Bản án số 58/2026/HC-PT ngày 27/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 58/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 58/2026/HC-PT ngày 27/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 58/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Khiếu kiện hành chính
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 58/2026/HC-PT Bản án số 58/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 58/2026/HC-PT Bản án số 58/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 58/2026/HC-PT
Ngày: 27-8-2026
V/v “Khiếu kiện quyết định xử phạt
vi phạm hành chính, quyết định giải
quyết khiếu nại, quyết định cưỡng chế
trong lĩnh vực giao thông đường bộ”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thu Lan
Các Thẩm phán:
1. Ông Tôn Văn Trung
2. Bà Lê Hải Vân
- Thư phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hưởng Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ C Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Phùng Thị Lan Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm ng khai vụ án nh chính thụ số 33/2026/HC-PT
ngày 21/7/2026 về việc "Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết
định giải quyết khiếu nại, quyết định cưỡng chế trong lĩnh vực giao thông đường
bộ”.
Do Bản án hành chính thẩm số 09/2026/HC-ST ngày 03/6/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5186/2026/HC-PT ngày 10 tháng
8 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố H Chí Minh giữa:
Người khởi kiện: Bà Lê Thị L, sinh năm 1958 (chết ngày 21/6/2026)
Địa chỉ: 1 đường T, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Lương Mỹ L1
Địa chỉ: 1 đường T, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn T
2
Địa chỉ: 6 đường C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 1262 Kha Vạn Cân, Khu phố 50, phường Linh Xuân, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đoàn Thế H
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Xuân H1
và bà Nghiêm Thị X.
Địa chỉ: A K, K, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại a, người khi kiện bà Lê Thị L đại
diện ủy quyền bà Lương Mỹ L1 trình bày:
Nhà L nằm cuối hẻm, thường xuyên bị ngập nước nghiêm trọng nên
tháng 8/2024, L nâng nn cán hồ xi măng độ dốc 45
0
để tránh ngập
nước và tiện dẫn xe vào nhà. Việc nâng nn không làm thay đổi cấu trúc căn nhà
nên không phải xin phép nhưng cán bộ địa chính lập biên bản cho rằng L
hành vi xây dựng làm ảnh hưởng đến giao thông đường bộ ban hành Quyết định
xử phạt số 06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025 xử phạt L số tiền 2.500.000 đồng
buộc phá bphần độ dốc 45
0
. Bà L có khiếu nại thì ngày 14/02/2025 Chủ tịchy
ban nhân dân (UBND) phường L ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số
64/QĐ-UBND giữ nguyên nội dung xử phạt. Ngày 05/6/2025 Chủ tịch UBND
Thành phố T ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 7785/QĐ-UBND
giữ nguyên quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC. Ngày
24/6/2025, Chủ tịch UBND phường L ban hành Quyết định cưỡng chế số 278/QĐ-
CCXP.
L không đồng ý với các quyết đnh trên, yêu cầu hủy Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025, Quyết định giải quyết
khiếu nại số 64/QĐ-UBND ngày 14/02/2025, Quyết định cưỡng chế số 278/QĐ-
CCXP ngày 24/6/2025 của Chủ tịch UBND phường L nay phường L, Thành
phố Hồ Chí Minh, Quyết định giải quyết khiếu nại số 7785/QĐ-UBND ngày
05/6/2025 của Chủ tịch UBND Thành phố T, với do: nhà bà L cuối hẻm,
không đường giao tng, không làm ảnh hưởng đến giao thông của dân xung
quanh, việc bà nâng nền và cán hồ xi măng nhằm mục đích chống nước tràn vào
nhà. Ngoài ra, việc Chủ tịch UBND phường căn cứ vào Nghị định số
3
100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phđể xử pht không đúng
hiện nay Nghị định 100 không còn hiệu lực, đã được các văn bản khác thay thế.
Người bị kiện văn bn trình bày: Nhà số G đường T, phường L, thành
phố T nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Lê Thị L đứng tên chủ sử
dụng theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất số
6625/2007/GCN do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 18/12/2007. Vào tháng
8/2024 bà Th L xây dựng bục bệ và cầu lên xuống phía trước nhà thuộc lòng
đường đô thị, ngoài ranh giấy chứng nhận được cấp.
Ngày 18/7/2024, UBND phường L nhận được Đơn kiến nghcủa công dân
phản ánh hộ L xây dựng hành lang lấn chiếm đường đi công cộng. Ngày
02/8/2024, UBND phường L kiểm tra hiện trạng và lập biên bản ghi nhận sự việc
và đề nghị Lê Thị L tháo dỡ phần tường gạch và lam dốc xây dựng trên hẻm.
Đến ngày 13/8/2024, bà L đã chấp hành tháo dỡ phần tường gạch và lam dốc nêu
trên. Tuy nhiên sau đó, Liên tiếp T1 tái xây dựng. Ngày 14/8/2024 ngày
26/8/2024, UBND phường L tiếp tục nhận được đơn của công dân yêu cầu xử lý
việc xây dựng lấn hẻm (bao gồm cả bàn thiên).
Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày
30/12/2019 của Chính phủ có quy định:
Điều 12. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác
trong phạm vi đất dành cho đường bộ
…5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với nhân, từ
4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành
vi vi phạm sau đây:
…b) Sử dụng trái phép lòng đường đô thị, hè phố để: Họp chợ; kinh doanh
dịch vụ ăn uống; bày, bán hàng hóa; sửa chữa phương tiện, máy móc, thiết bị;
rửa xe; đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo; xây, đặt bục bệ; làm mái che hoặc
thực hiện các hoạt động khác gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy
định tại điểm d, điểm đ, điểm e, điểm g khoản 6; khoản 7; điểm a khoản 8 Điều
này”
Ngày 03/01/2025, UBND phường L lập Biên bản vi phạm hành chính số
13/BB-VPHC đối với bà Lê Thị L do đã có hành vi sử dụng trái phép lòng đường
đô thị, phố để xây đt bục bệ (cụ thể: xây bục bệ cầu lên xuống trên lòng
đường có din tích (2,1m x 5,1m)+(1,1m x 4,1m) = 15,22m
2
) là vi phạm quy định
tại điểm b khoản 5 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của
Chính phủ.
4
Ngày 09/01/2025, Chủ tịch UBND phường L (nay phường L) ban hành
Quyết định số 06/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ đối với bà Lê Thị L với nội dung xử phạt bà L số tiền 2.500.000
đồng, buộc tháo dbục bệ và cầu lên xuống trên lòng đường.
Không đồng ý với Quyết định số 06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025, bà L đã
nộp đơn khiếu nại đến Chủ tch UBND phường L đđược giải quyết. Ngày 14
tháng 2 năm 2025, Chủ tịch UBND phường L ban hành Quyết định số 64/QĐ-
UBND về việc giải quyết khiếu nại của Thị L với nội dung “Giữ nguyên
Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 09 tháng 01 năm 2025 xử phạt đối với
Thị L về hành vi vi phạm hành chính sử dụng trái phép lòng đường đô thị, hè phố
để xây đặt bục bệ”
Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại số 64/QĐ-UBND ngày
14/02/2025, bà L đã nộp đơn khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND Thành phố T
để được giải quyết. Ngày 05 tháng 6 năm 2025, Chủ tịch UBND Thành phố T ban
hành Quyết định số 7785/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của Lê Thị
L với nội dung “Công nhận và giữ nguyên Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 14
tháng 02 năm 2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L về giải quyết khiếu
nại đúng; Yêu cầu Thị L, quan, tổ chức, nn liên quan thực
hiện Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Chủ tịch y
ban nhân dân phường L về giải quyết khiếu nại”
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, Chủ tịch UBND phường L ban hành Quyết
định số 278/QĐ-UBND về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục
hậu quả buộc bà Lê Thị L phá dỡ bục bệ xây dựng vi phạm và khôi phục lại tình
trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.
Chủ tịch UBND phường L đã căn cứ Luật T chức chính quyền địa pơng
ngày 19 tháng 02 năm 2025; Luật Khiếu nại ngày 11 tháng 11 năm 2011; Nghị
định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại; Điu 57, Điều 68, Điều
70, Điều 78, Điều 85 Luật Xử vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy
định chi tiết mt s điu và bin pháp thi hành Lut X lý vi phm hành chính;
Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đường
sắt; Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2021 ca Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân
5
dụng; Nghị định số 168/2024/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ
quy định xphạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực
giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe; Nghị định số
68/2025/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 118/2021/-CP ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chính
phủ quy định chi tiết mt s điu và bin pháp thi hành Lut X lý vi phm hành
chính, để ban hành các Quyết định số 06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025, Quyết định
số 64/QĐ-UBND ngày 14/02/2025 Quyết định số 278/QĐ-CCXP ngày
24/6/2025 Chủ tịch Ủy ban nhân n Thành phố T ban nh Quyết định số
7785/QĐ-UBND ngày 05/6/2025 về giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị L đúng
quy định pháp luật.
Tại Bản án hành chính thẩm số 09/2026/HC-ST ngày 03/6/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 2 đã quyết định:
- Bác yêu cầu khởi kiện của Thị L về yêu cầu hủy Quyết định xphạt
vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025, Quyết định giải quyết
khiếu nại số 64/QĐ-UBND ngày 14/02/2025, Quyết định cưỡng chế số 278/QĐ-
CCXP ngày 24/6/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L nay phường L,
Thành phố Hồ C Minh.
- Bác yêu cầu khởi kiện của Thị L vyêu cầu hủy Quyết định giải
quyết khiếu nại số 7785/QĐ-UBND ngày 05/6/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân Thành phố T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 16/6/2026, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện nộp
đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của
Thị L là bà Lương Mỹ L1 người đi diện theo y quyền là ông Nguyễn Tấn
T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bn án hành chính
sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các
quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã chấp hành quy định pháp
luật;
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Bản án hành chính thẩm
6
số 09/2026/HC-ST ngày 03/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố
Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng ctrong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe
đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của Thị L do người đại diện theo
ủy quyền là bà Lương Mỹ L1 còn trong thời hn luật định nên được chấp nhận
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về người tham gia tố tụng và sự có mặt của các đương sự:
Lê Thị L chết ngày 21/6/2026 nên Tòa án triệu tập bà Lương Mỹ L1
con bà L (theo bản sao Giấy khai sinh số 2996/2026/GKS-BS ngày 23/7/2026 do
Ủy ban nhân dân phường S cấp) tham gia tố tụng với cách người kế thừa quyền
và nghĩa vụ t tụng ca người khởi kiện.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện có đơn xin vắng mặt nên
Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện theo quy định tại khoản 4 Điều
225 Luật Tố tụng hành chính.
[3] Về nội dung: Trong Đơn kháng cáo người khởi kiện yêu cầu xem xét
lại toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa, người đi diện theo y quyền của người
kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của L yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của bà L với lý do Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L ban hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính đối với bà L nhưng không có biên bản vi phạm hành
chính do cảnh sát giao thông lập.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa,
có cơ sở xác định:
Ngày 03/01/2025, tại địa chỉ 14/36/9 Tâm T, khu phố A, phường L, Thành
phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân phường L đã lập Biên bn vi
phạm hành chính số 13/BB-VPHC Về lĩnh vực giao thông đường bộ đối với
Thị L do đã hành vi vi phạm hành chính sử dụng trái phép lòng đường
đô thị, hè phố đxây đặt bc bệ gây cản trở giao thông, cụ thể: xây bục bệ và cầu
lên xuống trên lòng đường, diện tích vi phạm (2,1m x 5,1m) + (1,1m x 4,1m) =
7
15,22m
2
; địa điểm vi phạm: trước nhà số A Tâm T, khu phố A, phường L, Thành
phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; thời điểm vi phạm: tháng 8/2024; hành vi này
quy định tại điểm b khoản 5 Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày
30/12/2019 ca Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ và đường sắt. Bà L có mặt và đã ký vào biên bản.
Ngày 09/01/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L ban hành Quyết
định Xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC đối với bà Lê Thị L đã thực
hiện hành vi vi phạm hành chính: Sử dụng trái phép lòng đường đô thị, hè phố để
xây đặt bục bệ; cụ thể: xây bục bệ và cầu lên xuống trên lòng đường, diện tích vi
phạm (2,1m x 5,1m) + (1,1m x 4,1m) = 15,22m
2
; địa điểm vi phạm: trước nhà số
A Tâm T, khu phố A, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; thời
điểm vi phạm: tháng 8/2024; hành vi này quy định tại điểm b khoản 5 Điều 12
Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ. Hình thức xử phạt
chính: phạt tiền 2.500.000 đồng. Biện pháp khắc phục hu quả: Buộc bà L thực
hiện ngay biện pháp đảm bảo an toàn giao tng và khôi phục lại tình trạng ban
đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra. Cụ thể: Tháo dỡ bục bệ và cầu
lên xuống trên lòng đường, diện tích (2,1m x 5,1m) + (1,1m x 4,1m) = 15,22m
2
;
căn cứ điểm d khoản 10 Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019
của Chính phủ. Thời hạn thực hin biện pháp khắc phục hậu quả là 10 ngày, ktừ
ngày nhận được Quyết định này.
Ngày 11/01/2025, L nộp đơn khiếu nại, đề nghị Ủy ban nhân dân phường
L rút Quyết định s 06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025 đối với L. do: L
không xây dựng chỉ làm bục bệ đdẫn xe vào nhà, L xây dựng hàng
gạch để chặn nước khu vực này mùa mưa hay ngập; sau khi phường xuống
kiểm tra, L đã khắc phục đập tường gạch; nhà cuối đường, không ảnh
hưởng người qua lại; xử phạt số tiền 2.500.000 đồng là kng hp lý.
Ngày 14/02/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L ban hành Quyết
định số 64/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị L, địa chỉ số A
đường T, khu phố A, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (lần đầu)
với nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025 xử phạt
đối với L về hành vi hành chính sử dụng trái phép lòng đường đô thị, hè phố
để xây đặt bục bệ.
Ngày 28/02/2025, L nộp đơn khiếu nại Quyết định số 64/QĐ-UBND
ngày 14/02/2025 ca Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L với do gia đình
không gây ảnh hưởng đến giao thông đường bộ, đường sắt, việc xử phạt sai quy
định.
8
Ngày 05/6/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố T ban hành Quyết
định s7785/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của Thị L (lần hai)
với nội dung: Công nhận giữ nguyên Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày
14/02/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L về việc giải quyết khiếu nại
(lần đầu) là đúng.
Ngày 24/6/2025, Chtịch Ủy ban nhân dân phường L ban hành Quyết định
Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khc phục hậu quả số 278/QĐ-CCXP.
Xét thấy, bà Lê Thị L đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính là sử dụng
trái phép lòng đường đô thị, hè phố để xây, đặt bục bệ gây cản trở giao thông; cụ
thể: xây bục bệ cầu lên xuống trên lòng đường, diện tích vi phạm (2,1m x 5,1m)
+ (1,1m x 4,1m) = 15,22m
2
; địa điểm vi phạm: trước nhà sA Tâm T, khu phố A,
phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; thời điểm vi phạm: tháng
8/2024; hành vi vi phạm này được quy định tại điểm b khoản 5 Điều 12 (“Điều
12. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất
dành cho đường bộ”) Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính
phủ.
Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính: khoản 3 Điều 52 Luật Xử lý
vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã quy định: “Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực
quản nhà nước địa phương. Người thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
quy định tại các điều từ 39 đến 51 của Luật này thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính thuộc lĩnh vực, ngành minh quản lý. Trong trường hợp vi phạm hành
chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì việc xử phạt vi phạm hành
chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện”. Khoản 1 Điều 74 Nghị định
100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt đã quy định “Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các cấp thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy
định tại Nghị định này trong phạm vi quản lý của địa pơng mình”.
Về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính: khoản 1 Điều 58 Luật Xử
vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã quy định: “Khi phát hiện
hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản của mình, người thẩm quyền
đang thi hành công vụ phải kịp thời lp biên bản vi phạm hành chính, trừ trường
hợp xử phạt không lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này”. Điều
12 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phQuy định chi tiết
một số điều biện pháp thi hành Luật Xử vi phạm hành chính khoản 1 Điều
79 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ Quy định xử phạt
9
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đường sắt cũng quy
định cụ thể về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ.
Như vậy, việc Ủy ban nhân dân phường L lập Biên bản vi phạm hành chính
số 13/BB-VPHC ngày 03/01/2025 Về lĩnh vực giao thông đường bộ đối với
Thị L do đã hành vi vi phạm hành chính sdụng trái phép lòng đường đô
thị, hè phố để xây đặt bục bệ gây cản trở giao thông quy định tại điểm b khoản 5
Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ là đúng với
thẩm quyền đã được pháp luật quy định.
Về thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Điểm b
khoản 5 Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ
quy định mức phạt tiền đối với hành vi của L từ 2.000.000 đồng đến
4.000.000 đồng. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Xử vi phạm
hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020), thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt
vi phạm hành chính đối với bà L là của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L.
Về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Ngày 03/01/2025,
Ủy ban nhân dân phường L lập Biên bản vi phạm hành chính số 13/BB-VPHC;
ngày 09/01/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L ban hành Quyết định Xử
phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC. Như vậy, quyết định xphạt vi phạm
hành chính đã được ban hành đúng thời hạn quy định tại Điều 66 Luật Xử vi
phạm hành chính (sửa đổi, b sung năm 2020).
Về nội dung, hiệu lực của Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L: Quyết
định này đã được ban hành đúng quy định tại Điều 67, 68 Luật Xử vi phạm
hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Xét thấy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L đã ban hành Quyết định Xử
phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 09/01/2025 đối với bà Lê Thị L
đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục căn cứ pháp luật nên Quyết định số
64/QĐ-UBND ngày 14/02/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L việc
giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị L (lần đầu) và Quyết định số 7785/QĐ-UBND
ngày 05/6/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố T về việc giải quyết
khiếu nại (lần hai) không chấp nhận khiếu nại của L là có căn cứ pháp lut.
Do L không tnguyện chấp hành Quyết định số 06/QĐ-XPHC ngày
09/01/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L nên Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường L đã ban hành Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc
phục hậu quả số 278/QĐ-CCXP ngày 24/6/2025. Quyết định này được ban hành
10
đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục căn cứ pháp luật quy định tại Điều 86
Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 33
Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ Quy định về cưỡng
chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật
nên Tòa án cấp phúc thẩm không căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà L về việc
yêu cầu sửa bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí hành chính sơ thẩm: Bà Lê Thị L được miễn án phí theo quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do Thị L được miễn án phí theo
quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên người kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng là ơng Mỹ L1 được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điu 242 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Luật Khiếu nại ngày 11 tháng 11 năm 2011;
Căn cứ khoản 1 Điều 38, khoản 3 Điều 52, khoản 1 Điều 58, Điều 66, Điều
67, Điều 68, Điều 86 Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bsung
năm 2020);
Căn cứ Điều 12 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính
phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành
chính;
Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 12, khoản 1 Điều 74 và khoản 1 Điều 79 Nghị
định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt;
Căn cứ Điều 33 Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính
phủ Quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý s
dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện làLê Thị L.
11
Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 09/2026/HC-ST
ngày 03/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh:
Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Lê Thị L yêu cầu hủy:
- Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày
09/01/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, Thành phố T, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 14/02/2025 của Chủ tịch Ủy ban nn
dân phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh Về việc giải quyết khiếu
nại của bà Thị L, địa chỉ số A đường T, khu phố A, phường L, Thành phố T,
Thành phố Hồ C Minh (lần đầu).
- Quyết định số 7785/QĐ-UBND ngày 05/6/2025 của Chtịch Ủy ban nhân
dân Thành phố T Về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị L (lần hai).
- Quyết định ỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số
278/QĐ-CCXP ngày 24/6/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, Thành
phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí:
- Án phí hành chính sơ thẩm: Lê Thị L được miễn án phí.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Lương Mỹ L1 được miễn án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- TAND khu vực 2;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lâm Thị Thu Lan
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 58/2026/HC-PT Bản án số 58/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 58/2026/HC-PT Bản án số 58/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất