Bản án số 793/2026/DS-PT ngày 23/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 793/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 793/2026/DS-PT ngày 23/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 793/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án 852- DSPT- 26-6-2026- Bi -M -Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 793/2026/DS-PT Bản án số 793/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 793/2026/DS-PT Bản án số 793/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH TÂY NINH
Bn án s: 793/2026/DS-PT
Ngày: 17-6-2026
Tranh chp hợp đng chuyn
nhượng quyn s dụng đất và tài
sn gn lin vi đt
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Nguyn Quc Tun.
Các Thm phán:
1 Ông Phan Thanh Tùng;
2 Ông Nguyễn Phước Thanh.
Thư phiên tòa: Ngô Thanh Xuân, Thư Tòa án nhân dân tnh Tây
Ninh.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đoàn Thị Thu Tiên, Kim sát viên.
Trong các ngày 11 ngày 17 tháng 6 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
139/TLPT-DS ny 09 tng 3 năm 2026, về Tranh chp hợp đng chuyn
nhưng quyn s dụng đất và tài sn gn lin với đất.
Do Bản án dân sthẩm số 215/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 204/2026/QĐ-PT ngày
27 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp C, Đ,
tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Dương Tâm Anh T, sinh
năm 1995; địa chỉ: D P, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền
ngày 15-5-2023); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
+ Luật Bích T1 Công ty L, thuộc Đoàn Luật Thành phố H;
mặt.
+ Luật sư Phạm Ngọc Q Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H;
mặt.
2
Bị đơn: Công ty Cổ phần X. Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bđơn: Thị Thu H1, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy
quyền ngày 02-8-2023); có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Tấn C, sinh năm 1975; vắng mt;
2. Chị Võ Ngọc Kim N, sinh năm 2004; vắng mặt;
3. Võ Tấn S, sinh năm 2008; vắng mặt;
Người đại diện hợp pháp của Võ Tấn S: Ông Võ Tấn C Trần Thị
Ngọc H (là cha, mẹ của Võ Tấn S), là người đại diện theo pháp luật.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh;
4. Công ty CP Đ; địa chỉ: Số E, Khu dân cư B, Tỉnh lộ 824, Đ, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
5. Ủy ban nhân dân tỉnh T. Địa chỉ: F N, Phường L, tỉnh Tây Ninh;
Người đại diện hợp pháp của Uỷ ban: Nguyễn Thị Tuyết A Phó
Trưởng phòng Đăng cấp giấy chứng nhận thuộc Văn phòng Đăng đất
đai, trực thuộc Sở Nông nghiệp Môi trường người đại diện theo ủy quyền
(Văn bản ủy quyền ngày 13-8-2025); có mặt.
Người kháng cáo:Trần Thị Ngọc H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên đơn Trần Thị
Ngọc H người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ơng Tâm Anh T
thống nhất trình bày:
Mã nền A4, số lô 23, diện tích 136m
2
và tài sản gắn liền: Loại nhà biệt thự,
diện tích xây dựng 216,8m
2
, gồm: Tầng trệt: 64,5m
2
, lầu 1: 69,3m
2
, lầu 2: 73m
2
,
mái 10, sân trước 56,5m
2
, sân sau 15m
2
,
thuộc Dự án khu nhà ở kinh doanh B tại
Đ, huyện Đ do Công ty X chủ đầu tư. Ngày 25-01-2018, Công ty X
H xác lập Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai số 23/HĐMB-
BLV ngày 25-01-2018, có đối tượng là tài sản vừa nêu. Bà H đã thanh toán xong
cho Công ty 95% tổng giá trị hợp đồng là số tiền 2.500.059.520 đồng.
Ngày 04-01-2019, Công ty Đ được sự ủy quyền của Công ty X tiến hành
bàn giao nhà cho H theo Biên bản bàn giao ngày 04-01-2019. Qúa trình bàn
giao nhà, H chỉ kiểm tra diện tích đất, diện ch xây dựng thể hiện trên Biên
bản bàn giao và diện tích thể hiện trong hợp đồng là giống nhau nên bà H ký tên.
Các bên không tiến hành kiểm tra, đo đạc lại diện tích thực tế của tài sản bàn
giao. Qua đo đạc thực tế, diện tích thực tế bàn giao đúng với diện tích thể hiện
3
trên hợp đồng. Hiện trạng nhà bàn giao nhà thô, toàn bộ nội thất thiết kế
bên trong do bà H xây dựng.
Theo thỏa thuận tại Khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng 23/HĐMB-BLV ngày
25-01-2018 thì Công ty X phải nghĩa vụ bàn giao giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà (Viết tắt GCNQSDĐ, QSHNO) tài sản khác
gắn liền cho H trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày bàn giao nhà, chậm nhất
vào ngày 04-01-2020. Tuy nhiên, đã quá thời hạn quy định nhưng Công ty X
không bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn liền với đất cho H.
Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Tiếp tục Hợp đồng mua bán n hình thành trong tương lai số A4-
23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018 giữa Công ty X với Trần Thị Ngọc H, đối
tượng nền A4, số 23, diện tích 136m
2
tài sản gắn liền: Loại nhà biệt
thự, diện tích xây dựng 216,8m
2
, gồm: Tầng trệt: 64,5m
2
, lầu 1: 69,3m
2
, lầu 2:
73m
2
, mái 10, sân trước 56,5m
2
, sân sau 15m
2
, thuộc thửa đất 2837, tờ bản đồ số
7, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh);
+ Buộc Công ty X bàn giao bản chính GCNQSDĐ, QSHNO và tài sản khác
gắn liền với đất tại thửa đất 2837, tờ bản đồ số 7, tại Đ, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay Đ, tỉnh Tây Ninh) đứng tên bà H. Trường hợp, Công ty X không
bàn giao thì H được quyền liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền để làm
thủ tục cấp GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất
2837.
+ Buộc Công ty X phải thanh toán cho H tiền bồi thường phạt theo
quy định tại khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương
lai số A4-23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018, tổng s tiền 3.000.071.424 đồng.
H không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty X không
đồng ý với kết quả định giá của Hội đồng định giá nhà nước thể hiện tại Biên
bản định giá ngày 30-6-2025; giá không phù hợp với giá thực tế của thị
trường.
Tại phiên tòa, bà H không yêu cầu Tòa án tiến hành định giá lại.
Tại thời điểm Công ty X chuyển nhượng nhà và đất cho bà H, Công ty X đã
được cấp GCNQSDĐ đối với nền A4, số 23, tại thửa đất 2837. Sau đó,
Công ty X đã hoàn thành thủ tục hoàn công được cập nhật sở hữu nhà trên
đất; nhưng Công ty không bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn
liền với đất cho bà. Khi khởi kiện tại Tòa án, Công ty lại yêu cầu thanh
hợp đồng buộc bà trả nhà hoàn toàn không sở. không nhu cầu
nhận lại tiền và trả lại nhà. Do đó bà không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công
ty X.
T trình bày bổ sung: Đối với yêu cầu buộc Công ty X phải thanh toán
cho H tiền bồi thường và phạt theo quy định tại khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng
mua bán nhà hình thành trong tương lai số A4-23/HĐMB-BLV ngày 25-01-
4
2018 tổng số tiền 3.000.071.424 đồng. Tại phiên tòa, xác định số tiền H
yêu cầu là tiền phạt vi phạm 120% tổng số tiền bà H đã thanh toán do Công ty X
do chậm bàn giao GCNQSĐ quá 24 tháng. Công ty X viện dẫn quy định tại điều
khoản này để yêu cầu thanh hợp đồng không căn cứ không nội
dung nào thể hiện là nếu Công ty X chậm bàn giao GCNQSDĐ cho H quá 24
tháng thì thanh hợp đồng, H phải trả lại nhà, Công ty X hoàn lại tiền
phạt 20% tổng số tiền H đã thanh toán. Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ bàn
giao GCNQSDĐ cho bà H quá 24 tháng thì Công ty X phải chịu mức chế tài cao
nhất quy định đối với trường hợp này. Chính vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn. H sẽ thanh toán 5% giá trị hợp đồng còn lại theo đúng như thỏa
thuận tại hợp đồng khi H được cấp GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn
liền với đất đứng tên bà H.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp
của bị đơn Công ty CP X, bà Hà Thị Thu H1 trình bày:
Căn cứ Quyết định 2023/QĐ-UBND ngày 23-5-2016 của Ủy ban nhân dân
(Viết tắt UBND) tỉnh Long An Quyết định 2719/QĐ-UBND ngày 24-7-2017
của UBND tỉnh L vviệc quyết định chủ trương đầu cho Công ty X đầu
nhà kinh doanh B tại Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Căn cứ Quyết định
120/QĐ-UBND ngày 17-01-2017 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt đồ án
quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu nhà kinh doanh B, Đ, huyện Đ, tỉnh
Long An. Căn cứ Quyết định 3430/QĐ-UBND ngày 18-9-2017 của UBND tỉnh
L về việc cho phép Công ty X chuyển mục đích sử dụng đất cho thuê
đất. Căn cứ GCNQSDĐ do UBNB tỉnh L cấp cho Công ty X ngày 13-10-
2017. Theo đó, Công ty X chủ đầu của Dự án Khu nhà kinh doanh Bella
Villa.
Ngày 15-6-2018, Công ty X H Hợp đồng mua bán nhà hình
thành trong tương lai số A4-22/HĐMB-BLV, đối tượng là căn nhà nền
A4, số lô 23 Dự án Khu nhà kinh doanh B. Giá trị Hợp đồng là 2.631.641.600
đồng. Đến ngày 21-5-2019, H đã thanh toán cho Công ty số tiền
2.500.059.520 đồng. Ngày 04-01-2019, Công ty đã bàn giao nhà cho H quản
lý, sử dụng.
Về quá trình cấp GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn liền với đất đối
với Mã nền A4, lô số 23: Ngày 26-3-2018, Công ty được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh L cấp GCNQSĐ CN 127088, số vào sổ CT 41800, tại thửa đất 2837.
Ngày 14-01-2021, Công ty đã hoàn thành thủ tục hoàn công và được cập nhật sở
hữu nhà ở trên đất đối với thửa đất số 2837 theo GCNQSDĐ, QSHNO và tài sản
khác gắn liền với đất số CN 127088, số vào sổ CT 41800.
Ngày 31-5-2024, ng ty X Văn bản số 0015/2024/CV-TA về việc xin
được phép chuyển nhượng thêm 100 đất nhà trên đất tại Dự án Khu nhà
kinh doanh B, danh sách 100 nền đính kèm, gồm nền A4, số 23
5
(thửa đất 2837). Tại Thông báo kết luận cuộc họp xem xét đề nghị của Công ty
X đối với Dự án Khu nhà kinh doanh B, tại Đ, huyện Đ, kết luận: Sau khi
nhận kết quả hoàn thành thực hiện nghĩa vụ tài chính, theo Thông báo của Sở Kế
hoạch và Đầu tư của Công ty X làm chủ đầu tư, cuộc họp thống nhất đề nghị Sở
T xem xét, giải quyết chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền với đất đối với 100 lô đất (có hồ sơ và danh sách, vị trí các lô đất
cụ thể đính kèm) thuộc dự án Khu nhà kinh doanh B cho chủ đầu tư trong giai
đoạn khó khăn hiện nay, với những lý do như sau: (1) Đ, huyện Đ, tỉnh Long
An đnhằm hỗ trợ tạo điều kiện tránh việc khiếu nại, khiếu kiện đông người
gây mất trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, (2) đảm bảo có nguồn kinh phí để
thực hiện nghĩa vụ tài chính do điều chỉnh cơ cấu, do hiện nay cơ quan có thẩm
quyền đang xác định giá trị quyền sử dụng đất nghĩa vụ khác phát sinh như
đã cam kết, (3) đồng thời đảm bảo nguồn kinh phí để tiếp tục đầu hoàn
chỉnh dự án theo tiến độ được phê duyệt, (4) thống nhất vẫn còn giữ lại các
đất (chủ đầu lập danh sách, vị trí chưa xem xét giải quyết chuyển nhượng
quyền sử dụng đất để làm cơ sở giải quyết thực hiện các nghĩa vụ liên quan phát
sinh nếu có sau này.
Căn cứ Thông báo số 1078/TB-TA ngày 07-8-2025 của Sở Kế hoạch Đầu
tỉnh L về việc nộp Ngân sách nhà nước (gọi tắt m
3
) đối với Dự án Khu nhà
Kinh doanh B tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An của Công ty X. Giá trị tối thiểu
nộp ngân sách nhà nước (m
3
) cho dự án nêu trên hiệu lực kể từ ngày Quyết
định 406/QĐ-UBND ngày 07-8-2024 của UBND tỉnh L ban hành. Ngày 08-8-
2024, Công ty X đã thực hiện nộp xong số tiền 425.513.000 đồng vào Ngân sách
nhà nước. Như vậy, từ thời điểm Công ty X nộp xong tiền vào ngân sách Nhà
nước thì Công ty X được phép chuyển nhượng 100 nền trong d án, bao
gồm Mã nền A4, số lô 23 (thửa đất số 2837).
Về việc bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO và tài sản khác gắn liền với đất cho
nguyên đơn: Ngày 26-3-2018, Công ty được cấp GCNQSĐ CN 127088, số vào
sổ CT 41800, tại thửa đất 2837. Ngày 14-01-2021, Công ty đã hoàn thành thủ
tục hoàn công được cập nhật sở hữu nhà trên đất đối với thửa đất số 2837,
tờ bản đồ số 7. Tuy nhiên, thửa đất 2837 và tài sản gắn liền thuộc Dự án khu nhà
kinh doanh B tại xã Đ, huyện Đ do Công ty X chủ đầu tư. Để có thể chuyển
nhượng sang tên cho H, thửa đất 2837 tài sản gắn liền phải đảm bảo các
quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản, không phải chỉ cần
GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn liền với đất thể chuyển nhượng
cho khách hàng được. Ngày 08-8-2024, Công ty X đã đủ điều kiện đchuyển
nhượng thửa đất 2837 tài sản gắn liền cho bà H nhưng thời điểm này H
đang tranh chấp tại Tòa án, nên các bên không thực hiện thủ tục hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Do đó, Văn phòng đăng
đất đai tỉnh T đến nay chưa tiếp nhận hồ chuyển nhượng quyền sử dụng
đất thửa đất 2837 đúng. Hiện bản chính GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác
6
gắn liền với đất vẫn do Công ty X quản lý, không thế chấp tại bất kỳ tổ chức tín
dụng nào.
Về yêu cầu phạt vi phạm 120% tổng số tiền bà H đã thanh toán
3.000.071.424 đồng. Công ty X không đồng ý với yêu cầu này và yêu cầu
thanh Hợp đồng mua bán nhình thành trong tương lai với H, bởi các
lý do sau: Theo quy định tại khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng quy định về trường
hợp Công ty X chậm bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO và tài sản khác gắn liền với
đất cho H quá 24 tháng. Nội dung này cần được hiểu là nếu quá 24 tháng
Công ty không bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO và tài sản khác gắn liền với đất
cho bà H thì các bên thanh lý hợp đồng, bà H bàn giao nhà cho Công ty X, Công
ty X hoàn lại số tiền đã thanh toán phạt 20% tổng số tiền đã thanh toán. Phía
H lại cho rằng nội dung này phải được hiểu nếu Công ty X chậm bàn giao
GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn liền với đất cho H quá 24 tháng thì
bà H được sở hữu căn nhà, Công ty X phải trả lại toàn bộ số tiền đã nhận và phạt
20% hoàn toàn không sở. Công ty X doanh nghiệp kinh doanh bất
động sản, kinh doanh quyền sdụng đất nhà nhằm mục đích lợi nhuận,
Công ty không thể do chậm bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO và tài sản khác
gắn liền với đất quá 24 tháng Công ty vừa cho H được quyền shữu căn
nhà, vừa hoàn lại toàn bộ tiền đã thanh toán và chịu phạt 20% là hoàn toàn vô lý.
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 404 của Bộ luật Dân sự về giải thích hợp đồng đối
với trường hợp này cho phù hợp với thực tế mục đích xác lập hợp đồng của
các bên. Trường hợp chấp nhận yêu cầu tiếp tục hợp đồng mua bán nhà ở của bà
H, Công ty X buộc bà H phải thanh toán cho Công ty 5% tổng giá trị thanh toán.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Võ Tấn C có văn bản trình bày ý kiến:
Ông chồng Trần Thị Ngọc H, vchồng ông mua căn biệt thự diện
tích đất: 136m
2
, diện tích xây dựng 216.8 m
2
, tại vị trí có số mã nền A4, số lô 23
thuộc Dự án Khu nhà ở kinh doanh B tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An của Công
ty X, theo Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai số: A4-
23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018, do bà H đại diện đứng tên hợp đồng.
Ông đã thanh toán cho Công ty X tiền chuyển nhượng theo thỏa thuận
hợp đồng. Công ty X đã bàn giao nhà đất có số mã nền A4, số lô 23 thuộc Dự án
Khu nhà ở kinh doanh B cho vợ chồng ông sở hữu, quản lý sử dụng từ ngày 04-
01-2019 đến nay.
Tuy nhiên, từ ngày bàn giao nhà đến nay đã hơn 04 năm (hơn 55 tháng),
Công ty X vẫn không giao GCNQSDĐ, QSHNO theo thỏa thuận hợp đồng. Ông
đã nhiều lần trực tiếp đến n phòng Công ty X để yêu cầu Công ty thực
hiện nghĩa vụ bàn giao Giấy chứng nhận nhưng Công ty liên tục nêu ra những lý
do để cố tình không thực hiện trách nhiệm của mình. Việc Công ty X kéo dài
thời gian giao GCNQSDĐ, QSHNO làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền
7
lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Do đó, bà Trần Thị Ngọc H khởi kiện
yêu cầu:
1. Buộc Công ty X thực hiện thủ tục bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO do vợ
chồng ông đứng tên. Nếu Công ty không thực hiện thì cho phép ông liên hệ
quan chức năng thực hiện thủ tục để được cấp GCNQSDĐ, QSHNO mang
tên vợ chồng ông bà.
2. Buộc Công ty X hoàn lại toàn bộ số tiền ông đã thanh toán
2.500.059.520 đồng tiền phạt (20%) 500.011.904 đồng như thỏa thuận tại
khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng mua bán nhà số: A4- 23/HĐMB-BLV, tổng cộng
số tiền là: 3.000.071.424 đồng.
Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của bà H.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh L, do
Nguyễn Thị Tuyết A đại diện trình bày: Tuyết A giữ nguyên nội dung trình
bày tại các văn bản sau:
+ Văn bản số 7570/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 11-10-2024 của Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh L thể hiện: Qua xem xét hồ sơ, Sở T có ý kiến sau:
- Về thông tin thửa đất số 2837, tờ bản đồ số 7: Ngày 26-3-2018 Sở T
(TUQ. Chtịch UBND tỉnh L) cấp GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn
liền với đất, số phát hành CN 127088 (Số vào sổ cấp GCN: CT 41800) tại thửa
đất số 2837, tờ bản đồ số 07, diện tích 136m
2
cho Công ty X.
Việc chuyển quyền sử dụng đất giữa Công ty X Trần Thị Ngọc H,
Công ty X chưa nộp hồ sơ để thực hiện biến động tại Cơ quan tài nguyên và môi
trường, do đó Cơ quan tài nguyên và môi trường không kiểm tra được vị trí thửa
đất số 2837 có trùng với vị trí thửa đất mà Công ty X đã được cấp giấy nêu trên.
- Về điều kiện chuyển nhượng: Căn cứ khoản 2, Điều 45 Luật Đất đai năm
2024 quy định:
“Điều 45. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất:
2. Trường hợp chủ đầu tư chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã có hạ tầng
kỹ thuật trong dự án bất động sản thì ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1
Điều này còn phải đáp ứng điều kiện khác theo quy định của Luật Kinh doanh
bất động sản, Luật Nhà ở.
Căn cứ điểm a, điểm b, khoản 1 Điều 41 Nghị định 101/2024/NĐ-CP của
Chính Phủ ngày 29-7-2024 quy định:
“Điều 41. Trình tự, thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng trong dự án bất động sản
8
1. Trong thời hạn theo quy định của pháp luật về nhà pháp luật về
kinh doanh bất động sản, chủ đầu dự án có trách nhiệm nộp 01 bộ hồ đến
quan tiếp nhận hồ quy định tại khoản 1 Điều 21 của Nghị định này. Trường
hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 21 của Nghị định
này thì chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai. Hồ sơ gồm có:
a) Văn bản của quan thẩm quyền quản về nhà ở, công trình xây
dựng xác nhận nhà ở, công trình xây dựng, hạng mục công trình xây dựng đủ
điều kiện được đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng;
b) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền quản lý về kinh doanh bất động sản
xác nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đđiều kiện được đưa vào
kinh doanh theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản”
Căn cứ quy định nêu trên, Công ty X chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 2837, tờ bản
đồ số 7 phải đảm theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024
điểm a, điểm b, khoản 1 Điều 41 Nghị định 101/2024/NĐ-CP của Chính Phủ
ngày 29-7-2024.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới hoặc chỉnh sang tên
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thực hiện trích lục theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Công ty X, Quyết định số 54/QĐ-UBND của
UBND huyện Đ ngày 14-01-2019 V/v phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chi
tiết tỷ lệ 1/500 Khu nkinh doanh Bella Villa (trước đây Khu dân T),
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (không yêu cầu đo đạc lại diện tích thửa đất). Tuy
nhiên, Công ty X phải đảm theo quy định tại khoản 2, Điều 45 Luật Đất đai năm
2024 điểm a, điểm b, khoản 1 Điều 41 Nghị định 101/2024/NĐ-CP của
Chính Phủ ngày 29-7-2024 trước khi nộp hồ sơ cấp GCNQSĐD.
+ Văn bản số 1916/VPĐKĐĐ-DLLT ngày 08-5-2025 của Văn phòng Đăng
ký đất đai tỉnh L:
Thửa đất số 2837, tờ bản đồ số 7, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do Công ty
X đứng tên trên GCNQSDĐ, QSHNO tài sản khác gắn liền với đất được Sở
T (TUQ. Chtịch UBND tỉnh) cấp ngày 26-3-2018, được cập nhật bsung tài
sản gắn liền với đất ngày 14-01-2021.
Hiện tại, Văn phòng Đăng đất đai chưa tiếp nhận giải quyết hồ
chuyển nhượng, thế chấp bằng quyền sử dụng đất đối với đất số 2837.
Nội dung Công ty X đã đảm bảo các điều kiện chuyển nhượng theo quy
định tại khoản 2, Điều 45 Luật Đất đai năm 2024 điểm a, b khoản 1, Điều 41
Nghị định số 101/2024/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29-7-2024 đối với thửa đất
số 2837: Việc xác nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đủ điều kiện
đưa vào kinh doanh theo quy định của Pháp luật về kinh doanh bất động sản
thuộc thẩm quyền của Sở Xây dựng.
9
Tuyết A bổ sung một số nội dung sau: Hiện nay, theo quy định tại Nghị
định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12-6-2025 của Chính phủ quy định về phân định
thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong
lĩnh vực đất đai có hiệu lực từ ngày 01-7-2025, tại Mục X quy định trình tự, thủ
tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn
liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở, công trình xây dựng trong dự án bất động sản tCông ty X H phải
đảm bảo các quy định này để đủ điều kiện chuyển nhượng sang tên.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, luật Bích
T1 trình bày:
Căn cứ các Quyết định của UBND tỉnh L GCNQSĐ đã cấp cho Công ty
X đối với nền A4, số 23, thuộc thửa đất 2837 nên sở xác định tại
thời điểm Công ty X xác lập Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương
lai số 23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018 với H, Công ty X đủ điều kiện kinh
doanh bất động sản hình thành trong tương lai theo quy định tại Điều 55 Luật
Kinh doanh bất động sản. vậy, yêu cầu của H về tiếp tục Hợp đồng mua
bán nhà hình thành trong tương lai số 23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018
căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
Thực hiện hợp đồng, H đã thanh toán cho ng ty I giá trị hợp đồng.
Trách nhiệm thực hiện hợp đồng bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO cho H
của Công ty X nhưng Công ty không bàn giao đúng thời gian cam kết nên Công
ty đã vi phạm nghĩa vụ của bên bán theo quy định tại khoản 5.2 Điều 5 của Hợp
đồng. Công ty đã vi phạm các điều khoản phạt và bồi thường nên Công ty phải
nghĩa vụ phạt bồi thường theo thỏa thuận. Thời hạn bàn giao GCNQSDĐ,
QSHNO cho H tính từ ngày 04-01-2020 đến ngày Tòa án giải quyết vụ án,
thuộc trường hợp chậm bàn giao quá 24 tháng nên căn cứ khoản 8.2 Điều 8 của
Hợp đồng, áp dụng mức phạt cao nhất hoàn lại toàn bộ số tiền đã thanh toán
phạt 20% tổng số tiền đã thanh toán. Quy định này sự thỏa thuận của các
bên, phợp với quy định tại Điều 418 của Bộ luật Dân sự. Việc ng ty X
chậm bàn giao GCNQSDĐ, QSHNO cho H không thuộc trường hợp bất khả
kháng. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H đối với yêu cầu
phạt vi phạm 120% tổng số tiền thanh toán. Theo Công văn số 1915 ngày 08-
5-2025 của Văn phòng đăng đất đai tỉnh L, nội dung thể hiện, Văn phòng Đ
chưa tiếp nhận hồ giải quyết hồ chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng
đất đối thửa đất 2837, nghĩa đến nay Công ty X vẫn chưa tiến hành thủ tục
sang tên thửa đất này cho bà H.
Đối với yêu cầu thanh lý hợp đồng của Công ty X: Công ty X căn cứ khoản
8.2 Điều 8 của Hợp đồng để yêu cầu thanh hợp đồng, buộc H trả lại nhà,
Công ty hoàn tiền và 20% tổng giá trị thanh toán nhưng không xác định thanh lý
hợp đồng thuộc trường hợp nào, hiệu, hủy hợp đồng hay đơn phương chấm
dứt hợp đồng Theo quy định của Điều 11 Bộ luật Dân sự thì bên vi phạm
10
không quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng; cũng quy định khi quyền dân
sự của nhân bị xâm phạm thì chủ th quyền yêu cầu quan tổ chức
“Buộc thực hiện nghĩa vụ”. Bà H có quyền buộc Công ty X phải thực hiện nghĩa
vụ giao GCNQSDĐ, QSHNO cho H đồng thời quyền yêu cầu Công ty
hoàn tiền và 20% tổng giá trị thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng.
Đối với 5% giá trị hợp đồng H chưa thanh toán cho Công ty; đây không
phải bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nghĩa vụ thanh toán số tiền này chỉ phát
sinh khi H được cấp GCNQSDĐ, QSHNO. Do đó, việc Công ty X cho rằng
bà H chưa thanh toán đủ tiền là không có căn cứ.
Tại Bản án Dân sự thẩm số 215/2025/DS-ST ngày 29-8-2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Ngọc H vviệc “Tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất i sản gắn liền với đất”
đối với Công ty Cổ phần X.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Ngọc H vviệc phạt
vi phạm do chậm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Công ty Cổ
phần X.
Không chấp nhận yêu cầu “Thanh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất” của Công ty Cổ phần X đối với bà Trần Thị
Ngọc H.
1.1. Công nhận Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A4-
23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018, đối tượng nền A4, số 23, diện tích
136m
2
(thửa đất 2837, tờ bản đồ số 7) và tài sản gắn liền: Loại nhà biệt thự, diện
tích xây dựng 216,8m
2
, gồm: Tầng trệt: 64,5m
2
, lầu 1: 69,3m
2
, lầu 2: 73m
2
, mái
10, sân trước 56,5m
2
, sân sau 15m
2
,
thuộc Dự án khu nhà kinh doanh B tại
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) giữa Công ty Cổ phần X
với bà Trần Thị Ngọc H là hợp pháp.
Công ty Cổ phần X nghĩa vụ và trách nhiệm hoàn tất c thủ tục pháp lý
cần thiết theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản đối với thửa
đất 2837 tài sản gắn liền thuộc Dự án khu nhà kinh doanh Bella Villa do
Công ty X chủ đầu ; nhằm đảm bảo đủ điều kiện chuyển nhượng và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
đất cho Trần Thị Ngọc H tại thửa đất này. Trần Thị Ngọc H trách
nhiệm phối hợp với Công ty Cổ phần X để hoàn tất các th tục liên quan.
Trần Thị Ngọc H có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần X số tiền
131.582.080 đồng (một trăm ba mươi mốt triệu, năm trăm tám mươi hay ngàn,
không trăm tám mươi đồng) theo Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong
tương lai số A4-23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền
kháng cáo.
11
Ngày 08-9-2025, bà Trần Thị Ngọc H có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án
sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại phiên toà, các vị Luật Phạm Ngọc Q, Bích T1Dương Tâm
Anh T người đại diện hợp pháp cho Trần Thị Ngọc H đều đề nghị sửa bản
án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
+ Về ttụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp
luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của
Trần Thị Ngọc H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cđã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét kháng
cáo của đương sự Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trần Thị Ngọc H kháng cáo bản án thẩm trong thời
hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Ngọc H, Hội đồng
xét xử nhận thấy:
2.1. Xét Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai A4-
23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018 nhận thấy:
Công ty X được phê duyệt dự án đầu tư nhà ở kinh doanh B tại xã Đ, huyện
Đ, tỉnh Long An theo Quyết định 2023/QĐ-UBND ngày 23-5-2016; Quyết định
2719/QĐ-UBND ngày 24-7-2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh L Quyết định
120/QĐ-UBND ngày 17-01-2017 của Ủy ban nhân dân huyện Đ.
Theo Quyết định 3430/QĐ-UBND ngày 18-09-2017 của Ủy ban nhân dân
tỉnh L, cho phép Công ty X chuyển mc đích sử dụng đất cho thuê đất, nên
ngày 25-01-2018, Công ty X H xác lập Hợp đồng mua bán nhà hình
thành trong tương lai số A4-23/HĐMB-BLV.
Ngày 04-01-2019, Công ty X đã bàn giao nhà cho H quản , sử dụng
đến nay; H thanh toán cho Công ty I giá trị hợp đồng, với số tiền
2.500.059.520 đồng; theo Hợp đồng thỏa thuận thời gian bàn giao GCNQSDĐ,
QSHNO là trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày giao nhà ngày 04-01-2019, chậm
nhất đến ngày 04-01-2020.
Ngày 26-3-2018, Công ty X được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp
GCNQSDĐ CN 127088, số vào sổ CT 41800, tại thửa đất 2837. Ngày 14-01-
12
2021, Công ty đã hoàn thành thủ tục hoàn công được cập nhật sở hữu n
trên đất đối với thửa đất số 2837. Đến ngày 08-8-2024, Công ty X được phép
chuyển nhượng thửa đất số 2837. Tại văn bản trả lời số
198/TTPTQĐDVTNMT-ĐĐ ngày 25-3-2025 của Trung tâm Phát triển quỹ đất
Dịch vụ tài nguyên môi trường tỉnh L, thể hiện: Vị trí nền A4, số 23
tương ng với vị trí thửa đất 2837, tờ bản đồ số 7. Qua đó cho thấy, tại thời
điểm xác lập Hợp đồng với bà H, Công ty đã được cấp GCNQSDĐ đối với vị trí
nền này. Tuy nhiên, do việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn
liền với đất thuộc dự án thì chủ đầu phải đảm bảo các quy định của pháp luật
về kinh doanh bất động sản phải thực hiện theo các quyết định của quan
có thẩm quyền về quản lý đất đai tại thời điểm nộp thủ tục xin cấp giấy
CNQSDĐ; nên việc Công ty X chậm giao GCNQSDĐ, QSHNO cho H
phần do trở ngại khách quan, thuộc sự kiện bất khả kháng được các bên thoả
thuận tại khoản 13.1 Điều 13 của Hợp đồng số A4-23/HĐMB-BLV đã ghi nhận:
“… Do phải thực hiện quyết định của quan Nhà nước thẩm quyền hoặc
các trường hợp khác do pháp luật quy định trước sau khi hợp đồng được
ký vẫn không thể khắc phục…”. Đồng thời, theo bị đơn trình bày đến ngày 08-8-
2024, Công ty X được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cho phép chuyển
nhượng thửa đất số 2837 cho nhân, nhưng do H đang tranh chấp nên chưa
nộp được hồ cấp GCNQSDĐ, QSHNO cho H; nhận thấy lời trình bày của
bị đơn là phù hợp nên cần chấp nhận.
2.2. Xét nguyên đơn bà H yêu cầu phạt vi phạm theo quy định tại khoản 8.2
Điều 8 Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai số A4-23/HĐMB-
BLV ngày 25-01-2018, với số tiền phạt là 3.000.071.424 đồng do chậm bàn giao
GCNQSDĐ, QSHNO xét thấy:
Tại gạch đầu dòng thứ 3 của Khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng ghi nhận trường
hợp chậm bàn giao GCNQSDĐ cho bên mua quá 24 tháng thì bên bán trách
nhiệm hoàn lại toàn bộ số tiền bên mua đã thanh toán và chịu khoản tiền phạt là
20% tổng số tiền bên mua đã thanh toán; nhưng nguyên đơn H yêu cầu được
tiếp tục thực hiện hợp đồng, cụ thể H yêu cầu được sở hữu căn nhà này bị
đơn còn phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền H đã trả, phạt thêm 20%/ tổng số
tiền bà H đã thanh toán, với số tiền phạt là 3.000.071.424 đồng. Theo bị đơn xác
định đây là điều khoản ghi nhận trường hợp q24 tháng vẫn không giao được
GCNQSDĐ bên mua yêu cầu thanh hợp đồng tbên bán mới hoàn lại
toàn bộ số tiền bên mua đã thanh toán chịu khoản tiền phạt 20% tổng số
tiền bên mua đã thanh toán. Do đó, các bên tranh chấp về cách hiểu từ ngữ thoả
thuận tại Khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng này. Hội đồng xét xử nhận thấy lời
trình bày của bị đơn Công ty X sở, phù hợp với quy định tại Điều 404
của Bộ luật Dân sự quy định vgiải thích hợp đồng, nên cần chấp nhận. Mặt
khác, nguyên đơn H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh thiệt
hại thực tế do chậm giao GCNQSDĐ, QSHNO gây ra; đồng thời yêu cầu này
cũng không thuộc các trường hợp “… phạt vi phạm hợp đồng bồi thường
13
thiệt hại…” do các bên thoả thuận được ghi nhận tại Điều 15 của Hợp đồng này;
do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H.
Từ những phân tích trên, nhận thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên
toà phù hợp nên cần chấp nhận; do đó không căn cứ chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà Trần Thị Ngọc H; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Tại phiên toà, bà Dương Tâm Anh T người đại diện hợp pháp cho
Trần Thị Ngọc H trình bày: Đề nghị xem xét lại tiền án phí, vì bà H không tranh
chấp số tiền còn nợ Công ty X 5%/giá trị hợp đồng với số tiền 131.582.080
đồng, nên cấp sơ thẩm buộc bà H chịu án phí đối với số tiền này là không đúng.
Nhận thấy, các bên tranh chấp Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong
tương lai A4-23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018, cấp thẩm công nhận hợp
đồng, buộc các bên nghĩa vụ tiếp tục thực hiện phần còn lại của hợp đồng;
nhằm giải quyết triệt để vụ án; cụ thể buộc Trần Thị Ngọc H nghĩa vụ thanh
toán cho Công ty Cổ phần X số tiền 131.582.080 đồng buộc bà H phải chịu
án phí giá ngạch đối với số tiền phải thực hiện nghĩa vụ này là phợp với
quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên
Trần Thị Ngọc H phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ tiền tạm ứng
án phí phúc thẩmH đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Ngọc H.
2. Giữ nguyên Bản án Dân sự thẩm số: 215/2025/DS-ST ngày 29 tháng
8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh.
3. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều
39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273;
Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 500, Điều 502, Điều 404
của Bộ luật Dân sự; khoản 2, Điều 45 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 19, Điều
21, Điều 22, Điều 23, Điều 24, Điều 55 của Luật Kinh doanh Bất động sản năm
2013, Điều 33, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39 của Luật Nhà năm 2023;
điểm a, điểm b, khoản 1 Điều 41 của Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29-7-
2024 của Chính Phủ; Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12-6-2025 của Chính
Phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
14
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Ngọc H về việc “Tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất”
đối với Công ty Cổ phần X.
3.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Ngọc H về việc
phạt vi phạm do chậm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Công ty
Cổ phần X.
3.3. Không chấp nhận yêu cầu Thanh hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất tài sản gắn liền” của Công ty Cổ phần X đối với Trần Thị
Ngọc H.
3.4. Công nhận Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A4-
23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018, đối tượng là nền A4, số 23, diện tích
136m
2
(thửa đất 2837, tờ bản đồ số 7) và tài sản gắn liền: Loại nhà biệt thự, diện
tích xây dựng 216,8m
2
, gồm: Tầng trệt: 64,5m
2
, lầu 1: 69,3m
2
, lầu 2: 73m
2
, mái
10, sân trước 56,5m
2
, sân sau 15m
2
,
thuộc Dự án khu nhà kinh doanh B tại
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay Đ, tỉnh Tây Ninh), giữa Công ty Cổ phần
X với bà Trần Thị Ngọc H là hợp pháp.
3.5. Công ty Cổ phần X nghĩa vụ và trách nhiệm hoàn tất các thủ tục
pháp lý cần thiết theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản đối với
thửa đất 2837 tài sản gắn liền với đất thuộc Dự án khu nhà kinh doanh
Bella Villa do Công ty X chủ đầu tư; nhằm đảm bảo đủ điều kiện chuyển
nhượng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài
sản gắn liền với đất cho bà Trần Thị Ngọc H tại thửa đất này. Bà Trần Thị Ngọc
H trách nhiệm phối hợp với ng ty Cổ phần X để hoàn tất các thủ tục liên
quan.
3.6. Bà Trần Thị Ngọc H nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần X số
tiền 131.582.080 (một trăm ba mươi mốt triệu, năm trăm tám mươi hai ngàn,
không trăm m mươi) đồng, theo Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong
tương lai số A4-23/HĐMB-BLV ngày 25-01-2018.
4. Về chi phí tố tụng: Công ty Cổ phần X nghĩa vụ hoàn lại bà Trần Thị
Ngọc H số tiền 10.784.000 đồng (mười triệu, bảy trăm tám mươi bốn ngàn)
đồng.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Trần Thị Ngọc H phải chịu số tiền án phí dân sự thẩm là
98.580.532 đồng; được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo
Biên lai thu số 0007048 ngày 25-10-2022 số tiền 46.000.000 đồng theo Biên
lai thu số 0007049 ngày 25-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức
Hòa (Nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 Tây Ninh). Trần Thị
Ngọc H phải nộp tiếp số tiền án phí là 52.280.532 (Năm mươi hai triệu, hai trăm
tám mươi ngàn, năm trăm ba mươi hai) đồng.
15
5.2. Công ty Cổ phần X phải chịu số tiền án phí 300.000 (Ba trăm ngàn)
đồng; được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu s
0006590 ngày 10-4-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa (Nay
là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 Tây Ninh). Công ty Cổ phần X đã nộp
xong.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Trần Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng; được trừ vào tiền tạm ứng án
phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004311 ngày 16-9-2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
7. Các quyết định khác ca bản án thẩm không kháng cáo, kháng
ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
8. Trường hp bản án được thi hành theo quy đnh ti Ðiu 2 ca Lut Thi
hành án dân s thì nời được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành
án hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điu 6, 7, 7a 9 ca
Lut Thi hành án; thi hiu thi hành án đưc thc hin theo quy định ti Ðiu 30
ca Lut Thi hành án dân s.
9. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 3;
- Phòng THADS Khu vc 3;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- Các đương sự;
- Lưu tập án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Quc Tun
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 793/2026/DS-PT Bản án số 793/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 793/2026/DS-PT Bản án số 793/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất