Bản án số 577/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 577/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 577/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 577/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 01 tháng 10 năm 2025, bị đơn Phạm Thị Tuyết H1, Lê Thị Hương D có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 577/2026/DS-PT Bản án số 577/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 577/2026/DS-PT Bản án số 577/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 577 /2026/DS-PT
Ngày: 07 -07- 2026
V/v tranh chấp: “Yêu cầu
hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất,
Hợp đồng vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt
Nguyễn Ái Đoan
- Thư phiên tòa: Mai Gia Khánh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa:
Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 6 và ngày 07 tháng 07 năm 2026 tại trụ sở Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
161/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 03 năm 2026 về “Yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 244/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 932/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 04 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Tô Đức H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: A lô B, khu dân cư B, phường B, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc P, sinh
năm 1991 (có mặt);
Địa chỉ: số D Khu phố G, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:
1. Bà Phạm Thị Tuyết H1, sinh năm 1965;
2
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Chị Lê Thị Hương D, sinh năm 1990 (có mặt);
Địa chỉ: G N, phường M, tỉnh Đồng Tháp;
Địa chỉ liên hệ: khu phố M, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc D1, sinh năm 1972 (có
mặt);
Địa chỉ: 2 khu phố H, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Văn T, sinh năm 1961 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp H, xã H, tỉnh Tây Ninh;
2. Anh Nguyễn Thuận T1, sinh năm 1985 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: số G N, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bị đơn Phạm Thị Tuyết H1, chị Lê Thị Hương D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án thẩm, nguyên đơn anh Đức H, đại diện ủy quyền chị
Nguyễn Ngọc P trình bày: Ngày 27/01/2019, anh Đức H thỏa thuận mua
phần đất nhà tọa lạc tại số D, ấp Đ, Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang của
Phạm Thị Tuyết H1 chị Lê Thị Hương D. Theo thỏa thuận giá chuyển
nhượng của thửa đất trên là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Do thửa đất trên H1 chị D đang thế chấp tại ngân hàng nên chưa thể
làm thủ tục sang tên thửa đất sang cho anh H theo quy định pháp luật. Anh H đã
đặt cọc cho H1 chDuyên số tiền 300.000.000 đồng, H1 chị D
viết giấy mua bán đất và giao anh H cất giữ. Đồng thời, bà H1 và chị D còn giao
cho anh H cất giữ 01 (bản chính) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 283, tờ bản đồ số 22, diện tích 452,4m
2
tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện
C, tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành
CI434740 do Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh T cấp ngày 09/6/2017 mang
tên Thị Hương D để làm tin do giấy đất của H1 còn đang thế chấp ngân
hàng. Anh H chthỏa thuận mua bán thửa đất của H1 chứ không thỏa
thuận mua đất của chị D.
Theo thỏa thuận sau khi hoàn tất thủ tục mua bán đất thì anh H sẽ giao cho
H1 chị Duyên stiền còn lại 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Tuy nhiên, ngày 16/06/2019 H1 và chị D yêu cầu anh H đưa thêm số tiền
3
50.000.000 đồng để làm thủ tục sang tên đất.
Từ tháng 06/2019 cho đến nay anh H đã nhiều lần yêu cầu H1 chị D
có nghĩa vụ sang tên thửa đất sang cho anh H theo đúng thỏa thuận nhưng bà H1
và chị D cứ hứa hẹn mà không thực hiện và tìm nhiều lý do tránh mặt. Hiện nay,
qua tìm hiểu anh H được biết nhà đất trên H1 và chị D đã bán cho người
khác.
Đồng thời, vào ngày 16/6/2019, bà H1 và chD mượn của anh H số tiền
40.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất. H1 chị D viết biên nhận
mượn tiền và giao anh H cất giữ. Theo thỏa thuận H1 chị D cam kết trong
vòng 06 tháng sẽ trả lại cho anh H số tiền đã mượn. Tuy nhiên, từ tháng 12/2019
đến nay, anh H đã nhiều lần yêu cầu bà H1 và chị D có nghĩa vụ trả lại số tiền đã
mượn nhưng H1 chị D cứ hứa hẹn không thực hiện tìm nhiều do
tránh mặt.
Do đó, nguyên đơn anh H khởi kiện như sau:
1/ Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán đất được lập vào ngày 27/01/2019 giữa
anh Đức H Phạm Thị Tuyết H1, chị Thị Hương D đối với thửa đất
tọa lạc tại số D, ấp Đ, Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay T, tỉnh Đồng
Tháp).
2/ Yêu cầu H1 chị D nghĩa vụ liên đới trả cho anh H tổng số tiền
đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất 350.000.000 đồng và yêu cầu tính
lãi theo lãi suất theo quy định pháp luật là 0,83%/ tháng, cụ thể như sau:
- Đối với số tiền 300.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi từ ngày 27/01/2019
đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử (tạm tính đến ngày nộp đơn khởi kiện
ngày 23/12/2024) là: 300.000.000 đồng x 0,83%/ tháng x 71 tháng =
176.790.000 đồng.
- Đối với số tiền 50.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi từ ngày 16/6/2019 đến
ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử (tạm tính đến ngày nộp đơn khởi kiện ngày
23/12/2024) là: 50.000.000 đồng x 0,83%/ tháng x 66 tháng = 27.390.000 đồng.
Tổng cộng vốn lãi là 554.180.000 đồng.
3/ Anh H đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa đất số 283, tờ bản đồ số 22, diện tích 452,4m
2
tọa lạc tại ấp Đ, Đ,
huyện C, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành
là CI434740 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp ngày 09/6/2017 mang
tên Lê Thị Hương D.
4
4/ Yêu cầu bà H1 và chị D có nghĩa vụ liên đới trả cho anh H số tiền vay là
40.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật là 0,83%/ tháng tính từ ngày
16/6/2019 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử (tạm tính đến ngày nộp đơn khởi
kiện là ngày 23/12/2024) là: 40.000.000 đồng x 0,83%/ tháng x 66 tháng =
21.912.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 40.000.000 đồng + 21.912.000 đồng =
61.912.000 đồng.
Bị đơn bà Phạm Thị Tuyết H1 và chị Lê Thị Hương D, có đại diện ủy quyền
là ông Phạm Ngọc D1 trình bày:
Phạm Thị Tuyết H1 chị Thị Hương D không bán đất cũng
không có vay tiền ông Tô Đức H.
Số tiền 400.000.000 đồng H1 và chị D nhận với ông H vào các
ngày 27/01/2019, 16/6/2019 tiền ông H đặt cọc để mua đất của ông Trần Văn
T, sinh năm 1961, địa chỉ: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An, đất ông H đặt cọc
mua của ông T tại ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An. Tuy nhiên, tại thời điểm
nhận tiền ông T chưa đứng tên được thửa đất tại ấp H để giao dịch đặt cọc với
ông H, từ đó, H1 chị D mới giấy bán thửa đất của H1 cho ông H để
ông H làm tin đưa tiền đặt cọc cho ông T 400.000.000 đồng. Số tiền
400.000.000 đồng ông H đưa trực tiếp cho ông T, nhưng H1 chị D
người ký tên vào biên nhận.
Nội dung trên được ông H ông T xác nhận trong Hợp đồng mua bán
đất” ngày 12/8/2018 giữa ông Trần Văn T (Bên bán đất) với ông Tô Đức H (Bên
mua đất). Nội dung như sau: Nay ngày 16/6/2019 Tôi Trần Văn T nhận tiền
của Đức H: Đây tiền cọc 400.000.000 đồng, khấu trừ hợp đồng mua đất
tại huyện C, tỉnh Tiền Giang, ký tên, ghi rõ họ tên Trần Văn T....”.
Do đó, số tiền 400.000.000 đồng ông H khởi kiện bà H1 và chị D là số tiền
ông H đặt cọc mua đất của ông T tại ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An, ông H
ông T đã xác định thống nhất tại Hợp đồng mua bán đất ngày 12/8/2018.
Theo thông tin được biết hiện nay ông T đã thực hiện việc chuyển nhượng
quyền sdụng đất đối với phần đất tại ấp H, B, huyện T, tỉnh Long An với
ông H, đồng thời ông H đã nhận đất của ông T canh tác.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn tuyên vô hiệu hợp đồng mua bán đất ngày
27/01/2019 thì H1 và chị D đồng ý do hợp đồng mua bán đất này không
thật mà chđể làm tin cho giao dịch mua bán đất giữa ông H ông T. Đối với
yêu cầu H1 chị D phải trả cho ông H số tiền 400.000.000 đồng thì bị đơn
không đồng ý, do H1 chị D không nhận số tiền này của ông H. Bị đơn
yêu cầu ông H trả lại cho bị đơn bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
5
tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CI 434740 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh T cấp ngày 09/6/2017 cho Thị Hương D đứng tên đối với
thửa đất số 283, tờ bản đồ số 22, diện tích 452,4 m², địa chỉ: ấp Đ, Đ, huyện
C, tỉnh Tiền Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thuận T1 trình
bày:Anh là chồng của chị Lê Thị Hương D, cưới nhau vào năm 2010 và có đăng
kết hôn. Thửa đất số 283, tờ bản đồ số 22, diện tích 452,4 m², địa chỉ: ấp Đ,
xã T, tỉnh Đồng Tháp tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh chị nhưng
chỉ có chị D đứng tên. Việc chị D đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của thửa đất 283 cho anh H thì anh không biết. Anh không liên quan đến
giao dịch giữa chị D, H1 anh H. Anh yêu cầu anh H trả lại bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 283 khi án hiệu lực pháp luật, anh
không có yêu cầu nào khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T mặc đã được
Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T vẫn vắng mặt cũng
không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Tại bản án dân sự thẩm số 244/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 Đồng Tháp áp dụng các điều 26, 34, 35, 39,
92, 147, 220, 227, 228, 235, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 122, 124, 131,
357, 407, 423, 427, 463, 466, 468, 472, 500 Bộ luật dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Đức H.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày
27/01/2019 giữa ông Tô Đức H và bà Phạm Thị Tuyết H1.
- Phạm Thị Tuyết H1 chị Thị Hương D nghĩa vụ liên đới trả
cho ông Tô Đức H số tiền chuyển nhượng 350.000.000 đồng tiền lãi
217.875.000 đồng, tổng cộng là 567.875.000 đồng.
- Phạm Thị Tuyết H1 chị Thị Hương D nghĩa vliên đới trả
cho ông Đức H s tiền vay 40.000.000 đồng tiền lãi 22.908.000
đồng, tổng cộng là 62.908.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357
6
của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đức H trả lại cho chị Thị Hương
D 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS26656 do Sở Tài Nguyên
Môi Trường tỉnh T cấp cho chị Thị Hương D ngày 09/6/2017 đối với thửa
đất số 283, tờ bản đồ số 22, diện tích 452,4m
2
tọa lạc tại ấp Đ, Đ, huyện C,
tỉnh Tiền Giang (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 01 tháng 10 năm 2025, bị đơn Phạm Thị Tuyết H1, Thị Hương
D đơn kháng cáo yêu cu Tòa án cp phúc thm gii quyết bao gm:
Phạm Thị Tuyết H1 Thị Hương D kháng cáo một phần bản án thẩm,
không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H về việc buộc H1
chị D trả tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất 350.000.000 đồng cùng tiền
lãi, số tiền vay là 40.000.000 đồng và tiền lãi.
oTại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn, bị đơn đã thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết toàn bộ vụ án như sau: Bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền
vay 40.000.000 đồng cùng lãi phát sinh 22.908.000 đồng, tổng cộng
62.908.000 đồng. Hai bên đương sự thống nhất tuyên bố Hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 27/01/2019 giữa ông Đức H và bà
Phạm Thị Tuyết H1; Bà Phạm Thị Tuyết H1 và chị Lê Thị Hương D có nghĩa vụ
liên đới trả cho ông Đức H số tiền chuyển nhượng 350.000.000 đồng
bồi thường số tiền 25.000.000 đồng, tổng cộng 375.000.000 đồng. Ông H trả
lại chị D 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào scấp GCN: CS26656
do Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh T cấp cho chị Thị Hương D ngày
09/6/2017 đối với thửa đất số 283, tờ bản đồ số 22, diện tích 452,4m
2
tọa lạc tại
ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểmt tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng
quy định của pháp luật. Các đương sự cũng chấp hành theo đúng quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên
đơn bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ
thể: Hai bên đồng ý tuyên bố hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đất; Bị đơn trả
cho nguyên đơn số tiền 375.000.000đồng 40.000.000đồng tiền vay + lãi phát
sinh; Nguyên đơn trả cho bị đơn 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét
7
thấy, việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự, công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn Phạm Thị Tuyết
H1, Lê Thị Hương D, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại
phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Yêu cầu hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Hợp đồng vay tài sản” căn
cứ. Sau khi xét xthẩm tbị đơn kháng cáo bản án trong thời hạn luật định
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ, nên được xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
[1.1] Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn T đã được
Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập dự phiên tòa xét xử phúc thẩm nhưng vẫn
cố tình vắng mặt không do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử ván
vắng mặt ông T theo qui định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm,
nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ
án. Cụ thể: Bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền vay 40.000.000đồng cùng
lãi phát sinh 22.908.000đồng, tổng cộng 62.908.000đồng. Hai bên đương sự
thống nhất tuyên bố Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay
ngày 27/01/2019 giữa ông Đức H Phạm Thị Tuyết H1; Phạm Thị
Tuyết H1 chị Lê Thị Hương D nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đức H số
tiền chuyển nhượng 350.000.000đồng bồi thường số tiền 25.000.000đồng,
tổng cộng 375.000.000đồng. Ông H trả lại chị D 01 giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS26656 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường
tỉnh T cấp cho chị Thị Hương D ngày 09/6/2017 đối với thửa đất s283, tờ
bản đồ số 22, diện tích 452,4m
2
tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(nay T, tỉnh Đồng Tháp). Xét thấy, việc thỏa thuận của các đương sự tại
phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp
luật không trái với đạo đức hội. Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa theo qui định tại Điều 300 của bộ luật
tố tụng dân sự.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa căn cứ
8
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, chấp nhận ý kiến đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát.
[4] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm. Bà H1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Chị D phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296, Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309,
Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 122, 124, 131, 357, 407, 423, 427, 463, 466, 468, 472,
500 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Phạm Thị Tuyết H1,
Thị Hương D. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc
thẩm, Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 244/2025/DS-ST ngày 26 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp.
2. Ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn bị đơn tại phiên tòa phúc
thẩm;
2.1. Tuyên bHủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay
ngày 27/01/2019 giữa ông Tô Đức H và bà Phạm Thị Tuyết H1.
2.2. Phạm Thị Tuyết H1 chị Thị Hương D nghĩa vụ liên đới
trả cho ông Tô Đức H số tiền chuyển nhượng 350.000.000đồng bồi
thường số tiền 25.000.000đồng, tổng cộng là 375.000.000đồng.
2.3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đức H trả lại cho chị Thị
Hương D 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS26656 do Sở i
Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp cho chị Lê Thị Hương D ngày 09/6/2017 đối
với thửa đất số 283, tờ bản đồ số 22, diện tích 452,4m
2
tọa lạc tại ấp Đ, Đ,
huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp).
3. Phạm Thị Tuyết H1 và chị Thị Hương D nghĩa vụ liên đới trả
cho ông Tô Đức H số tiền vay là 40.000.000đồng và tiền lãi là 22.908.000đồng,
9
tổng cộng là 62.908.000đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2
Điều 357 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả.
4. Về án phí:
- Án phí dân sự phúc thẩm: Phạm Thị Tuyết H1 chị ThHương
D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại stiền tạm ứng án
phí phúc thẩm do H1 chị D nộp theo biên lai thu tiền số 0003779 (số tiền
300.000đồng), biên lai thu tiền số 0003778 (số tiền 300.000đồng), cả hai biên
lai thu tiền cùng ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Phạm Thị Tuyết H1 chị Thị Hương D phải chịu
21.516.000đồng án phí dân sự thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm
cho bà H1, nên chị D phải chịu 10.758.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Ông Tô Đức H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.622.000đồng theo biên lai thu số 0008431
ngày 25/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền
Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
yêu cầu thi hành án, quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo điều 6,7 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhn:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 1 Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Trần Văn Đạt
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 577/2026/DS-PT Bản án số 577/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 577/2026/DS-PT Bản án số 577/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất