Bản án số 581/2026/DS-PT ngày 08/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 581/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 581/2026/DS-PT ngày 08/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 581/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 581/2026/DS-PT Bản án số 581/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 581/2026/DS-PT Bản án số 581/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 581/2026/DS-PT
Ngày: 08-07- 2026
V/v tranh chấp “Hợp đồng
vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng.
Các Thẩm phán: - Ông Lê Thành Tôn;
- Ông Nguyễn Chí Dững.
- Thư phiên tòa: Thị Thanh Vân- Thư Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa:
Phan Thị Thanh Mến- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai ván thụ số 373/2026/TLPT-DS ngày 01/06/2026 về việc
tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8- Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 1149/2026/QĐ-PT ngày
10 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1974.
Địa chỉ: ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1963.
Địa chỉ: 1 đường số A, phường L, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Chị Tống Thị Thu T, sinh năm 1978.
Địa chỉ: ấp T, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bị đơn chị Tống Thị Thu T.
2
(Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt chị D, ông H, chị T).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm,
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D có đại diện theo ủy quyền là ông Trần Thanh
H trình bày:
Ngày 10/3/2023 chị D có cho chị T vay số tiền 360.000.000 đồng, lãi suất thỏa
thuận 3%/tháng, thời hạn vay chị T nói khi bán đất strả cho chị D số tiền này trong
năm 2025, mục đích vay để làm ăn, vay không thế chấp tài sản.
Từ khi vay đến nay chT không trả vốn hay trả tiền lãi cho chị D lần nào,
chị T hứa hẹn hoài nhưng không trả.
Đối với ý kiến chị T cho rằng khoảng năm 2023, chị T vay của chị D số tiền
50.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 2.000.000 đồng, thời gian trả góp 30 ngày,
thành tiền 60.000.000 đồng. Nhưng chị T không khả năng trả góp theo thỏa thuận
ngưng trả góp thời gian khoảng 01 năm nên chị D tổng kết vốn, lãi là 220.000.000
đồng kêu chị T đem giấy chứng minh nhân dân đến nhà chị D ký tên vào biên
nhận ngày 10/02/2023. Chị D không đồng ý vấn đề này, trước đây chị T có vay tiền
của chị D nhưng đã thanh toán xong không có liên quan đến khoản vay này.
Do đó, chị D yêu cầu chị T trả số tiền vốn 360.000.00 đồng và tiền lãi tạm tính
từ ngày 10/02/2023 đến ngày 10/02/2026 36 tháng, mức lãi 0,83%/tháng, thành
tiền 107.568.000 đồng. Tổng cộng vốn lãi 467.568.000 đồng.
Ngoài ra, chị D không có yêu cầu người nào khác liên đới cùng chị T.
* Bị đơn chị Tống Thị Thu T trình bày:
Khoảng năm 2023, chị T vay của chị D số tiền 50.000.000 đồng, trả góp mỗi
ngày 2.000.000 đồng, thời gian trả góp 30 ngày, thành tiền 60.000.000 đồng (là
tiền lãi 20%/tháng), chị T vay tiền là để sử dụng cá nhân, không có thế chấp tài sản.
Nhưng chị T không khả năng trả góp theo thỏa thuận ngưng trả thời gian
khoảng 01 năm nên chị D tổng kết vốn, lãi là 220.000.000 đồng và kêu chị T pho to
giấy chứng minh nhân dân đến nhà chị D ký tên vào biên nhận ngày 10/02/2023 xác
nhận nợ.
Qua xem biên nhận ngày 10/02/2023 chữ tên, ghi họ tên Tống Thị Thu T
thì chị T xác định do chị T tên, ghi họ tên. Nhưng do chị T không rành chữ
nghĩa nên không có đọc lại nội dung biên nhận và chị D cũng không đọc cho chị T
nghe mà chỉ nói số tiền trong biên nhận là 220.000.000 đồng, nếu sau này có dư thì
3
trả lại chị D nói nếu chị T1 không vào biên nhận thì chị D sẽ i cho người
nhà chị T biết. Do đó, chị T sợ nên tên, ghi htên vào biên nhận, lúc đó chỉ
chị T và chị D, không có ai chứng kiến.
Nay chị T không đồng ý theo yêu cầu của chị D, chT chỉ đồng ý trả cho chị D
số tiền 220.000.000 đồng.
Ngoài ra, chị T không yêu cầu người nào khác cùng liên đới trả nợ cho chị
D.
Tại bản án dân sự thẩm số 64/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8- Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ:
Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30/12/2016 về án phí,
lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D.
- Buộc chị Tống Thi Thu T2 trả cho chị Nguyễn Thị D số tiền vốn 360.000.000
đồng và tiền lãi 107.568.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi 467.568.000 đồng (Bốn trăm
sáu mươi bảy triệu, năm trăm sáu mươi tám ngàn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên ván phí, quyền kháng cáo quyền, nghĩa vụ thi
hành án của đương sự.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, bị đơn chị Tống Thị Thu T kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chị T đồng ý trả
cho chị D số tiền 220.000.000 đồng.
Tại phiên tòa người kháng cáo ginguyên yêu cầu kháng cáo; phía nguyên cho
rằng cấp sơ thẩm giải quyết vụ án đúng pháp luật nên yêu cầu giữ nguyên bản án
thẩm.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư đã thực hiện đúng, đầy đủ
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan đến việc
xét xử vụ án. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ
theo qui định của pháp luật.
4
- Về nội dung: Cấp thẩm xét xử vụ án là căn cứ, đúng pháp luật, chị T
kháng cáo nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét
xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự : không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 64/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Đồng Tháp
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa; trên sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương
sự; căn cứ kết quả tranh tụng và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ vay, cấp sơ
thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp Hợp đồng vay tài sản thụ giải
quyết phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26 Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân s
Ngày 09/4/2026 Tòa án nhân dân khu vực 8- tỉnh Đồng Tháp xét xvụ án,
không đồng ý với bản án thẩm, ngày 22/4/2026, bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm
trong hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét
giải quyết.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn kháng cáo của bị
đơn thì thấy rằng:
- Chị D khởi kiện yêu cầu chị T trả số nợ vay 360.000.000đ, chứng cứ khởi
kiện là biên nhận nợ có chữ ký của chị T lập ngày 10/02/2023, phía chị T cũng thừa
nhận chữ ký, chviết tên họ Tống Thị Thu T do chị viết ra nhưng chị cho rằng
vay của chị D lúc đầu chỉ 50.000.000đ, do không trả lãi đầy đủ nên chị D cộng dồn
tổng cộng 220.000.000đ buộc chị làm biên nhận nợ. Xét thấy chT cho rằng minh
chỉ vay của chị T 220.000.000đ nhưng không chứng minh được thời gian vay lúc
nào sao vay 50.000.000đ cộng dồn thành 220.000.000đ lại biên nhận
360.000.000đ, chị T cũng không cung cấp chứng cứ các lần vay lãi suất cộng
dồn cụ thể như thế nào, phía nguyên đơn không thừa nhận, cấp thẩm buộc chị T
trả 360.000.000đ vốn là có căn cứ.
Đối với yêu cầu về tiền lãi lãi suất, cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất 0,83%
tính mốc từ 10/02/2023 đến 10/02/2026 chưa căn cứ vững chắc, bỡi lẽ tại
biên nhận nợ ngày 10/02/2023 không thể hiện chính xác thời gian trả nợ (chỉ ghi n
đất trả lại) quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn không xác định mốc thời
gian chị T vi phạm nghĩa vụ để từ đó căn cứ tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ theo
quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, cho nên nghĩa vụ thanh toán chỉ
5
phát sinh từ ngày bđơn nhận được, biết được nguyên đơn đòi lại số nợ, theo đơn
khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày làm
biên nhận nợ (10/02/2023) đến ngày 10/02/2026, như đã phân tích trên, không
chứng cứ xác định thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên xác định thời
gian phát sinh nghĩa vụ thanh toán từ ngày bị đơn biết được nguyên đơn khởi kiện,
tài liệu trong hồ sơ thể hiện phía chị T nhận được thông báo thụ theo yêu cầu khởi
kiện của chị D vào ngày 11/02/2026, đối chiếu với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn thì yêu cầu tính lãi phát sinh trước ngày chị T biết chị D kiện nên yêu cầu tính
lãi của nguyên đơn không căn cứ chấp nhận, cấp thẩm buộc chị D trả khoản
lãi từ ngày 10/02/2023 đến 10/02/2026 với số tiền 107.568.000đ chưa phù hợp
nên cần phải cải sửa bản án sơ thẩm về phần này.
Phía chị T kháng cáo cho rằng khoản vay không đến 360.000.000đ nhưng
không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, phía nguyên đơn không thừa nhận nên yêu
cầu kháng cáo này không có căn cứ để xem xét.
[3]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên tòa
được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
[4]. Về án phí: do sửa án sơ thẩm nên phần án phí sơ thẩm cũng điều chỉnh lại
cho phù hợp. Đối với kháng cáo của chị T được chấp nhận một phần nên chị không
phải chịu án pdân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 ca B lut T tng dân s.
Chp nhn mt phn yêu cu kháng cáo ca b đơn Tống Thị Thu T.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8- Đồng Tháp.
Căn cứ : Điều 463, 469, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm
2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí
Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D.
- Buộc chị Tống Thi Thu T2 trả cho chị Nguyễn Thị D số tiền vốn 360.000.000
đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D đòi chị Tống Thị Thu T
107.568.000đ tiền lãi
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
6
phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
2. Về án phí:
Chị Tống Thị Thu T phải chịu 18.000.000 đồng án phí dân sự thẩm, không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo theo biên
lai thu số 0006023 ngày 22/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nên còn
phải nộp tiếp số tiền án phí 17.700.000 đồng (mười bảy triệu bảy trăm nghìn
đồng).
Chị Nguyễn Thị D phải chịu 5.378.400 đ án phí dân sự thẩm, đã nộp
11.351.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002340 ngày 09/02/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nên được hoàn lại 5.972.600đ (Năm triệu chín
trăm bảy mươi hai nghìn sáu trăm đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế
thi hành theo qui định tại các điều 6,7, 7a 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thành T3- Nguyễn Chí Dững Nguyễn Ngọc T4 D1
7
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vc 8-Đồng Tháp;
- VKSND khu vc 8- Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Ngọc Thái Dũng
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 581/2026/DS-PT Bản án số 581/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 581/2026/DS-PT Bản án số 581/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất