Bản án số 111/2026/HS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 111/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 111/2026/HS-PT ngày 09/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 111/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Cố ý gây thương tích cho người khác
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 111/2026/HS-PT Bản án số 111/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 111/2026/HS-PT Bản án số 111/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 111/2026/HS-PT
Ngày 09 - 9 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Diễn và ông Nguyễn Hành
Thư phiên a: Ông Quang Đô - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét
xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 136/2026/TLPT-HS ngày 30
tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo i Đức C, do có kháng cáo của bị hại chị Bùi Thị
Cẩm T đối với bản án hình sự thẩm số: 79/2026/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Bùi Đức C, sinh ngày 03/5/1982 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi trú: Tổ dân phố
L, phường T, tỉnh Quảng Ngãi; căn cước ng dân số: ************, do Cục
Cảnh sát quản hành chính vtrật tự hội cấp ngày 20/01/2023; nghề nghiệp:
Cán bộ hưu trí; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức T1, sinh năm 1950 bà Huỳnh
Thị Đ, sinh năm 1955; vợ Bùi Thị Cẩm T, sinh năm 1984 02 con; tiền án:
Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (có mặt).
- Bị hại có kháng cáo: Chị Bùi Thị Cẩm T, sinh năm 1984
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 29/10/2025, tại số nhà F đường T, tổ dân phố L,
phường T, tỉnh Quảng Ngãi gồm Bùi Đức C, chị Bùi Thị Cẩm T (vợ của C)
ông Bùi Đức T2 (anh của C) ngồi nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn trong gia
đình của vợ chồng C và chị T. Trong quá trình nói chuyện, C cho rằng chị T ngoại
tình, không lo cho gia đình, chị T không đồng ý, yêu cầu C đưa bằng chứng ra thì
2
C đứng dậy, dùng tay phải đánh trúng vào mắt trái của chị T, chị T ngã xuống ghế
dùng hai tay che mặt lại, C tiếp tục dùng hai tay đánh liên tiếp trúng vào vùng đầu,
vùng mặt của chị T gây thương tích. Lúc này, ông T2 đến can ngăn, thì C đi qua
nhà hàng xóm. Chị T bị thương ở mắt trái, chảy máu mũi, chảy máu miệng, sau đó
được người nhà đưa đi cấp cứu. Tại bản kết luận giám định tổn thương thể trên
người sống số: 250/KLTTCT-TTPY ngày 24/12/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh
Q kết luận chị T bị tổn thương cơ thể tỷ lệ là 18%.
Bản án hình sthẩm số: 79/2026/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Bùi Đức C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”,
Căn cứ vào khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51
Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Đức C 15 (mười lăm) tháng cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án (30/06/2026).
Giao bị cáo Bùi Đức C cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Quảng Ngãi
giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú tthực hiện theo
quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự
năm 2015:
Buộc bị cáo Bùi Đức C phải bồi thường cho bị hại Bùi Thị Cẩm T số tiền
64.969.000 đồng. Nhưng được khấu trừ vào 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi theo Biên lai thu tiền số
0000583, ngày 21/4/2026 Biên lai thu tiền số 943, ngày 17/6/2026. Vậy bcáo
Bùi Đức C phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Bùi Thị Cẩm T số tiền 54.969.000
đồng (năm mươi bốn triệu, chín trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Ngày 02 tháng 7 năm 2026, bị hại chị Bùi Thị Cẩm T đơn kháng cáo toàn
bộ bản án thẩm, với nội dung tăng nặng hình phạt không cho hưởng án
treo, sửa phần trách nhiệm dân sự buộc bị cáo Bùi Đức C phải bồi thường tổn thất
3
tinh thần cho bị hại bằng 36 lần mức lương stương ứng số tiền 84.900.000
đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại chị Bùi Thị Cẩm T vẫn giữ nguyên nội dung
kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
Qua phân ch về tính hợp pháp của kháng cáo, về hành vi, tính chất mức độ hậu
quả của bị cáo đã gây ra, đánh giá về việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp
thẩm trong quá trình xét xử vụ án trên. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị hại chị Bùi Thị Cẩm T, giữ
nguyên toàn bộ bản án hình sự thẩm số: 79/2026/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về kháng cáo: Kháng cáo của bhại chị Bùi Thị Cẩm T đảm bảo về thời
hạn theo quy định tại các Điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết.
[2] Về nội dung vụ án Hội đồng xét x xét thấy: mâu thun trong
chuyện tình cảm vợ chồng, nên vào tối ngày 29/10/2025 tại số nhà F đường T, tổ
dân phố L, phường T, tỉnh Quảng Ngãi, bcáo Bùi Đức C đã dùng tay đánh vào
vùng mặt, vùng đầu của chị Bùi Thị Cẩm T (vợ của bị cáo C), hậu quả chị T bị
thương tích với tỷ lệ tổn thương thể 18%. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C
thừa nhận về hành vi phạm tội của mình. vậy, Tòa án cấp thẩm đã xét xử
kết án bị cáo Bùi Đức C về tội Cố ý gây thương tíchtheo khoản 1 Điều 134 của
Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị hại chị Bùi Thị Cẩm T: Hội đồng xét xử thấy xét về
tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như hậu quả bị cáo gây ra nguy
hiểm cho hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách
trái pháp luật; đồng thời gây mất trật tự trị an hội, tác động không tốt đến đời
sống của các gia đình sinh sống tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần
xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi
phạm tội hậu quả bị cáo đã gây ra cho bị hại, theo đúng quy định của pháp
luật.
[3.1] Xét kháng cáo của bị hại về việc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm,
tăng nặng hình phạt tù và không cho bị cáo Bùi Đức C được hưởng án treo: Hội
đồng xét xử thấy rằng nguyên nhân bị cáo C gây ra thương tích cho bị hại xuất
phát từ mâu thuẫn trong chuyện tình cảm vợ chồng và bị cáo C đã có hành vi dùng
tay đánh bị hại; trong quá trình xét xử thẩm bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự; không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân
4
tốt; nơi trú ổn định, ràng. Do đó, Tòa án cấp thẩm xử phạt bị cáo Bùi
Đức C 15 tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng phù hợp và
đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng,
đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như hậu quả do bị cáo gây
ra cho bị hại.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bhại chị Bùi Thị Cẩm T không tài liệu, chứng
cứ mới để Hội đồng xét xử xem xét tăng nặng hình phạt không cho bị cáo
Bùi Đức C được hưởng án treo. Vì vậy, kháng cáo tăng nặng hình phạt tù và không
cho bị cáo Bùi Đức C được hưởng án treo của bị hại chị Bùi Thị Cẩm T không
cơ sở để chấp nhận.
[3.2] Xét kháng cáo của bị hại về việc buộc bị cáo Bùi Đức C phải bồi thường
tổn thất tinh thần cho bị hại bằng 36 lần mức lương sở tương ứng số tiền
84.900.000 đồng:
Hội đồng xét xử thấy bị cáo C chỉ gây thương tích cho bị hại với tỷ ltổn
thương cơ thể là 18%, nguyên nhân do xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình
giải quyết, Tòa án cấp thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện về thiệt hại, về tổn
thất tinh thần do bị cáo gây ra cho bị hại. Do đó, Tòa án cấp thẩm căn cứ vào
thương tích của bị hại chỉ chấp nhận bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho
bị hại bằng 20 lần mức lương cơ sở tương ứng số tiền 46.800.000 đồng là phù hợp.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị hại chị Bùi Thị Cẩm T không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ mới đchứng minh cho yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm về
tổn thất tinh thần cho bị hại.
vậy, Hội đồng xét xử thấy không sở để chấp nhận kháng cáo của bị
hại, giữ nguyên toàn bbản án hình sthẩm số: 79/2026/HS-ST ngày 30 tháng
6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Đơn kháng cáo của bị hại chị Bùi Thị Cẩm T về phần hình phạt
đối với bị cáo Bùi Đức C không được chấp nhận, nên chị Bùi Thị Cẩm T phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
điểm d khoản 1 Điều 12, điểm đ khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bhại chị Bùi Thị Cẩm T. Giữ nguyên
toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2026/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.
5
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51
Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Đức C 15 (mười lăm) tháng nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án (30/06/2026).
Giao bị cáo Bùi Đức C cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Quảng Ngãi
giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú tthực hiện theo
quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự
năm 2015:
Buộc bị cáo Bùi Đức C phải bồi thường cho bị hại Bùi Thị Cẩm T số tiền
64.969.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào 10.000.000đ (mười triệu đồng) bị
cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi theo Biên lai thu tiền số
0000583, ngày 21/4/2026 Biên lai thu tiền số 943, ngày 17/6/2026. Bị cáo Bùi
Đức C phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Bùi Thị Cẩm T số tiền 54.969.000đ
(năm mươi bốn triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Buộc chị Bùi Thị Cẩm T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Phòng HSNV CA tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND, TAND KV 1 Quảng Ngãi;
- Phòng THADS Khu vực 1 – Quảng Ngãi;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Văn Thuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 111/2026/HS-PT Bản án số 111/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 111/2026/HS-PT Bản án số 111/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất