Bản án số 402/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 402/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 402/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 402/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ - VKS - DS ngày 25/5/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Minh T1; sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 08/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 402/2026/DS-PT Bản án số 402/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 402/2026/DS-PT Bản án số 402/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 402/2026/DS-PT
Ngày: 16-7-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng Dân sự
vay tài sản, yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ do người chết để lại”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Nguyễn Thị Thu
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 367/2026/TLPT-DS ngày 12/6/2026 về việc
Tranh chấp hợp đồng Dân sự vay tài sản, Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người
chết để lại”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử số 472/2026/QĐ-PT ngày 23 tháng 6
năm 2026; Thông báo về việc dời thời gian xét xử ván Dân sự phúc thẩm số
277/TB-PT ngày 09/7/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1966; cư trú tại số B, quốc lộ B, ấp
P, xã P, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Văn T, sinh m: 1981; địa chỉ: số B,
27/6, ấp P, P, tỉnh Đồng Nai, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy
quyền số 4545/2025/CCGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 08/10/2025),
mặt.
Đồng bị đơn:
2
1. Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1965; trú tại số I, đường T, Phường C
B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông T1:
+ Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bản Luật, Chi nhánh B1;
người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1985, người đại
diện theo pháp luật. Địa chỉ: số A, đường N, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng, là người
đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 3102/2025/CCGD do Văn phòng C1
chứng nhận ngày 10/10/2025), có mặt.
+ Chị Vy Thị Hồng P, sinh năm: 1986; địa chỉ: số A, đường N, Phường B B,
tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày
10/10/2025 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên B2 Luật, Chi nhánh
B1), có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1: Luật Nguyễn Thanh
H1, sinh năm: 1985. Luật của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Bản Luật, Chi
nhánh B1 - Đoàn Luật tỉnh L. Địa chỉ: số A, đường N, Phường B B, tỉnh Lâm
Đồng, có mặt.
2. Chị Nguyễn Thị Tú T2, sinh năm: 1992, có mặt.
3. Chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, sinh năm: 1993, có mặt.
4. Chị Nguyễn Thùy Ngọc B, sinh năm: 1998, có mặt.
5. Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3, sinh năm: 2004, có mặt.
Cùng cư trú tại số I, đường T, Phường C B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp: Chị Lê Ngọc Thanh T4, sinh năm: 2001; địa chỉ: số
A, đường N, Phường B B, tỉnh Lâm Đồng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn
bản ủy quyền số 3841/2025/CCGD do Văn phòng C2 chứng nhận ngày
09/12/2025), có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị T2, chị H2, chị B chị T3:
Luật Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1985; Luật của Công ty luật trách nhiệm
hữu hạn Bản Luật, Chi nhánh B1 - Đoàn Luật tỉnh L. Địa chỉ: sA, đường N,
Phường B B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm
Đồng.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh T1 Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Nguyễn
Thị H, lời trình bày tại các bản tự khai trong quá trình tham gia tố tụng tại giai
đoạn thẩm của ông Đặng Văn T, người đại diện theo ủy quyền của H, thì:
3
Ngày 07/8/2024 vợ chồng ông T1, L (bà L đã chết vào ngày 03/6/2025) vay
của bà H số tiền 2.400.000.000đ, thời hạn vay từ ngày 07/8/2024 đến ny
07/02/2025. Khi vay tiền, vợ chồng ông T1, L giao cho bà H giữ 01 bản
chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N536368 do Ủy ban nhân dân thị
B, tỉnh Lâm Đồng (cũ) cấp ngày 26/4/1999 mang tên hộ ông, bà Nguyễn Minh T1.
Đến ngày 10/9/2024 vợ chồng ông T1, bà L tiếp tục vay của bà H số tiền
600.000.000đ, thời hạn vay từ ngày 10/9/2024 đến ngày 10/11/2024.
Cả hai lần vay tiền, vợ chồng ông T1, L đều viết giấy vay và ký nhận. Tuy
nhiên khi đến hạn, mặc H đã đòi nhiều lần nhưng vợ chồng ông T1, L
không chịu trả nợ. Ngày 03/6/2025 Tạ Thị Huyền L chết nhưng số nợ trên thì
bên vay vẫn chưa trả.
Vợ chồng ông T1, L 04 người con chung chị Nguyễn Thị T2, chị
Nguyễn Ngọc Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B và chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3;
cha mẹ đẻ của L đều đã chết trước bà L.
Do đó, H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc ông Nguyễn Minh T1
những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Tạ Thị Huyền L chị T5
Trinh¸ chị T6 Hương¸ chị Ngọc B và chị Quỳnh T3 phải có trách nhiệm liên đới trả
cho bà tổng số tiền là 3.540.000.000đ; trong đó tiền gốc 3.000.000.000đ, tiền lãi
là 540.000.000đ (tiền lãi đã được tính đến ngày xét xử sơ thẩm).
Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn thẩm, ông Đặng Văn T thay đổi
yêu cầu tính lãi, đề nghị áp dụng mức lãi suất là 0,83%/tháng tính từ ngày vay
đến ngày xét xử sơ thẩm, tính tròn là 19 tháng, thành tiền là 473.100.000đ.
Do vậy, tổng cộng cả gốc lãi ông T yêu cầu ông T1 những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của bà L phải trả cho bà H tổng số tiền là 3.473.100.000đ; bà
H đồng ý trả lại cho ông T1 các con bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nói trên.
- Theo lời trình bày của ông Nguyễn Minh T1 Vy Thị Hồng P, người
đại diện theo ủy quyền của ông T1, thì: Ông T1 xác nhận vào 02 giấy vay
tiền do bà H cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên số tiền bà L nhận vào lúc nào thì ông
T1 không biết, ông chỉ biết số tiền bà L vay của H là 600.000.000đ, còn đối với
số tiền 2.400.000.000đ thì ông không biết. Nay ông T1 không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn đối với phần nghĩa vụ của ông.
- Theo lời trình bày của chị Lê Ngọc Thanh T4, người đại diện theo ủy quyền
của chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B
chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3, thì: Đối với 02 khoản vay giữa H vợ chồng
ông T1, L thì các chị đều không biết nên các chị không đồng ý với toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
4
Hiện nay H đang giữ 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s
N536368 đứng tên hộ ông Nguyễn Minh T1. Tại thời điểm cấp Giấy chứng
nhận ngày 26/4/1999 thì hộ ông T1 các thành viên ông Nguyễn Minh T1,
Tạ Thị Huyền L, chị Nguyễn ThịT2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, do đó các
thành viên chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì quyền định đoạt như
nhau. Việc H giữ Giấy chứng nhận của hộ gia đình ông T1 không phù hợp
nên yêu cầu nguyên đơn phải trả lại cho gia đình ông T1 Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nói trên.
Do nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải nên Tòa án đã không tiến hành
hòa giải giữa các bên.
Tại Bản án số 80/2026/DS - ST ngày 08/5/2026; Tòa án nhân dân khu vực 4
Lâm Đồng đã xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H với bị đơn ông Nguyễn Minh T1
những người kế thừa quyền và nghĩa vtố tụng của Tạ Thị Huyền L chị
Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B chị
Nguyễn Ngọc Quỳnh T3.
1. Buộc ông Nguyễn Minh T1 những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố
tụng của Tạ Thị Huyền L chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc T6
Hương¸ chị Nguyễn Thùy Ngọc B chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 phải trách
nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền 3.473.100.000đ (trong đó
tiền gốc là 3.000.000.000đ và tiền lãi là 473.100.000đ).
2. Buộc Nguyễn Thị H phải trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Minh
T1 những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của TThị Huyền L
chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B
chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 01 (một) bản chính Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất số N536368 do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày
26/4/1999 mang tên hộ ông Nguyễn Minh T1 nhưng tạm giữ để đảm bảo cho
việc thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo trách nhiệm thi
hành án của các đương sự.
Ngày 25/5/2026 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm Đồng
ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ - VKS - DS kháng nghị một
phần Bản án thẩm theo hướng đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án thẩm theo
hướng xác định nghĩa vụ trả nợ của chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc
Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 thực hiện
trong phạm vi di sản mà bà Tạ Thị Huyền L để lại.
5
Ngày 18/5/2026 ông Nguyễn Minh T1 kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa
một phần Bản án thẩm theo hướng tuyên nghĩa vụ phát sinh từ việc thỏa thuận
tiền vay của Tạ Thị Huyền L với Nguyễn Thị H theo các giấy vay tiền ngày
07/8/2024 và ngày 10/9/2024 là nghĩa vụ riêng của bà L trong thời kỳ hôn nhân với
ông. Tuyên những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Tạ Thị Huyền L
chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do bà L để lại.
Tại phiên tòa,
Ông Nguyễn Minh T1, chị Vy Thị Hồng P, người đại diện theo ủy quyền của
ông T1, vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Ông Đặng Ngọc T7, người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Th H,
không đồng ý với kháng cáo của ông T1, không đồng ý với kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm Đồng; đề nghị giữ nguyên Bản án
sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên Quyết định
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm Đồng đồng
thời phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như
phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về
nội dung: đề nghị chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm Đồng; chấp nhận một phần kháng cáo của b
đơn; sửa Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; tuy nhiên còn thiếu quan hệ “Yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ do người chết đlại” nên cấp phúc thẩm bổ sung thêm quan hnày;
Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 4 Lâm Đồng, đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh T1; thủ tục kháng cáo,
kháng nghị được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273, 278,
279 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tố tụng:
Theo hồ sơ thể hiện thì Tạ Thị Huyền L chết vào ngày 03/6/2025 theo Bản
sao trích lục khai tử số 48/2025/TLKT-BS do Ủy ban nhân dân Phường C, tỉnh
Lâm Đồng cấp ngày 11/7/2025. Ngày 23/7/2025 H đơn khởi kiện, nội dung
của đơn khởi kiện cũng thể hiện bà L đã chết; ngày 09/10/2025 Tòa án cấp sơ thẩm
đã thụ vụ án số 176/TB-TLVA; xác định TThị Huyền L đương sự
tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách bị đơn (đã chết); xác định những người
kế thừa quyền, nghĩa vtố tụng của L gồm ông Nguyễn Minh T1, chị Nguyễn
6
Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B, chị Nguyễn
Ngọc Quỳnh T3 không đúng quy định của pháp luật bởi lẽ tại thời điểm Tòa án
thụ thì L đã chết nên năng lực pháp luật của L đã chấm dứt, không thể
bị đơn trong vụ án này được; quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn yêu cầu
ông T1 và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà L trách nhiệm trả số
nợ đã vay; do đó, cấp phúc thẩm xác định ông Nguyễn Minh T1, chị Nguyễn Thị
T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B, chị Nguyễn Ngọc
Quỳnh T3 là bị đơn trong vụ án là phù hợp.
[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của ông T1 thì thấy rằng:
[3.1] Theo bà H trình bày thì vào ngày 07/8/2024 và ngày 10/9/2024 vợ chồng
ông T1, bà L vay của bà tổng số tiền 3.000.000.000đ và có thế chấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số N536368 do Ủy ban nhân dân thị B, tỉnh Lâm Đồng
(cũ) cấp ngày 26/4/1999 mang tên hộ ông bà Nguyễn Minh T1. Quá trình thực hiện
hợp đồng vay thì L chết nên H yêu cầu ông T1 những người thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của bà L có trách nhiệm trả số tiền 3.000.000.000đ nói trên và tiền
lãi theo quy định của pháp luật. Ông T1 thừa nhận vào giấy vay tiền, tuy
nhiên ông không nhận số tiền này từ H nên không đồng ý trả nợ theo yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
[3.2] Tại “Giấy vay mượn tiền” (BL 70) ngày 10/9/2024 thể hiện: “Tôi tên Tạ
Thị Huyền L, Nguyễn Minh T1 mượn của chị H số tiền 600.000.000đ (sáu trăm
triệu đồng), từ ngày 10/9/2024 đến ngày 10/11/2024, thời hạn hai tháng sẽ trả số
tiền trên, nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm, phía dưới chữ và
ghi họ tên Tạ Thị Huyền L, Nguyễn Minh T1 ngày 10/9/2024”.
Tại bản tự khai ngày 06/10/2025 của ông Nguyễn Minh T1 (BL 28) thể hiện
nội dung “Vợ chồng tôi với Nguyễn Thị H quen biết nhau, khoảng hai mươi
năm. Vào ngày 10/9/2024 vợ chồng tôi vay của chị H số tiền 600.000.000đ,
làm giấy vay mượn và vợ chồng tôi cũng đã ký. Số tiền lãi hàng tháng vợ tôi trả tôi
không biết, tiền gốc đã trả được bao nhiêu tôi cũng không biết, hôm vay mượn tôi
tín chấp cho chị H một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với khoản nợ
2.400.000.000đ thì tôi không nhận, tôi không biết vợ tôi mượn vào ngày 03/6/2025,
tôi không có giấy tờ gì để nộp cho Tòa án”.
Như vậy, đối với số tiền 600.000.000đ ngày 06/10/2025 thì ông T1 thừa nhận
có vay của bà H.
Đối với số tiền ngày 07/8/2004 vợ chồng ông T1, L vay của bà H số tiền
2.400.000.000đ, thời hạn vay từ ngày 07/8/2024 đến ngày 07/02/2025 thì thấy
rằng:
Tại “Giấy vay mượn tiền” (BL 69) ngày 07/8/2024 thể hiện: “Tôi tên Tạ Thị
Huyền L, chồng Nguyễn Minh T1...có mượn chị (H) Nguyễn Thị H số tiền
7
2.400.000.00 (hai tỷ bốn trăm triệu chẵn), từ ngày 07/8/2024 tới ngày
07/02/2025. Vợ chồng tôi sẽ hoàn trả số tiền trên, vợ chồng tôi sai trái s
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật, vợ chồng tôi có cầm cho chị H một sổ
nhà để làm tin, quyền sử dụng đất số N336368, hộ ông Nguyễn Minh T1, phía
dưới có chữ ký và ghi họ tên Tạ Thị Huyền L, Nguyễn Minh T1”.
Tại bản tự khai ngày 15/10/2025 của chị Vy Thị Hồng P, người đại diện theo
ủy quyền của ông T1 trình bày (BL 37): “Giấy vay tiền ngày 07/8/2024 ông T1
L vay của H số tiền 2.400.000.000đ...hai bên không thỏa thuận lãi suất,
để đảm bảo cho khoản vay, ông T1 L giao Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số N536368 cho bà H để làm tin. Ông T1 hoàn toàn không biết đến khoản
vay này, ông T1 thừa nhận chtrên giấy vay tiền của ông, tuy nhiên ông
không biết đã giấy vay tiền vào thời điểm nào nội dung giấy vay tiền
cho đến khi được Tòa án cung cấp .......”.
Quá trình giải quyết vụ án ông T1 thừa nhận vào giấy vay tiền nói trên.
Xét thấy ông T1 người đầy đủ năng lực hành vi dân sự, biết đọc, biết viết;
việc ông T1 vào giấy vay tiền thật nên phải chịu trách nhiệm đối với việc
vào giấy vay n này; việc ông T1 cho rằng không nhận số tiền nói trên
không biết L nhận tiền hay không không phù hợp ngoài những lời trình
bày trong quá trình tham gia tố tụng ra thì ông T1 nhưng không xuất trình được tài
liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ.
[3.3] Đối với yêu cầu tính lãi suất thì thấy rằng: các giấy vay tiền ngày
07/8/2024 và ngày 10/9/2024 đều không thể hiện giữa các bên thỏa thuận về lãi
suất. Cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại khoản 2 Điu 468 B lut Dân s năm 2015
để tính lãi buộc bị đơn phải trả tiền lãi 473.100.000đ là căn cứ, đúng quy
định của pháp luật. Như vậy tổng số tiền gốc và lãi mà bị đơn phải trả là
3.473.100.000đ.
[3.4] Đối với việc xác định nghĩa vụ trả nợ: căn cứ quy định tại Điều 614 Bộ
luật Dân sự năm 2015 thì: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế
các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Tại khoản 1 Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Những người
hưởng thừa kế trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do
người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Do L đã chết, không để lại di chúc, giữa các đương sự không bất kỳ
thoả thuận nào nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của L phải
nghĩa vụ trả số tiền L còn nợ khi còn sống trong phạm vi di sản L để
lại. Do cha, mẹ của bà L đã chết nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
L gồm ông Nguyễn Minh T1, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy
H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B, chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 phải trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà H trong phạm vi di sản do L để lại là phù hợp.
8
[3.5] Do khoản nợ nói trên phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng ông
T1, bà L; để phân định rõ ràng trách nhiệm trả nợ, cần chia ½ khoản nợ nói trên để
buộc ông T1 trách nhiệm trả cho H; ½ của khoản ncòn lại thì ông T1, ch
T2, chị Thùy H2, chị Ngọc B, chị Quỳnh T3 nghĩa vụ trả cho bà H trong
phạm vi di sản do bà L để lại.
Như vậy, ông T1 trách nhiệm trả bà H số tiền 1.736.550.000đ. Ông T1, chị
T2, chị Thùy H2, chị Ngọc B chị Quỳnh T3 trách nhiệm trả cho H số
tiền 1.736.550.000đ trong phạm vi di sản do L đlại là căn cứ, đúng quy
định của pháp luật.
[4] Đối với việc buộc trả lại Giấy chứng nhận quyền s dụng đất thì thấy
rằng: việc vợ chồng ông T1, bà L thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
N536368 cho H để đảm bảo cho khoản nợ 3.000.000.000đ xảy ra trong
thực tế, được nguyên đơn thừa nhận. Do việc thế chấp này không tuân theo quy
định của pháp luật về thế chấp tài sản bất động sản; không được quan
thẩm quyền công chứng, không thực hiện việc đăng biến động nên cấp thẩm
buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn bản chính Giấy chứng nhận nói trên phù
hợp. Tuy nhiên Bản án thẩm lại tuyên “Nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi
hành án” là không đúng bởi lẽ hiện nay bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng
vừa nêu đang do nguyên đơn giữ; việc vay tiền giữa các bên không tài sản đảm
bảo; việc xử tài sản của người phải thi hành án thuộc trách nhiệm của quan
thi hành Dân sự thẩm quyền khi Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi
hành án có đơn yêu cầu thi hành án; do vậy cần sửa lại cách tuyên của phần này.
[5] Từ những phân tích trên, cần chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị
phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm Đồng; chấp
nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Minh T1; sửa Bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí:
Lẽ ra, ông Nguyễn Minh T1 phải chịu án phí Dân sự thẩm đối với số tiền
mà ông T1 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị H.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh T1 người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi
và có đơn miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
lệ phí Tòa án; để miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho ông T1.
Các chị Nguyễn Thị Tú T2, Nguyễn Ngọc Thùy H2, Nguyễn Thùy Ngọc B
Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trong phạm vi di sản của
bà L để lại tương ứng với số tiền mà lẽ ra khi còn sống bà L trả cho bà H2.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
9
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470, 614 khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân
sự năm 2015;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ - VKS - DS
ngày 25/5/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm Đồng;
chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Minh T1; sửa Bản án Dân sự
thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 08/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 Lâm
Đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H về tranh chấp:
“Hợp đồng Dân sự vay tài sản, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”
đối với ông Nguyễn Minh T1, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2,
chị Nguyễn Thùy Ngọc B và chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3.
2. Buộc ông Nguyễn Minh T1 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền
1.736.550.00 (một tỷ bảy trăm ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn
đồng), trong đó nợ gốc 1.500.000.000đ (một tỷ năm trăm triệu đồng), nợ lãi
236.550.000đ (hai trăm ba mươi sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Buộc ông Nguyễn Minh T1, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy
H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 trách nhiệm trả
cho Nguyễn Thị H số tiền 1.736.550.000đ (một tỷ bảy trăm ba mươi sáu triệu
năm trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó nợ gốc 1.500.000.000đ (một tỷ năm
trăm triệu đồng), nợ lãi là 236.550.000đ (hai trăm ba ơi sáu triệu năm trăm năm
mươi nghìn đồng) trong phạm vi di sản của bà L để lại.
3. Buộc Nguyễn Thị H trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Minh T1,
chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B
chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
N536368 do Ủy ban nhân dân thị B, tỉnh Lâm Đồng (cũ) cấp ngày 26/4/1999
mang tên hộ ông bà Nguyễn Minh T1.
4. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án pDân sự thẩm cho ông Nguyễn Minh T1. Buộc chị
Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Ngọc Thùy H2, chị Nguyễn Thùy Ngọc B chị
10
Nguyễn Ngọc Quỳnh T3 phải chịu 45.389.240đ án phí Dân sự sơ thẩm trong phạm
vi di sản của bà L để lại.
Nguyễn Thị H không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm; bà H được nhận lại
số tiền 51.400.000đ tạm ứng án pDân sự thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004505 ngày 09/10/2025 của Thi hành án Dân sự
tỉnh Lâm Đồng.
- Án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí Dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn
Minh T1.
5. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ, Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 4 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS KV4 - Lâm Đồng (01);
- Các đương sự (06);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 402/2026/DS-PT Bản án số 402/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 402/2026/DS-PT Bản án số 402/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất