Bản án số 13/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TAND tỉnh Hà Tĩnh về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 13/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TAND tỉnh Hà Tĩnh về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hà Tĩnh
Số hiệu: 13/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/02/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: DSPT
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 13/2025/DS-PT
Ngày: 28-02-2025
Về việc: Tranh chp quyền
sử dụng đt”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Lệ Thu
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Tùng – Ông Trần Khắc Hoàng
Thư phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Đức Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Phạm Thị Hòa - Kiểm
sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 28/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự thụ số: 31/2024/TLPT-DS ngày 05/11/2024 về việc
"Tranh chp quyền sử dụng đt".
Do bản án dân sự thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án
nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s38/2024/QĐXXPT-DS
ngày 10/12/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Đình C, sinh năm: 1974; địa chỉ: thôn L, S,
huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Đình L, sinh năm: 1972; địa chỉ: thôn L, S, huyện H,
tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Mạnh H, sinh năm: 1973; địa chỉ:
Tòa C T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. (0936333700) (có mặt)
- Người có quyn li, ngha v liên quan:
1. Phan Thị K, sinh năm: 1981; địa chỉ: thôn L, S, huyện H, tỉnh
Tĩnh. (có mặt)
2. Cao Thị L1, sinh năm: 1973; địa chỉ: thôn L, S, huyện H, tỉnh Hà
Tĩnh. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm: 1998; địa
chỉ: thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (có mặt)
3. Phạm Thị S, sinh năm: 1981; địa chỉ: thôn L, S, huyện H, tỉnh
Tĩnh. (có mặt)
4. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Tĩnh; người đại diện theo pháp luật:
ông Nguyễn Bình T Chủ tịch UBND. (vắng mặt)
5. Ủy ban nhân dân S, huyện H, tỉnh Tĩnh; người đại diện theo pháp
luật: ông Nguyễn Đình A Chủ tịch UBND; người đại diện theo ủy quyền: ông
Phan Tố H2 Công chức địa chính. (có mặt)
3
6. Văn phòng đăng quyền sử dụng đất chi nhánh H5 - Đ; người đại diện
theo pháp luật: ông Nguyễn H3 Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: ông
Phan Thanh H4 Cán bộ. (vắng mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Đình L người quyền lợi, nghĩa v
liên quan Cao Thị L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại
các phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Đình C có nội dung trình bày:
Ngày 01/12/1995, cha ruột của ông C ông Phạm Q được nhà nước giao
diện tích đất rừng 60 hécta. Đến năm 2004, ông Phạm Q phân chia cho ông C một
phần diện tích đất rừng là 169.939m
2
. Đến ngày 09/11/2012, toàn bộ diện tích đất
169.939m
2
nói trên được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số BL 938972, tại thửa đất số 336, tờ bản đồ số 01, mang tên Phạm
Đình C Phan Thị K, mục đích sử dụng để bảo vệ rừng tự nhiên và trồng rừng
sản xuất. Đến khoảng năm 2023 thì bị gia đình ông Phạm Đình L lấn chiếm diện
tích đất khoảng 1.500m
2
tại diện tích rừng sản xuất, cụ thể: phía Tây giáp đất rừng
ông Phạm Q chiều dài 140m, phía Bắc giáp đất rừng ông Phạm Đình L chiều
dài 150m, phía Nam giáp đất rừng của gia đình ông C đang sử dụng dài 100m,
phía Đông giáp đất rừng của gia đình ông C đang sử dụng dài 150m, giá trị thửa
đất đang tranh chấp khoảng 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, ông C u cầu ông Phạm Đình L phải bồi thường cho tôi 1000
cây keo, trị giá 3.000.000 đồng do ông L thả bò phá cây của tôi.
Tuy nhiên, tại buổi hòa giải ngày 09/7/2024 và ngày 12/7/2024, ông Phạm
Đình C thay đổi nội dung khởi kiện nsau: Yêu cầu ông Phạm Đình L
Cao Thị L1 trả lại cho gia đình ông C diện tích đất 3039,1m
2
(theo kết quả xem
xét, thẩm định tại chỗ) yêu cầu ông L tháo dỡ các công trình trên đất như cột
hàng rào, dây thép gai để trả lại mặt bằng cho gia đình ông công. Đồng thời i
xin rút phần yêu cầu ông Phạm Đình L bồi thường 1000 cây keo, trị giá 3.000.000
đồng. Hiện nay diện tích đất tranh chấp không cho ai thuê, thế chấp, quản lý, canh
tác, đầu tư tài sản trên đất.
Người có quyền li ngha vụ liên quan chị Pham Thị K1 cùng nội dung
trình bày với ông Phạm Đình C.
Bị đơn ông Phạm Đình L đại diện theo ủy quyền cho ông Phạm Đình L
ông Phạm Mạnh H trình: Đất rừng của gia đình ông L được Nhà nước cấp năm
2004 với diện tích 23,7 héc ta. Phía Bắc giáp đất rừng L, được ngăn cách bởi
đường chông rừng; phía Nam cũng giáp đất ông Q ranh giới là khe; phía Đông
giáp đất ông C được ngăn cách bằng con khe gọi là khe Hồ B; phía Tây giáp đất
ông Q được ngăn cách bằng con khe gọi là khe Hố Su. Khi giao đất cho gia đình
ông L có đầy đủ các thành phần gồm: UBND huyện H, UBND S các hộ liền
kề đều vào biên bản giao đất ngoài thực địa. Sau khi được giao đất, gia đình
ông L sử dụng đúng diện tích đất được cấp, không lấn chiếm đất của ông C
việc ông C buộc ông L phải bồi thường1000 cây keo trồng mới trồng một năm
4
tuổi, trị giá 3.000.000 đồng thì ông L không nhất trí. Do đó, ông L đề nghị Toà án
xử bác yêu cầu khởi kiện ca ông C về hai nội dung khởi kiện trên.
Người quyền li ngha vụ liên quan chị Cao Thị L1, người đại diện theo
ủy quyền chị Phạm Thị Thu H1 trình bày: Từ khi giao đất năm 2004 cho đến nay
gia đình bà L1 và ông L không tranh chấp quyền sử dụng đất với hộ gia đình nào
nói chung gia đình ông Phạm Đình C nói riêng. Gia đình trông coi bảo vệ
trồng rừng sản xuất trên thửa đất đúng với thực tế ranh giới, chỉ cận giáp ranh biên
bản giao rừng ngoài thực địa năm 2010, ranh giới theo khe.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa hôm nay, người quyền li
ngha vụ liên quan chị Phạm Thị S trình bày: Diện tích đất ông C và ông L
đang tranh chấp trước đây là do S canh tác, bà S đã trồng keo trên diện tích đất
đó được khoảng ba mùa, thời gian khoảng 15 năm. Từ khi bà S trồng cho đến lứa
cuối cùng (năm 2023), S thu hoạch không ai ý kiến gì, ông L chưa từng canh
tác trên đất đó. Theo S, nguyên nhân xảy ra việc tranh chấp do bố mẹ của
S ông Q C1 lấy lại đất rừng từ gia đình ông L nên ông L cố tình không
cho S canh tác, đồng thời tiến hành xây dựng chuồng bò, làm cổng, rào dây
thép gai quanh khu đất không cho ai đi lại, dẫn đến tranh chấp giữa ông C và ông
L.
Người có quyền li ngha vụ liên quan UBND xã S, người đại diện theo ủy
quyền ông Phan Tố H2; chức danh: Công chức địa chính UBND S, tỉnh
Tnh trình bày: Nguồn gốc đất của ba gia đình hiện tại: Một phần của ông Phạm
Q, một phần của ông Phạm Đình C một phần của ông Phạm Đình L, do
UBND huyện H giao cho ông Phạm Q Lê Thị C1 năm 1995, năm 2004 đo
đạc bản đồ địa chính chia làm 03 thửa. Chia cho ông Phạm Q, ông Phạm Đình L
ông Phạm Đình C đến năm 2010 xây dựng hồ cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính lập 2004. Từ năm 2004 đến năm 2021
các hsử dụng chung, từ năm 2021 trở lại đây sử dụng theo giấy chứng nhận được
giao, quá trình đó nhiều mâu thuẩn tranh chấp, phần diện tích hiện nay đang
tranh chấp giữa hai hộ, trước đây chị Phạm Thị S sử dụng, năm 2023 đã cắt
keo, trả lại đất cho ông Q, sau khi cắt keo xong ông C trồng keo lên phần đất đó
thì xảy ra tranh chấp với ông L, xã đã hòa giải nhưng không thành. Về lý do thửa
đất gia đình ông C gia đình ông L đang tranh chấp lại nằm bên kia khe
xuất phát từ việc thửa đất của gia đình ông C, thửa đất của gia đình ông L và thửa
đất của gia đình ông Q hiện đang sử dụng trước đây là một thửa tách ra, khi tách
thành ba thửa cho ba hộ không thể theo lịch sử là theo khe hoặc theo dông được,
khi bàn giao đất thực địa diện tích đất gia đình anh C đang tranh chấp tuy là
bên kia khe nước nhưng theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2004 và biên bản giao
đất thực địa cho anh C thì diện tích đang tranh chấp giữa anh Phạm Đình C anh
Phạm Đình L đó chính đất của anh Phạm Đình C nên đề nghị Toà án n cứ
vào hồ giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cho các hộ để xử
lý.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 10/9/2024, Tòa án nhân
dân huyện Hương Sơn, tỉnh Tĩnh căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a c khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, khoản 1
5
Điều 158, Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 184, Điều 185, điểm c khoản 1 Điều
217, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235 Điều 273 Bộ luật
tố tụng dân sự; Điều 155, khoản 2 Điều 165, Điều 166, Điều 174, Điều 175
Điều 176 Bộ luật n sự; Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 169 Điều
170 Luật Đất đaiĐiểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 6 Điều 19, điểm
a khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày
30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đình
C về việc buộc ông Phạm Đình L phải trả lại diện tích đất 3039,1m
2
, được xác
định từ điểm vị trí toạ độ: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14 buộc ông Phạm
Đình L phải tháo dỡ các công trình trên đất gồm 18 cột tông cốt thép vuông
15x15 cm 03 dây thép gai làm hàng rào chiều dài 113,55m. Theo sơ đồ thẩm
định thửa đất ngày 10/6/2024 để trả lại mặt bằng cho gia đình ông Phạm Đình C.
(có sơ đồ kèm theo).
2. Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đình C về việc yêu cầu
ông Phạm Đình L phải bồi thường cho ông Phạm Đình C 1000 cây keo, trị giá
3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/9/2024, bị đơn ông Phạm Đình L người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Cao Thị L1 kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án dân sự thẩm s
06/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện, bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Các đương sự không thống nhất được toàn bộ nội dung tranh chấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tĩnh sau khi nhận xét việc chp
hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự; phân tích nội dung
vụ án đã đề nghị Hội đồng xét x: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân
sự 2015, Giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhn định:
[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Đình C với bị
đơn ông Phạm Đình L về việc "Tranh chp quyền sử dụng đt” thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà tĩnh là đúng quy định
tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng Dân sự. Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đã được
Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
6
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Phạm Đình L vắng mặt tuy nhiên
người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa; người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan UBND huyện H Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chi nhánh
H5 - Đ mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không
do nên Hội đồng xét xquyết định tiến hành xét xvắng mặt theo thủ tục
chung.
[2] Về nội dung: Bị đơn ông Phạm Đình L người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử
cấp phúc thẩm xem xét, đánh giá toàn diện các vấn đề liên quan đến việc giải
quyết tranh chấp của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh giữa ông
Phạm Đình C với ông Phạm Đình L.
[2.1] Về thời hiệu khởi kiện: Căn c Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015; Điều
184, 185 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, nội dung khởi kiện của nguyên đơn kiện
đòi i sản quyền sử dụng đất nên thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu
khởi kiện.
[2.2] Về nội dung tranh chp:
- Về nguồn gốc sử dụng đt của gia đình ông Phạm Đình C ông Phạm
Đình L: Nguồn gốc thửa đất của gia đình ông Phạm Đình C và ông Phạm Đình L
trước đây thửa đất do ông Phạm Q được nnước giao ngày 01/12/1995 tai
Quyết định số 74/SL. QĐ/UB với diện tích 60,0 ha. Sau đó ông Q thống nhất chia
ba phần cho ông C một phần, ông L một phần, phần còn lại của ông Q C1
sử dụng, cả ba thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cụ thể:
Thửa đất số 336, tờ bản đồ số 1, diện tích 169.939m
2
, Giấy CNQSD đất số
BL938972 cấp ngày 09/11/2012, mang tên ông Phạm Đình CPhan Thị K,
địa chỉ thửa đất tại: Xứ H, xóm L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Thửa đất số 286, tờ bản đồ số 1, diện tích 235.286m
2
, Giấy CNQSD đất số
BL938973 cấp ngày 09/11/2012, mang tên ông Phạm Đình L Cao Thị L1
địa chỉ thửa đất tại: Xứ H, xóm L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Về hiện trạng sử dụng đt của gia đình ông Phạm Đình C, ông Phạm Đình
L và hiện trạng diện tích đt tranh chp:
Đối chiếu hiện trạng sử dụng đất, kết quả của đồ thẩm định ngày
10/6/2024 với GCNQSDĐ BL 938972 do UBND huyện H cấp ngày 01/11/2012
mang tên ông Phạm Đình C đồng sử dụng Phan Thị K; diện tích đất gia
đình ông C đang sử dụng ít hơn so với GCNQSDĐ phần diện tích là 17.739m
2
.
Đối chiếu hiện trạng sử dụng đất, kết quả của đồ thẩm định ngày
10/6/2024 với GCNQSDĐ BL938973 do UBND huyện H cấp ngày 09/4/ 2012
thửa đất mang tên ông Phạm Đình L, Cao Thị L1; diện tích đất gia đình
ông L đang sử dụng nhiều hơn so với GCNQSDĐ phần diện tích là 12.084,2m
2
.
Diện tích phần đất đang tranh chấp nằm giáp ranh giữa hai thửa đất của gia
đình ông Công L, vị trí cụ thể như sau: Được xác định t điểm vị trí toạ độ:
1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14, tổng diện tích 3039,1m
2
; Trên diện tích đất
này, ông Phạm Đình L đã chôn 18 cột pê tông cốt thép vuông 15x15 cm và giăng
7
03 giấy thép gai làm hàng rào ranh giới từ điểm vị trí toạ độ 2 đến 12 có chiều dài
113,55m (Theo sơ đồ thẩm định thửa đất ngày 10/6/2024)
Hai thửa đất của gia đình ông C, ông L khi giao có biên bản giao đất thực
địa, đơn đề nghi được giao đất, giao rừng, biên bản kiểm tra xác định nguồn gốc
sử dụng đất, biểu thống đặc điểm rừng được giao, quyết định về việc giao
đất, giao rừng, đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất. Tứ cận giáp ranh các thửa đất đều được chủ sử dụng đất
liền kề sử dụng ổn định từ khi cấp GCNQSDĐ, không sự lấn chiếm hay thay
đổi hiện trạng; quá trình đo đạc chỉnh theo bản đồ địa chính năm 2004, đo chỉnh
theo trích lục đo chỉnh khu đất bản đồ địa chính số thì các chủ sử dụng
đất giáp ranh đều thừa nhận đồng ý hiện trạng. Căn cứ vào các tài liệu có trong
hồ sơ vụ án, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định được diện tích đất đang
tranh chấp nằm ngoài diện tích đất mà gia đình ông L được cấp.
Theo ý kiến của Văn phòng đăng quyền sử dụng đất chi nhánh H5 - Đ,
thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông C, ông L được thực hiện theo đúng
quy định của pháp luật.
Căn cứo quá trình kiểm soát việc sử dụng đất đai trên địa bàn theo quy
định của pháp luật cũng như hồ sơ lưu trữ của địa phương, UBND xã S, huyện H,
tỉnh Hà Tĩnh khẳng định phần đất tranh chấp thuộc phần diện tích đất rừng được
cấp cho gia đình ông Phạm Đình C (phù hợp với lời khai của bà Phạm Thị S
người có thời gian canh tác gần 15 năm trên phần đất tranh chấp).
Từ những phân tích nêu trên cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội
đồng xét xphúc thẩm xét thấy đ căn cứ để xác định phần đất tranh chấp
thuộc phần diện tích đất gia đình ông Phạm Đình C được cấp, căn cứ đ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Đình C.
[2.3] Về nội dung kháng cáo:
Ông Phạm Đình L Cao Thị L1 kháng cáo toàn bộ bản án thẩm
những căn cứ như sau:
- Bản án thẩm đã bỏ qua, không đưa vào bản án toàn bộ căn cphân
tích của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn.
- Bản án sơ thẩm suy diễn, diễn giải biên bản giao rừng ngoài thực địa theo
cách có lợi cho nguyên đơn.
- Bản án không tiến hành mời đơn vị chuyên môn, chức năng đo đc
để xác định diện tích tranh chấp; không kiểm tra thực địa; tự ấn định diện tích
tranh chấp.
- Bản án sử dụng Biên bản hòa giải không thành có dấu hiệu vi phạm để m
căn cứ giải quyết vụ án.
- Bản án sử dụng lời trình bày mang tính hư cấu của bà Phạm Thị S.
Qua nghiên cứu những nội dung kháng cáo của ông Phạm Đình L Cao
Thị L1, Hội đồng xét xử xét thấy:
8
- Nội dung Bản án thẩm đã nêu phần trình bày, phần tranh luận nhận
định, xem xét đầy đủ nội dung tranh luận của người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn, theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Mạnh
H.
- Hội đồng xét xử thẩm đã thu thập, xem xét, căn cứ đầy đủ đánh giá
khách quan các tài liệu trong hồ sơ vụ án như: biên bản giao rừng ngoài thực
địa; biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ; các biên bản, đơn, tài liệu trong quá trình
xin cấp GCNQSDĐ;… Ngoài nhận định tại đơn kháng cáo thì phía bị đơn không
cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc Hội đồng xét xử
thẩm đã suy diễn biên bản giao rừng ngoài thực địa theo cách lợi cho nguyên
đơn.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thành lập hội
đồng định giá; mời cơ quan có chức năng đo đạc là Văn phòng Đ chi nhánh H5 -
Đ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại buổi xem xét, thẩm định
tại chỗ, Tòa án cấp thẩm đã tiến hành xem xét, kiểm tra thực địa; quan đo
đạc đã tiến hành đo đạc và tính toán phần diện tích đất tranh chấp theo đúng quy
định. Do đó, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản trong quá trình
giải quyết sơ thẩm là có căn cứ.
- Đối với biên bản hòa giải không thành không có chữ ký của ông L, bà L1;
có chký của các thành phần tham gia và có xác nhận của UBND xã S; Hội đồng
xét xxét thấy đây là biên bản họp thể hiện nội dung họp tại UBND xã S,
nhiều thành phần, biên bản xác nhận của UBND S. Đại diện UBND S
khẳng định: biên bản được lập đúng quy định, do gia đình ông L tự ý bỏ về, không
vào biên bản, sau đó các thành phần tham gia phiên họp đều chứng kiến
đóng dấu của Ủy ban S là hoàn toàn đảm bảo theo quy định. Do đó, lời trình
bày của ông L, bà L1 về biên bản họp này là không có căn cứ.
- Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy ý kiến của Phạm Thị Shoàn toàn
khách quan, phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, phợp với lời khai của nguyên
đơn người quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND S, huyện H, tỉnh Tĩnh
trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa. Tại phiên tòa thẩm, bị đơn ông
L không thừa nhận việc bà S canh tác cho rằng gia đình bị đơn canh tác, tuy
nhiên phía bị đơn không đưa ra được các căn cứ để chứng minh cho ý kiến của
mình.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy nội dung
kháng cáo của ông Phạm Đình L Cao Thị L1 không căn cứ để chấp
nhận.
[2.3] Vgiá trị tài sản: Theo Biên bản định giá tài sản của Hi đồng định giá
ngày 10/6/2024, tài sản giá trị tài sản tranh chấp gồm Quyền sử dụng đất
tranh chấp trị giá 19.145.700 đồng, vật kiến trúc trị g6.358.800 đồng: Tổng
cộng là 25.504.500 đồng.
[3]. Về chi phí tố tụng: Chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ
3.378.226 đồng, chi phí cho việc định giá 4.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền
9
chi phí tố tụng là 7.378.226 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ và tự nguyện chịu nên
được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4]. Về án phí:
- Về án phí dân sự thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp
nhận nên bđơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch. Hoàn trả lại
cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không được chấp nhận nên bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: Không chấp nhận
nội dung kháng cáo của bị đơn ông Phạm Đình L và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Cao Thị L1. Giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST
ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều
39; Điều 144; Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 158; Điều 165; khoản 1 Điều
166; Điều 184; Điều 185; điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 2 Điều 227; khoản 1,
khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 273; Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Điều 155; khoản 2 Điều 165; Điều 166; Điều 174; Điều 175 và Điều 176 Bộ luật
Dân sự 2015; Điều 166; Điều 167; Điều 168; Điều 169 Điều 170 Luật Đất
đaiĐiểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 6 Điều 19, điểm a khoản 1
Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. . Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đình
C về việc buộc ông Phạm Đình L phải trả lại diện tích đất 3039,1m
2
, được xác
định từ điểm vị trí toạ độ: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14 buộc ông Phạm
Đình L phải tháo dỡ các công trình trên đất gồm 18 cột tông cốt thép vuông
15x15 cm 03 dây thép gai làm hàng rào chiều dài 113,55m. Theo đồ thẩm
định thửa đất ngày 10/6/2024 để trả lại mặt bằng cho gia đình ông Phạm Đình C.
2. Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đình C về việc yêu cầu
ông Phạm Đình L phải bồi thường cho ông Phạm Đình C 1000 cây keo, trị giá
3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
3. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Phạm Đình
C về việc tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá
tài sản.
4. Về án phí:
- Về án pdân sthẩm: Buộc bị đơn ông Phạm Đình L phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Trả lại cho ông Phạm Đình C số
10
tiền 325.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số
0006521 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn, tỉnh
Hà Tĩnh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bị đơn ông Phạm Đình L phải chịu số
tiền 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002932 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành
án Dân sự huyện Hương Sơn).
Buộc người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị L1 phải chịu số tiền
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm (được trừ vào số tiền tạm ng án phí đã
nộp theo biên lai thu tiền số 0002933 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện Hương Sơn)
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều
9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- Tòa án, THADS cấp sơ thẩm;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẢM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Thị Lệ Thu
11
Tải về
Bản án số 13/2025/DS-PT Bản án số 13/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2025/DS-PT Bản án số 13/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất