Bản án số 580/2026/DS-PT ngày 08/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 580/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 580/2026/DS-PT ngày 08/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 580/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 04 tháng 3 năm 2026, nguyên đơn Đặng Thị Trúc L có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 580/2026/DS-PT Bản án số 580/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 580/2026/DS-PT Bản án số 580/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 580 /2026/DS-PT
Ngày: 08 - 7 - 2026
V/v tranh chấp: “Thực hiện
nghĩa vụ do người chết để
lại
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Nguyễn Ái Đoan
Ông Sỹ Danh Đạt
- Thư phiên tòa: Mai Gia Khánh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa:
Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số 322/2026/TLPT-DS ngày 14 tháng
5 năm 2026 về tranh chấp “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Do Bản án dân sự thẩm số 101/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số 1127/2026/QĐ-PT
ngày 04 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Trúc L, sinh năm 1982 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp G, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 (có mặt);
2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1953 (xin vắng mặt);
3. Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1955 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
4. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1955 (xin vắng mặt);
2
Địa chỉ: Ấp T, xã B, thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bà Hồ Thị L1, sinh năm 1962 (có mặt);
6. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1966 (có mặt);
7. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
8. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1966 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã K, thành phố Hồ Chí Minh.
9. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Bình D, sinh năm
1968 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Đặng Thị Trúc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn Đặng Thị Trúc L trình bày: Theo bản án số
250/2022/DS-PT, ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về việc
chia di sản thừa kế, giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H, bđơn là Đặng
Thị Trúc L những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Nguyễn
Văn Đ, Nguyễn Văn R, Nguyễn Văn H1, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn
Thị N, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thu TNguyễn Minh T1.
Theo nội dung bản án, các đương sự được chia di sản thừa kế quyền sử dụng
đất đối với các thửa đất do cụ Phan Thị P đứng tên. Khi chia di sản thừa kế,
chưa giải quyết các khoản nợ của cụ P. Do các bị đơn được chia di sản của cụ P
nên L yêu cầu các ông Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn R,
Nguyễn Văn H1, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị C,
Nguyễn Thị M cùng nghĩa vụ trả cho L các khoản tiền, vàng do L đã
trả nợ thay cụ P và trả tiền bồi thố các thửa đất chia cho các bị đơn.
Theo đơn khởi kiện đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/11/2023 L yêu
cầu các bị đơn trả cho L các khoản tiền giá trị 20 chỉ vàng 24k tổng cộng
là 2.289.050.000đồng. Tại buổi hòa giải ngày 10/12/2025, bà L rút lại một phần
yêu cầu trong đơn kiện bổ sung ngày 13/11/2023, là yêu cầu các bị đơn trả số
tiền tổng cộng là 1.152.450đồng và 20 chỉ vàng 24k.
3
Tại phiên tòa hôm nay, L xin thay đổi nội dung yêu cầu tại buổi hòa
giải ngày 10/12/2025, yêu cầu các bị đơn trả số tiền giá trị 20 chỉ vàng
tổng cộng 2.289.050.000đồng n nội dung đơn khởi kiện bổ sung ngày
13/11/2023. Cụ thể, tiền đóng hụi tiền lãi 126.990.000đồng. Tiền trả cho
Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T (viết tắc ngân hàng) tiền lãi
408.000.000đồng. Tiền bồi thố đất tiền lãi là 1.640.160.000đồng. Giá trị 20
chỉ vàng 24k 113.900.000đồng. Tổng cộng các khoản tiền giá trị 20 chỉ
vàng bà L yêu cầu các bị đơn trả là 2.289.050.000đồng. Bà L yêu cầu trả khi án
có hiệu lực pháp luật.
Các bị đơn gồm ông Nguyễn Văn H, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị Đ1,
Nguyễn Thị N ng trình bày: Chúng tôi được chia thừa kế di sản của cụ P
theo Bản án số 250/2022/DS-PT, ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh
Tiền Giang. Bản án đã hiệu lực pháp luật. L không chứng cứ chứng
minh cụ P có nợ tiền hụi của bà M1 và bà P1 với số tiền 24.900.000 đồng và nợ
20 chỉ vàng 24k của Đ3, C và ông D. Do đó, chúng tôi không đồng ý trả
tiền hụi, tiền lãi của tiền hụi và 20 chỉ vàng 24k theo yêu cầu của bà L.
Chúng tôi không đồng ý trả tiền bồi thố đất, tiền lãi của tiền bồi thố đất
cho L L cho rằng bồi thố các thửa đất là di sản của cụ P, nhưng
không có chứng cứ chứng minh cụ P là người thuê bồi thố đất và còn nợ những
người bồi thố đất như L trình bày. Từ sau khi cụ P chết vào năm 2002 đến
nay, L chồng trực tiếp quản lý, canh tác đất của cụ P. Huê lợi từ di sản
của cụ P do L sử dụng. Khi yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ P, chúng tôi
không yêu cầu chia huê lợi L thu được tđất của cụ P. Theo lời khai của
những người đổ đất thì L thuê đổ đất nhưng bồi thố đất cho L làm
nền nhà theo Bản án số 250/2022/DS-PT ngày 28/9/2022 thì vợ chồng L
được chia thừa kế tại vị trí L bồi thố đất và cũng vị trí căn nhà bà L đang
ở.
Riêng tiền trả ngân hàng, L chứng cứ đã trả số tiền 3.105.000
đồng trả thay cụ P nên chúng tôi đồng ý trả cho L 3.105.000đồng đồng
ý trả tiền lãi của số tiền 3.105.000đồng từ sau ngày bà L trả tiền ngân hàng đến
nay với lãi suất 09%/năm, sẽ trả khi án có hiệu lực pháp luật.
Các bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn R, Nguyễn Văn H1,
Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M trình bày cùng nội dung: Chúng tôi chưa được
nhận đất theo Bản án số 250/2022/DS-PT, ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân
tỉnh Tiền Giang. NayL cho rằng có trả nợ thay cụ P như trả vàng cho bà Đ3,
C, ông D; đóng hụi cho bà M1, bà P1 và trả tiền bồi thố đất cho nhiều người
4
là không đúng sự thật. Chúng tôi không đồng ý trả cho bà L tiền, vàng theo yêu
cầu của bà L vì bà L không có chứng cứ chứng minh các khoản tiền, vàng L
trình bày là nợ của cụ P.
Riêng tiền L trả nợ ngân hàng 3.105.000đồng, chúng tôi đồng ý trả
lại cho bà L 3.105.000đồng và tiền lãi khi án có hiệu lực pháp luật.
Tại bản án dân sự thẩm số 101/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 Đồng Tháp áp dụng Điều 468, Điều 614
khoản 3 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 5, khoản 14 Điều 26,
khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm
đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm,
nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Trúc L.
- Buộc các bị đơn Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn R, Hồ Thị L1, Nguyễn
Thị Đ1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị C,
Nguyễn Thị M cùng có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị Trúc L số tiền bà L đã trả
cho Ngân ng N1 - Chi nhánh huyện T 3.105.000đồng tiền i
6.427.350đồng, tổng cộng là 9.532.350 (chín triệu năm trăm ba mươi hai nghìn
ba trăm năm mươi) đồng. Thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của Đặng Thị Trúc L yêu
cầu các bị đơn trả số tiền 2.279.517.650 đồng (tiền trả cho Ngân hàng N1 -
Chi nhánh huyện T tiền lãi 398.467.650đồng, tiền đóng hụi tiền lãi
126.990.000 đồng, tiền bối thố đất tiền i 1.640.160.000đồng, trị giá 20
chỉ vàng 24k là 113.900.000đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không
thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân
sự 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 04 tháng 3 năm 2026, nguyên đơn Đặng Thị Trúc L đơn kháng
cáo yêu cu Tòa án cp phúc thm gii quyết bao gồm: Sửa Bản án dân sự
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Trúc
L.
5
oTại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết toàn bộ vụ án vụ án.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét phúc thẩm đã tuân thủ
theo đúng quy định của pháp luật. Các đương sự cũng chấp hành theo đúng quy
định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án yêu cầu kháng cáo: Xét nội dung bản án thẩm
đã xét xử căn cứ, đúng pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không
cung cấp thêm chứng cứ mới để chứng minh. Đề nghị Hội đồng xét xphúc
thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án
thẩm.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Đặng Thị
Trúc L, lời trình bày của các đương sự kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc
thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là đúng theo yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm thì nguyên đơn kháng cáo bản án trong
thời hạn luật định nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ, nên được xem
xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.1] Đối với các bị đơn gồm ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn H1,
Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến
hành xét xván vắng mặt các đương sự nêu trên theo qui định tại khoản 2
Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Chị Đặng Thị Trúc L vợ của ông Nguyễn Văn
H2 (đã chết năm 2015), ông H2 là con của cụ Nguyễn văn Đ2 (chết 1995) và cụ
Phan Thị P (chết 2002). Sau khi cụ P chết thì ông Nguyễn Văn H khởi kiện
chị L tranh chấp di sản thừa kế của cụ Đ2 cụ P chết để lại, tranh chấp di sản
thừa kế này được giải quyết bằng bản án dân sự phúc thẩm số 250/2022/DS-PT
ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp). Quá trình thi hành bản án phúc thẩm thì chị L khởi kiện yêu
cầu các đồng thừa kế (các con cụ Đ2 - cụ P) phải hoàn trả cho chị L các khoản
6
tiền vàng do cụ P còn nợ, cụ thể như sau:
- Tiền đóng hụi và tiền lãi là 126.990.000đồng;
- Tiền trả cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T (viết tắc là ngân hàng)
và tiền lãi là 408.000.000đồng;
- Tiền bồi thố đất và tiền lãi là 1.640.160.000đồng;
- Giá trị 20 chỉ vàng 24k là 113.900.000đồng;
Tổng cộng các khoản tiền giá trị 20 chỉ vàng L yêu cầu các bị đơn
trả là 2.289.050.000đồng
Sau khi xét xử sơ thẩm, chị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của chị Đặng Thị Trúc L, Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận thấy:
[3.1] Đối với số tiền đóng hụi và tiền lãi phát sinh, chị L khởi kiện yêu
cầu các bị đơn trả số tiền bà L đóng hụi thay cụ P tổng cộng là 24.900.000đồng.
Gồm đóng hụi cho M1 là 19.500.000đồng và đóng hụi cho P1
5.400.000đồng. L yêu cầu các bị đơn trả tiền hụi và trả tiền lãi của tiền hụi
tổng cộng 126.990.000đồng. L cung cấp chứng cứ đchứng minh trả
tiền hụi tờ giấy nội dung: tôi Thị M1 sanh năm 1957 ấp G hụi 5
ngừng 2.000, 24 người”. Xét thấy, Chị L không cung cấp được chứng cứ
chứng minh số tiền nợ hụi trên, đồng thời các bị đơn cũng không thừa nhận vấn
đề này. Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L về số tiền
nợ hụi là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.2] Đối với số tiền trả ngân hàng thay cho cụ P, chị L cho rằng sau khi
cụ P chết, chị L trả cho ngân hàng H4, trả nợ thay cụ P. Xét thấy, chL
không cung cấp được chứng cứ để chứng minh sau khi cụ P chết, còn nợ ngân
hàng 80.000.000đồng. Tòa án sơ thẩm đã thu thập chứng cứ từ hồ sơ tranh chấp
di sản thừa kế theo Bản án số 250/2022/DS-PT ngày 28/9/2022 của a án
nhân dân tỉnh Tiền Giang là 01 “PHIẾU THU” ngày 19/02/2003. Trên PHIẾU
THU” ngày 19/02/2003 có nội dung tại mục “Người trả” Phan Thị P, tại mục
“Người nộp tiền” là chtên L, số tiền trả là 3.105.000đồng (bút lục 204).
Tòa án thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị L với stiền
3.105.000đồng lãi phát sinh 9%/ năm, tổng số tiền 6.427.350đồng là căn
cứ. Tổng cộng 9.532.350đồng (3.105.000đ + 6.427.350đ). Ngoài số tiền
3.105.000đồng nêu trên thì chị L không chứng cứ nào khác để chứng minh
trả nợ ngân hàng thay cho cụ P. Tòa án thẩm chấp nhận một phần yêu cầu
7
của chị L, buộc các bị đơn phải trả cho chị L số tiền 9.532.350đồng đúng
pháp luật. Đáng lẽ ra, đối với số tiền này tất cả đồng thừa kế của cụ P (có
hưởng di sản của cụ P) phải trả nợ cho chị L, trong đó ông Nguyễn Văn H2,
chồng của chị L (do chị L các con thừa hưởng phần di sản được hưởng của
ông H2). Tuy nhiên, tại phiên tòa thẩm các bị đơn đều đồng ý hoàn trả số
tiền 9.532.350đồng cho chL là tự nguyện và có lợi cho chị L.
[3.3] Tiền bồi thố đất và tiền lãi 1.640.160.000đồng: Tổng stiền chị
L cho rằng đã trả bồi thố, cải tạo đất 321.600.000đồng. Chị L cung cấp
chứng cứ là các tờ giấy viết tay có nội dung họ, tên người chị L thuê bồi thố đất
gồm các ông NVăn Q, Nguyễn Hữu H3, Bạch Văn T2, Hồng B, Trần
Thanh T3; ghi số lượng đất đã đổ (số lượng xe), thời gian thực hiện đổ đất (số
giờ), số tiền. Xét thấy, nội dung các tờ giấy nói trên, không căn cứ xác định
là bồi thố trên các thửa đất cụ P đứng tên chủ sử dụng; không có nội dung L
trả tiền bồi thố, cải tạo đất trả nợ tiền cụ P thuê bồi thố đất. Tòa án thẩm
đã lấy lời khai đối với ông Tấn B1, Bạch Văn T2, Hồng B, Nguyễn Hữu
H3, Ngô Văn Q, Trần Thanh T3 (bút lục 135, 138, 139, 140, 141, 146a). Nội
dung trình bày của các ông B1, T2, B, H3, Q, T3 thì chị L người thuê các
ông bồi thố, cải tạo các thửa đất do chị L quản lý. Thời gian thực hiện việc bồi
thố khoảng 20 năm, từ khi cụ P còn sống. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của
chị L về việc yêu cầu các bị đơn trả tiền bồi thố đất tiền lãi tổng cộng
1.640.160.000đồng. Xét thấy, chị L không chứng cứ chứng minh đã trả thay
tiền cho cụ P2, Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị L đòi các bị
đơn phải trả công bồi thố là có căn cứ. Ngoài ra tại bản án phân chia di sản thừa
kế của cụ P thì Tòa án phúc thẩm cũng đã xem xét công sức gìn giữ, bồi thố di
sản thừa kế cho gia đình chị L được hưởng thêm 01 kỉ phần. Do đó, Tòa án
thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị L đòi các bị đơn phải trả số tiền
1.640.160.000đồng là đúng pháp luật.
[3.4] Đối với yêu cầu của chị L đòi số vàng 20 chỉ 24kr: Chị L cho rằng
đã trả 20 chỉ vàng thay cho cụ P, cụ thể trả cho Nguyễn Thị Đ3 07 chỉ vàng
24k, trả cho ông nh D 01 chỉ vàng 24k (bà Đ1 nhận thay) trả cho
Nguyễn Thị C1 12 chỉ vàng 24k. Chị L không cung cấp được chứng cứ chứng
minh cụ P nợ Đ3, C và ông D tổng cộng 20 chvàng như L trình
bày, không chứng cứ chứng minh trả cho Đ3 07 chỉ vàng 24k, trả cho
ông Bình D 01 chỉ vàng 24k trả cho Nguyễn Thị C1 12 chỉ vàng 24k.
Tòa án thẩm đã lấy lời khai ngày 24/7/2025 (bút lục 279), theo lời khai của
C trong biên bản đối chất ngày 24/7/2025 (bút lục 285-287) và tại phiên tòa,
8
ông D và Đ1 xác định, cụ P không nợ vàng ông D; bà C, ông D, Đ1 cũng
không nhận vàng L giao. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của chị L về việc
đòi các bị đơn trả giá trị 20 chỉ vàng 24k là có căn cứ.
[4] Từ những căn cứ phân tích như trên, xét nội dung bản án thẩm đã
xét xử căn cứ, đúng pháp luật. Chị L kháng cáo nhưng không cung cấp
thêm chứng cứ mới để chứng minh. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo của chị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo qui định tại khoản 1
Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là căn
cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo của chị Trúc L, chị L phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo qui định được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí đã nộp xem như thi hành xong án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 296, khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố
tụng dân sự;
Căn cứ Điều 468, Điều 614 khoản 3 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm
2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Đặng Thị Trúc
L. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số số 101/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp ;
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Trúc L.
2.1. Buộc các bị đơn Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn R, Hồ Thị L1, Nguyễn
Thị Đ1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị C,
Nguyễn Thị M cùng có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị Trúc L số tiền bà L đã trả
cho Ngân ng N1 - Chi nhánh huyện T 3.105.000đồng tiền i
6.427.350đồng, tổng cộng là 9.532.350 (chín triệu năm trăm ba mươi hai nghìn
ba trăm năm mươi) đồng. Thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật.
2.2. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Trúc L
9
yêu cầu các bị đơn trả số tiền là 2.279.517.650đồng (tiền trả cho Ngân hàng N1
- Chi nhánh huyện T tiền lãi là 398.467.650đồng, tiền đóng hụitiền lãi
126.990.000đồng, tiền bồi thố đất tiền lãi 1.640.160.000đồng, trị giá 20
chỉ vàng 24k là 113.900.000đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không
thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân
sự 2015.
3. Về án phí:
- Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Đặng Thị Trúc L phải chịu 300.000đồng
án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án
phí do chị L nộp theo phiếu thu số 0003093 ngày 04/03/2026 của Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp xem như thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Chị Đặng Thị Trúc L nghĩa vnộp án phí án phí dân sự thẩm
77.590.535 (bảy mươi bảy triệu năm trăm chín mươi nghìn năm trăm ba mươi
lăm) đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tổng cộng
51.370.500 (năm mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi nghìn năm trăm) đồng, theo
các biên lai số 0008470 ngày 23/02/2023, s0001510 ngày 13/11/2023. Chị L
còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự thẩm 26.220.035 (hai mươi sáu
triệu hai trăm hai mươi ba nghìn không trăm ba mươi lăm) đồng.
+ Các ông Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn R, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị
Đ1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị C, Nguyễn
Thị M cùng nghĩa vụ nộp 476.617 (bốn trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm
mười bảy) đồng, án phí dân sự sơ thẩm. Bình quân, mỗi người nộp 52.957 (năm
mươi hai nghìn chín trăm năm mươi bảy) đồng, án phí dân sthẩm. Riêng
Hồ Thị L1, bà Nguyễn Thị Đ1 được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền yêu cầu thi hành án, có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo điều 6,7 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
10
Nơi nhn:
- Tòa phúc thm TANDTC ti TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 2 Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Trần Văn Đạt
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 580/2026/DS-PT Bản án số 580/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 580/2026/DS-PT Bản án số 580/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất