử dụng đất bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa nguyên đơn
Trương Thị T với bị đơn bà Trần Thị K và anh Nguyễn Kha M.
2. Về chi phí tố tụng:
10
Trương Thị T phải chịu chi phí thẩm định với số tiền 4.985.000 đồng
chi phí giám định với số tiền 3.661.000 đồng (đã nộp xong).
Trần Thị K, anh Nguyễn Kha M, chị Nguyễn Thị Hòa L, anh Nguyễn Duy
L1 cùng phải chịu chi phí giám định với số tiền 3.661.000 đồng (đã nộp xong).
3. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm: Bà Trương Thị T được miễn.
- Án phí phúc thẩm:
Trương Thị T được miễn.
Trần Thị K, anh Nguyễn Kha M, chị Nguyễn Thị Hòa L, anh Nguyên Duy
L6 không phải chịu án phí dân sphúc thẩm. Ngày 14/5/2025 anh M, chL, anh L6
đã nộp tạm ứng mỗi người 300.000 đồng, theo các biên lai số 0001146, 0001144,
0001145 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Mau, được nhận lại (bà K đã được
miễn dự nộp).
Các quyết định khác của bản ánthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thành Lập Lê Phan Công Trí
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
11
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 4 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
12
13
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 4 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 483/2026/DS-PT Bản án số 483/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 483/2026/DS-PT Bản án số 483/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất