Bản án số 16/2026/HC-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 16/2026/HC-PT ngày 27/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 16/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Võ Văn T - Chủ tịch UBND phường N - Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 16/2026/HC-PT Bản án số 16/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2026/HC-PT Bản án số 16/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Quốc Tuấn
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư phiên tòa: Ông Ngọc Khánh Thư Toà án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân tỉnh Tây Ninh mở phiên toà
để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ số 11/2026/TLPT-HC ngày
29 tháng 6 năm 2026 về việc Khiếu kiện quyết định hành chính”.
Do Bản án hành chính thẩm số 05/2026/HC-ST ngày 15 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 398/2026/QĐ-PT ngày 30
tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
1. Ông Văn T, sinh năm 1974; CCCD số ************;
2. Nguyễn Kim L, sinh năm 1976; CCCD số ************;
Cùng địa chỉ: Số A, đường B - Đ, khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Thị H, sinh năm 1979,
địa chỉ: Số C, đường B - Đ, khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh (Văn bản uỷ
quyền ngày 26/01/2026). (có mặt)
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh T.
Người bảo v quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
1/ Ông Phan Tuấn C Phó Giám đốc Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất
khu vực T. (vắng mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 16/2026/HC-PT
Ngày: 27/8/2026
V/v “khiếu kiện quyết định
hành chính”
CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2/ Ông Trần Ngọc L1 Phó Trưởng Phòng Kinh tế - Hạ tầng Đô thị phường
N. (vắng mặt)
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường
N, tỉnh Tây Ninh;
Địa chỉ trụ sở: Số A, đường Đ, khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Mai
Lâm Đ; Chức vụ: Phó Chủ tịch (Văn bản ủy quyền số 05/GUQ-UBND ngày
12/12/2025). (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn
Trương Uy V; Trưởng Phòng Kinh tế - Hạ tầng Đô thị phường N. (vắng mặt)
Người kháng cáo: Ông Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện người đại diện hợp pháp của người khởi kiện trình bày
nội dung:
Vợ chồng ông, bà người quyền sử dụng đối với thửa đất hiện trạng số
235 (trích từ thửa đất số 232, tờ bản đồ s 19), diện tích 187,5m², gồm 60m² đất
đô thị (ONT) 127,5m² đất trồng cây lâu năm (CLN), đã được UBND thị T cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/3/2005, số vào sổ cấp GCN:
H00231/NT, số AC 187549; trên đất nhà ở, cây trồng các tài sản khác gắn
liền với đất.
Khi Nhà nước thực hiện dự án Khu đô thị M tại phường N, thành phố T, tỉnh
Tây Ninh (Đợt 2), UBND thành phố T ban hành Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày
21/01/2025 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định khi Nhà
nước thu hồi đất để thực hiện dự án; kèm theo quyết định này phương án bồi
thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình ông T, L, tương ứng với tổng số tiền bồi
thường, hỗ trợ là 1.282.665.989 đồng, trong đó bồi thường về đất là 924.014.685
đồng, bồi thường nhà công trình xây dựng 291.551.304 đồng, bồi thường về cây
trồng 360.000 đồng, hỗ trợ ổn định đời sống di dời là 66.740.000 đồng; không
bồi thường, không hỗ trợ đối với c tài sản công trình xây dựng năm 2005 trên
diện tích đất nông nghiệp gồm một phần nhà diện tích 35,06m
2
, n tạm, nhà vệ
sinh, mái che nền xi măng.
Ông T, L khiếu nại đối với quyết định nêu trên. Tại Quyết định số
501/QĐ-UBND ngày 03/6/2025 của Chủ tịch UBND thành phố T, về việc giải
quyết khiếu nại của ông T, L (lần đầu) đã không chấp nhận nội dung khiếu nại
yêu cầu giải quyết của ông Văn T, Nguyễn Kim L. Giữ nguyên Quyết định số
21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định để giải phóng mặt bằng thực hiện
dự án Khu đô thị mới tại phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh ợt 2).
Ngày 21/01/2026, UBND phường N ban hành Quyết định số 85/QĐ-UBND
ngày 21/01/2026 v việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung phương án bồi thường, hỗ
trợ tái định để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Khu đô thị mới tại phường
N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay phường N, tỉnh Tây Ninh Đợt 2) đã phê
duyệt điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ bổ sung đối với ông T, L như sau: Tổng tiền
bồi thường, hỗ trợ sau khi điều chỉnh 1.294.914.989 đồng (tăng 12.249.000 đồng so
với phương án bồi thường, hỗ trợ theo Quyết định số 21), trong đó điều chỉnh tăng
bồi thường nhà, công trình tài sản trên đất 9.000 đồng (do nhập sai đơn g bồi
thường đối với giếng khoan), hỗ trợ ổn định đời sống tăng 12.240.000 đồng (do ông
T, L được hưởng chính sách hỗ trợ 24 tháng theo quy định tại khoản 1 Điều 19
Nghị định 88/2024/NĐ-CP), đối với các khoản còn lại giữ nguyên theo phương án
đã phê duyệt.
Ông T, L cho rằng Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025 về
phương án bồi thường, hỗ trợ trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp
của gia đình ông, bà. Theo ông, bà, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố cùng các
quan chuyên môn UBND phường N đã đo đạc, kiểm đếm, thẩm định tài sản
không đúng hiện trạng thực tế sử dụng đất tài sản trên đất. Cụ thể, gia đình ông,
quản lý, sử dụng ổn định diện tích 214,7 đất nhưng chỉ được bồi thường 187,5
m²; căn nhà diện tích thực tế 95,06 nhưng chỉ được bồi thường 60 m²; ngoài
ra các tài sản khác như nhà tạm, cột sắt, mái tole, vách tường gạch, mái che tiền chế
nhà v sinh xây gạch men cạnh nhà chính đều không được bồi thường.
Ông T, L cho rằng việc xác định diện tích đất được bồi thường không p
hợp với s liệu đo đạc thực tế không đúng quy định tại khoản 6 Điều 135 Luật
Đất đai năm 2024, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024
của Chính phủ, bởi diện tích đất 214,7 gia đình ông, sử dụng n định từ trước
đến nay, không tranh chấp với các hộ liền kề nhưng chỉ được tính bồi thường 187,5
m².
Ngoài ra, ông T, L cho rằng giá đất được áp dụng theo phương án bồi
thường chưa p hợp với giá đất thị trường, chưa bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà
nước, người sử dụng đất nhà đầu tư, không phản ánh đúng tình hình thực tế tại
địa phương nên ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của gia đình ông, bà.
Do đó, ông Văn T bà Nguyễn Kim L khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy một
phần Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025 của UBND thành phố T liên
quan đến việc bồi thường, h trợ tái định đối với hộ gia đình ông, bà.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng c đối
thoại ngày 03/02/2026, người đại diện hợp pháp của ông T, L trình bày: người
khởi kiện thống nhất với số liệu các tài sản được kiểm đếm theo biên bản kiểm tra
hiện trạng ngày 07/3/2023, nhưng không đồng ý với Quyết định s 21/QĐ-UBND
về các nội dung sau:
Thứ nhất, đơn giá bồi thường đất theo phương án bồi thường không hợp lý;
theo người khởi kiện, giá chuyển nhượng thực tế tại địa phương đối với đất vị trí
tương tự khoảng 300.000.000 đồng/mét ngang, không phân biệt đất đất nông
nghiệp.
Thứ hai, mặc thống nhất với số liệu tài sản gắn liền với đất đã được kiểm
đếm nhưng người khởi kiện không đồng ý với đơn giá bồi thường đối với các tài sản
này, mức bồi thường theo phương án không đủ đ xây dựng lại các công trình
kết cấu tương tự.
Thứ ba, mức hỗ trợ ổn định đời sống với số tiền 12.240.000 đồng (tương ứng
720 kg gạo x 17.000 đồng/kg) theo Quyết định số 21/QĐ-UBND không bảo đảm
để gia đình ông, ổn định cuộc sống.
Đối với các nội dung khác của Quyết định số 21/QĐ-UBND, người khởi kiện
đồng ý.
Người khởi kiện cam đoan không tiếp tục khiếu nại vụ việc đến bất kỳ
quan hoặc người thẩm quyền nào khác lựa chọn khởi kiện v án hành chính
tại Tòa án theo quy định pháp luật.
Người bị kiện đại diện người bị kiện trình bày nội dung:
Ngày 21/01/2025, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 21/QĐ-UBND
về việc p duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
để thực hiện dự án Khu đô thị mới tại phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Đ).
Ngày 03/6/2025, Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số
501/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Văn T Nguyễn Kim
L, với nội dung không chấp nhận nội dung khiếu nại yêu cầu giải quyết của ông
Văn T Nguyễn Kim L, giữ nguyên Quyết định số 21/QĐ-UBND.
Quan điểm của UBND tỉnh T:
Qua xem xét nội dung kháng cáo của ông Văn T Nguyễn Kim L, hồ
vụ án các quyết định hành chính liên quan, UBND tỉnh T nhận thấy Quyết
định số 21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025 của UBND thành phố T về việc phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ tái định khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự
án Khu đô th mới tại phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Đ) Quyết định số
501/QĐ-UBND ngày 03/6/2025 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc giải quyết
khiếu nại của ông Văn T Nguyễn Kim L đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của ông Văn T Nguyễn Kim L, giữ nguyên bản án thẩm của Tòa án
nhân dân Khu vực 11 - Tây Ninh.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan trình bày nội dung:
Về yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, người bị kiện không đồng ý, sự
việc này cũng đã được Chủ tịch UBND thành phố T giải quyết khiếu nại lần đầu
theo Quyết định số 501/QĐ-UBND ngày 03/6/2025. Theo quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu đã không chấp nhận khiếu nại yêu cầu của ông Văn T
Nguyễn Kim L, giữ nguyên Quyết định số 21/QĐ-UBND, trong quyết định giải
quyết này, cũng đã nêu ràng chi tiết từng căn cứ đ ban hành Quyết định số 21 bị
khởi kiện, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, phía người bị kiện không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện nêu trên.
vậy đề nghị, Tòa án căn cứ quy định của pháp luật, xem xét, giải quyết
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nêu trên của người khởi kiện.
Tại Bản án hành chính thẩm số 05/2026/HC-ST ngày 15 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - tỉnh Tây Ninh đã xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T, Nguyễn Kim L, về việc yêu cầu
hủy một phần Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025 của UBND thành phố
T, tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ i định khi
Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị mới tại phường N, thành phố T,
tỉnh Tây Ninh (đợt 2), đối với ông Văn T, Nguyễn Kim L.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án p quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Ngày 15/5/2026, ông Văn T Nguyễn Kim L đơn kháng cáo yêu
cầu sửa toàn bộ bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
ông T, L.
Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo uỷ quyền của ông T, L giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu:
Về trình tự thủ tục: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án, kể từ khi thụ cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án
được thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào c tài liệu chứng cứ, căn cứ vào phần tranh tụng tại
phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
Giữ nguyên bản án hành chính thẩm số 05/2026/HC-ST ngày 15/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 Tây Ninh.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T, L yêu cầu hủy một phần Quyết
định số 21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025 của UBND thành phố T, tỉnh Tây Ninh v
việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
để thực hiện dự án Khu đô thị mới tại phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (đợt 2),
đối với ông Võ Văn T, Nguyễn Kim L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ v án đã được xem xét
tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên sở xem xét đầy đủ
ý kiến của các bên đương sự quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét
xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của ông T, L làm trong thời hạn theo quy định tại Điều
206 của Luật Tố tụng hành chính nên được xem xét giải quyết theo trình t thủ tục
phúc thẩm.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 21/01/2025 UBND thành phố T ban hành
Quyết định số 21/QĐ-UBND về việc p duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái
định khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị mới tại phường N,
thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Đợt 2). Ngày 24/9/2025 ông T, L nộp đơn khởi kiện
tại Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh yêu cầu hủy quyết định trên trong
thời hiệu theo quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính. [3] V xác định
cách người tham gia tố tụng: Ngày 24/9/2025, ông T, L khởi kiện Ủy ban nhân
dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh, căn cứ theo Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày
31/01/2026 của Chính phủ, Quyết định số 9467/QĐ-UBND ngày 02/6/2026 của Ủy
ban nhân dân tỉnh T thì các khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản
đất đai liên quan đến việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
định công nhận quyền s dụng đất trên địa bàn tỉnh, người bị kiện trong vụ án
được xác định Ủy ban nhân dân tỉnh T. Trong quá trình giải quyết, Tòa án nhân
dân khu vực 11 Tây Ninh không đưa Ủy ban nhân dân tỉnh T tham gia tố tụng
thiếu sót.Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân tỉnh T đồng ý tham gia tố tụng giai đoạn xét
xử phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại người bị kiện Ủy ban nhân dân
tỉnh T căn cứ, không cần thiết phải hủy bản án thẩm với do trên. Cấp
thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[4] Về đối tượng khởi kiện: Ông T, L khởi kiện yêu cầu hủy một phần
Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025 của UBND thành phố T, tỉnh Tây
Ninh về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định khi Nhà nước
thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị mới tại phường N, thành phố T, tỉnh Tây
Ninh (đợt 2), đối với ông Văn T, Nguyễn Kim L. Căn cứ Điều 3, khoản 1
Điều 30, khoản 1 Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số
104/2015/QH13 của Quốc Hội thì Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025
của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh đối tượng khởi kiện vụ án hành
chính.
[5] Việc xét xử vắng mặt đương sự: Người bị kiện, người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp cho người bị kiện, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan người bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đơn xin
vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên căn cứ theo
khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015.
[6] Xét yêu cầu kháng cáo của ông T, L thấy rằng:
[6.1] Đối với diện tích đất được bồi thường: Ông T, bà L cho rằng diện tích đất
thực tế ông T, L quản lý, sử dụng là 214,7 nhưng chỉ được bồi thường 187,5
không đúng quy định pháp luật, thấy rằng: Theo Biên bản kiểm tra hiện trạng
sử dụng đất ngày 07/3/2023 xác định tổng diện tích đất thực tế ông T, L đang
quản lý, sử dụng 214,7 m². Tuy nhiên, căn cứ hồ địa chính, kết quả xác minh
nguồn gốc đất các tài liệu do quan chuyên môn cung cấp thể hiện 27,2
thuộc hành lang lộ giới giao thông, không đủ điều kiện được bồi thường về đất theo
quy định của pháp luật đất đai. Do đó, UBND thành phố T xác định diện tích đủ
điều kiện được bồi thường đối với ông T, L 187,5 n cứ.
[6.2] Đối với giá đất bồi thường: Theo quy định tại Điều 160 Luật Đất đai năm
2024, giá đất làm n cứ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất giá đất cụ thể do
quan thẩm quyền quyết định. Trong vụ án này, g đất cụ thể được áp dụng
theo Quyết định số 1338/QĐ-UBND ngày 29/11/2024 của Chủ tịch UBND thành
phố T. Giá đất cụ thể này được xây dựng trên sở Chứng thư thẩm định giá số 237
ngày 16/9/2024 của Công ty TNHH T1 xác định theo giá đất thị trường, đã được cơ
quan thẩm quyền thẩm định và phê duyệt theo đúng trình tự quy định pháp luật.
Ông T, L bị thu hồi 187,5 m² đất, gồm 60m² đất đô thị 127,5 đất trồng
cây lâu năm; vị trí đất tiếp giáp hẻm B đường Đ, thuộc đoạn từ mét thứ 150 đến hết
mét thứ 250 tính từ mép đường Đ. Căn cứ tiểu mục 2.2 mục 2 phần A Quyết định số
1338/QĐ-UBND, tổng giá trị bồi thường về đất 924.014.685 đồng. Từ những
phân tích trên s xác định việc áp g bồi thường trong phương án bồi thường,
hỗ trợ tái định đúng quy định pháp luật nên cấp thẩm không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông T, L liên quan đến nội dung này n cứ.
[6.3] Đối với bồi thường nhà ở, công trình tài sản gắn liền với đất: Tại Điều
102 Luật Đất đai năm 2024 quy định: Người nhà ở, công trình phục vụ đời sống
bị tháo dỡ hoặc phá dỡ khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường bằng giá trị xây
dựng mới của nhà ở, công trình tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Đơn giá bồi
thường áp dụng theo Quyết định của UBND tỉnh. Phương án bồi thường đối với nhà
ở, vật kiến trúc của ông T, L tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quyết định số
21/QĐ-UBND của UBND thành phố T Quyết định số 85/QĐ-UBND ngày
21/01/2026 của UBND phường N đã áp dụng theo đúng Quyết định số 39/2024/QĐ-
UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh T quy định đơn giá bồi thường thiệt hại v
nhà, công trình xây dựng, chi p di chuyển chi phí phá dỡ tài sản gắn liền với đất
khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Đối với các công trình xây
dựng trên đất nông nghiệp của ông T L không thuộc trường hợp được bồi
thường, hỗ trợ theo quy định tại khoản 5 Điều 9a Quyết định số 62/2024/QĐ-UBND
ngày 12/11/2024 của UBND tỉnh T về việc sửa đổi, bổ sung quy định về bồi thường,
hỗ trợ, tái định khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ban
hành kèm theo Quyết định số 31/2024/QĐ-UBND ngày 27/9/2024 của UBND tỉnh
T. Do đó cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, L đối với
nội dung này căn cứ.
[6.4] Đối với hỗ trợ ổn định đời sống: Tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số
88/2024/NĐ-CP quy định: Trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp
đang sử dụng phải di chuyển chỗ thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời
gian 24 tháng; trường hợp di chuyển đến vùng điều kiện kinh tế - hội khó
khăn hoặc đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa 36 tháng. Ông T, L
nhân trực tiếp sử dụng đất, bị thu hồi toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đang sử
dụng phải di chuyển chỗ nên thuộc trường hợp được hỗ trợ trong thời gian 24
tháng. Mặc h gia đình ông T, L 04 nhân khẩu cùng sinh sống thực tế, tuy
nhiên quyền sử dụng đất bị thu hồi được Nhà nước cấp cho nhân ông T, L,
không phải cấp cho “Hộ gia đình sử dụng đất” theo quy định tại khoản 25 Điều 3
Luật Đất đai năm 2024. Do đó, việc quan thẩm quyền xác định đối tượng
được hỗ trợ ổn định đời sống gồm 02 nhân khẩu ông T L, từ đó quyết định
hỗ trợ n định đời sống với số tiền 24.480.000 đồng ược điều chỉnh theo Quyết
định s 85/QĐ-UBND ngày 21/01/2026 về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung
phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư) căn cứ.
[7] Từ những phân tích đánh g nêu trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông
T, L là không căn cứ nên không chấp nhận như quan điểm của Vị đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên Tòa. Giữ nguyên bản án thẩm.
[8] Án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông T, bà L
không được chấp nhận nên ông T, L phải chịu án p hành chính thẩm theo
quy định tại Điều 349 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015.
các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn T và bà Nguyễn Kim L.
Giữ nguyên bản án hành chính thẩm số 05/2026/HC-ST ngày 15/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 30, 31, 59, 60, 157, 158, 191, 193, 194, 348 Luật Tố tụng
hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ các Điều 95, 102, 104, 108, 111, 160 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. c yêu cầu khởi kiện của ông Văn T, Nguyễn Kim L, về việc yêu
cầu hủy một phần Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 21/01/2025 của UBND thành
phố T, tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định
khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị mới tại phường N, thành
phố T, tỉnh Tây Ninh (đợt 2), đối với ông Văn T, Nguyễn Kim L.
2. Về án phí hành chính thẩm: Ông Văn T, Nguyễn Kim L phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính thẩm, được khấu trừ
300.000 đồng vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010009 ngày
29/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
3. Về án p hành chính phúc thẩm: Ông Văn T, Nguyễn Kim L phải
chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ 300.000 đồng vào số tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu s 0010605 ngày 15/5/2026 của Thi hành án
dân s tỉnh Tây Ninh. Ông T, L đã nộp đủ án phí.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 11 Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CH TOẠ PHIÊN TÒA
Nguyễn Phước Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 16/2026/HC-PT Bản án số 16/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2026/HC-PT Bản án số 16/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất