Bản án số 05/2026/HC-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2026/HC-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 14 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 05/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Kông Bơ La - yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 05/2026/HC-ST Bản án số 05/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/HC-ST Bản án số 05/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 14 - GIA LAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 05/2026/HC-ST.
Ngày: 28/8/2026.
“V/v: Kiện yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Kiều Duy Phương.
2. Ông Võ Nguyên Giáp.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Đình Mão - Thư ký Toà án nhân dân
(TAND) khu vực 14 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực 14 - Gia Lai tham
gia phiên tòa:Nguyễn Thu Thùy - Kiểm sát viên (KSV).
Trong ngày 28/8/2026, tại trụ sở TAND khu vực 14 - Gia Lai xét xử sơ thẩm
công khai vụ án hành chính thụ số 05/2026/TLST-HC ngày 23/4/2026 về việc:
“Kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Vợ chồng ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1942
Thị C, sinh năm 1953;
Địa chỉ: Thôn K, xã K, tỉnh Gia Lai.
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) xã K, tỉnh Gia Lai.
Địa chỉ: Thôn N, xã K, tỉnh Gia Lai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Đặng Thị H, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Thôn K, xã K, tỉnh Gia Lai.
Các đương sự vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/4/2026, được bổ sung tại Biên bản đối thoại
ngày 06/8/2026 Bản tự khai ngày 10/8/2026, người khởi kiện ông Nguyễn
Đình Đ và bà Lê Thị C trình bày:
Ngày 12/12/2025, ông bà nhận tặng cho từ con gái là chị Nguyễn Thị Hoàng
Y, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn A, nay thôn K, K, tỉnh Gia Lai các thửa đất
số 6, 14, 13 109 thuộc tờ bản đồ số 58 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ) số U 623070 ngày 31/12/2001 của UBND huyện K, tỉnh Gia Lai
2
(trước đây) cấp, trong đó thửa đất số 109 tổng diện tích 8.248m2, gồm:
400m2 đất ở và 7.848m2 đất vườn.
Quá trình sử dụng đất, ông bà có nhu cầu đo đạc, cấp đổi lại GCNQSDĐ thì
chính quyền địa phương phát hiện thửa đất số 109 ông đang quản lý, sử dụng
không đúng về vị trí, diện tích so với Giấy chứng nhận được cấp đất của
Đặng Thị H, địa chỉ: Thôn K, K, tỉnh Gia Lai đang sử dụng lại nằm trong diện
tích của thửa đất số 109. Điều này, qua xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án cũng
đã xác định: Theo GCNQSDĐ số U 623070 thì thửa đất số 109, tờ bản đồ số 58 có
diện tích là 8.248m2, gồm: 400m2 đất ở và 7.848m2 đất vườn nhưng diện tích thực
tế lại lại là 5.849m2, với vị trí tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đất ông L dài 31,39m, giáp đường tỉnh lộ 669 dài 18,78m
và giáp khe cạn 6,58m + 23,32m;
- Phía Tây giáp thửa đất Đặng Thị H đang sử dụng dài 21,02m + 39,18m
+ 28,77m + 2,22m;
- Phía Nam giáp đất ông Đ1 dài 53,91m + 20,13m + 10,80m + 5,15m +
5,34m;
- Phía Bắc giáp khe cạn dài 20,63m + 10,42m + 14,20m + 12,64m;
Trong khi đó, theo GCNQSDĐ số BH 701115 thì thửa đất số 108, tờ bản đồ
số 58 cấp cho bà Đặng Thị H có diện tích là 6.459m2 đất trồng cây hàng năm khác
nhưng diện tích thực tế của thửa đất này lại là 3.090,3m2, với vị trí tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất của ông Đ bà C đang sử dụng dài 21,02m +
39,18m + 28,77m + 2,22m;
- Phía Tây giáp đất ông T dài 3,20m + 17,10m + 14,99m + 11,02m + 8,40m
+ 8,06m + 8,02m + 11,28m + 7,77m;
- Phía Nam giáp đất ông Đ1 dài 11,96m + 8,09m + 10,05m;
- Phía Bắc giáp đất ông T dài 2,86m + 05m + 5,03m + 5,14m giáp khe
cạn dài 4,88m + 2,77m + 4,26m;
Đối chiếu với Trích lục bản đồ kèm theo GCNQSDĐ số U 623070 thì phần
diện tích đất bà H đang sử dụng nằm trong diện tích của thửa đất số 109, tờ bản đồ
số 58 GCNQSDĐ số U 623070 của ông chứ không nằm trong GCNQSDĐ số
BH 701115 của bà H.
Nguyên nhân của các sai sót trên do trong quá trình xác định vị trí đo
vẽ đất của chính quyền địa phương trước đây khi cấp GCNQSDĐ số U 623070 vào
năm 2001 và GCNQSDĐ số BH 701115 vào năm 2011 đã sự nhầm lẫn, không
chính xác. Tuy nhiên, trước yêu cầu của ông thì UBND K Phòng Kinh tế
xã đã từ chối thu hồi GCNQSDĐ cũ và cấp lại Giấy chứng nhận mới cho ông bà vì
không đúng thẩm quyền do Giấy chứng nhận của ông nguồn gốc ông
nhận chuyển quyền sử dụng đất từ con gái tặng cho lại (Công văn trả lời số:
448/UBND-KT ngày 14/4/2026 của UBND K Thông báo số: 400/TB-PKT
ngày 13/4/2026 của Phòng Kinh tế xã).
GCNQSDĐ số U 623070 ngày 31/12/2001 do UBND huyện K, tỉnh Gia
Lai (trước đây) cấp, nay UBND huyện K không còn, Chủ tịch UBND K
3
người kế thừa quyền nghĩa vụ của UBND huyện K để lại. vậy, ông bà khởi
kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy GCNQSDĐ số U 623070 ngày 31/12/2001 với
do thửa đất số 109 thuộc GCNQSDĐ số U 623070 sai sót về vị trí diện
tích đất. Tuy nhiên, do các thửa đất số 6, 14, 13 không sai sót nhưng được cấp
chung trong GCNQSsố U 623070 nên ông đã thay đổi yêu cầu khởi kiện,
theo đó: Ông yêu cầu Tòa án tuyên hủy một phần GCNQSDĐ số U 623070 của
UBND huyện K, tỉnh Gia Lai liên quan đến thửa đất số 109; sau khi Tòa án tuyên
hủy thì ông bà có quyền liên hệ với UBND xã K, tỉnh Gia Lai, Văn phòng Đăng ký
đất đai tỉnh G chi nhánh K các quan chức năng liên quan để làm thủ tục
cấp lại GCNQSDĐ mới đối với thửa đất số 109 cho đúng với vtrí, diện tích, hình
thể và chỉ số cạnh của thửa đất này trên thực tế.
Về án phí hành chính thẩm thì ông xin chịu toàn bộ; về chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ thì ông xin chịu một nửa H chịu một nửa chi phí
này.
Tại Biên bản đối thoại ngày 06/8/2026, người bị kiện ông Trần Trung T1 -
Chủ tịch UBND xã K, tỉnh Gia Lai trình bày:
Vừa qua, ông nhận được Thông o thụ vụ án số 05/TB-TLVA ngày
23/4/2026, Thông báo thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan số 01/TB-TLYCĐL ngày 24/4/2026 cùng bản sao Biên bản xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 10/7/2026 của TAND khu vực 14 Gia Lai gửi đến. Nay qua ý
kiến trình bày của người khởi kiện người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì
ông có quan điểm như sau:
Ngày 12/12/2025, vợ chồng ông Nguyễn Đình Đ Thị C nhận tặng
cho từ con gái chị Nguyễn Thị Hoàng Y các thửa đất số 6, 14, 13 109 thuộc
tờ bản đồ số 58 GCNQSDĐ số U 623070 ngày 31/12/2001 của UBND huyện K,
tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp; trong đó thửa đất số 109 có tổng diện tích là
8.248m2, gồm: 400m2 đất ở và 7.848m2 đất vườn.
Vào năm 2011, Đặng Thị H nhận chuyển nhượng của ông Văn T2
hiện tại thôn K, K, tỉnh Gia Lai một thửa đất nông nghiệp đã được
UBND huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp GCNQSDĐ số BH 701115 ngày
21/11/2011 với thửa đất s108, tờ bản đồ s58 diện tích 6.459m2 đất nông
nghiệp trồng cây hàng năm.
Quá trình sử dụng đất, vợ chồng ông Đ nhu cầu đo đạc, cấp đổi lại Giấy
chứng nhận thì chính quyền địa phương phát hiện thửa đất số 109 ông đang
quản lý, sử dụng không đúng về vị trí, diện tích so với Giấy chứng nhận được cấp
đất của H đang sử dụng theo thửa đất số 108 GCNQSDĐ số BH 701115
nằm trong diện tích của thửa đất số 109 GCNQSDĐ số U 623070. Điều này, qua
xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án cũng đã xác định như người khởi kiện đã
trình bày.
Đối chiếu với Trích lục bản đồ kèm theo GCNQSDĐ số U 623070 thì phần
diện tích đất bà H đang sử dụng nằm trong diện tích của thửa đất số 109, tờ bản đồ
số 58 GCNQSDĐ số U 623070 của vợ chồng ông Đ chứ không thuộc thửa đất số
108 GCNQSDĐ số BH 701115 của bà H.
4
Nguyên nhân của các sai sót trên do trong quá trình xác định vị trí đo
vẽ đất của chính quyền địa phương trước đây khi cấp GCNQSDĐ số U 623070 vào
năm 2001 và GCNQSDĐ số BH 701115 vào năm 2011 đã sự nhầm lẫn, không
chính xác. Tuy nhiên, trước yêu cầu của vợ chồng ông Đ thì UBND xã K và Phòng
Kinh tế đã từ chối thu hồi GCNQSDĐ và cấp lại Giấy chứng nhận mới cho
ông vì không đúng thẩm quyền do Giấy chứng nhận của ông nguồn gốc
nhận chuyển quyền sử dụng đất từ con gái tặng cho lại (Công văn trả lời số:
448/UBND-KT ngày 14/4/2026 của UBND K Thông báo số: 400/TB-PKT
ngày 13/4/2026 của Phòng Kinh tế xã) .
Nay vợ chồng ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy một phần
GCNQSDĐ số U 623070 của UBND huyện K, tỉnh Gia Lai liên quan đến thửa đất
số 109; sau khi Tòa án tuyên hủy thì ông bà có quyền liên hệ với UBND xã K, tỉnh
Gia Lai, Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh K c quan chức năng liên
quan để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận mới đối với thửa đất số 109 cho đúng
với vị trí, diện tích, hình thể chỉ số cạnh của thửa đất này trên thực tế; người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan H yêu cầu Tòa án tuyên hủy GCNQSDĐ số BH
701115 ngày 21/11/2011, sau khi Tòa án tuyên hủy thì quyền liên hvới
UBND xã K, tỉnh Gia Lai, Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh K các quan
chức năng liên quan đlàm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận mới cho cho
đúng với vị trí, diện tích, hình thể chỉ số cạnh của thửa đất đang sử dụng thì
ông có quan điểm như sau:
Các GCNQSDĐ số U 623070 ngày 31/12/2001 số BH 701115 ngày
21/11/2011 đều do UBND huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp, nay UBND
huyện K không còn, ông Chủ tịch UBND K kế thừa quyền nghĩa vụ của
UBND huyện K để lại. Việc vợ chồng ông Đ-bà C cùng bà H có yêu cầu khởi kiện
u cầu độc lập như nói trên hoàn toàn chính đáng đúng pháp luật nên
ông cũng thống nhất, đề nghị Tòa án tuyên hủy một phần GCNQSDĐ số U 623070
ngày 31/12/2001 liên quan đến thửa đất số 109 tuyên hủy GCNQSDĐ số BH
701115 ngày 21/11/2011 để vợ chồng ông Đ-bà C và bà H có điều kiện làm thủ tục
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp lại Giấy chứng nhận mới cho các
ông bà này theo đúng vị trí, diện tích, hình thể chỉ số cạnh của đất họ đang sử
dụng.
Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 24/4/2026, được bổ sung tại các Bản tự
khai ngày 24/4/2026 ngày 10/8/2026, Biên bản đối thoại ngày 06/8/2026,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị H trình bày:
Vào năm 2011, nhận chuyển nhượng của ông Văn T2 hiện tại thôn
K, xã K, tỉnh Gia Lai một thửa đất nông nghiệp đã được UBND huyện K,
tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp GCNQSsố BH 701115 ngày 21/11/2011 với thửa
đất số 108, tờ bản đồ số 58 diện tích là 6.459m2 đất trồng cây hàng năm khác.
Quá trình sử dụng đất, nhu cầu đo đạc, cấp đổi lại GCNQSDĐ thì
Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh huyện K (trước đây) đã kiểm tra đo đạc thực
địa phát hiện thửa đất đang quản lý, sử dụng không đúng về vị trí, diện ch
so với Giấy chứng nhận được cấp, toàn bộ diện ch đất đang sử dụng nằm
trong diện tích của thửa đất số 109, tờ bản đồ số 58 GCNQSDĐ số U 623070 của
5
UBND huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp cho ông Nguyễn Đình Đ
Thị C; điều này đã được Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ kết luận, được người
khởi kiện và người bị kiện trình bày rõ ở trên.
vậy, Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh huyện K (trước đây) đã từ chối
cấp đổi GCNQSDĐ cho bà. Nay vợ chồng ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên
hủy một phần GCNQSDĐ số U 623070 ngày 31/12/2001 liên quan đến thửa đất số
109 với lý do là thửa đất số 109 có sai sót về vị trí và diện tích đất thì bà cũng hoàn
toàn đồng ý. Ngoài ra, bà cũng đưa ra yêu cầu độc lập là yêu cầu Tòa án tuyên hủy
GCNQSDĐ sBH 701115 ngày 21/11/2011 của UBND huyện K, tỉnh Gia Lai
(trước đây) cấp cho vì thửa đất thuộc Giấy chứng nhận y lại nằm trong thửa
đất số 109 GCNQSDĐ số U 623070 của vợ chồng ông Đ; sau khi Tòa án tuyên
hủy thì quyền liên hệ với UBND K, tỉnh Gia Lai, Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh
G chi nhánh K các quan chức năng liên quan để làm thủ tục cấp lại Giấy
chứng nhận mới cho bà cho đúng với vị trí, diện tích, hình thể chỉ số cạnh của
thửa đất bà đang sử dụng .
Về án phí hành chính thẩm thì xin chịu toàn bộ; về chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ thì xin chịu một nửa và vợ chồng ông Đ chịu một nửa chi phí
này.
Tại phiên tòa, KSV phát biểu quan điểm của VKSND khu vực 14 - Gia Lai
về việc giải quyết vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng các Điều 3, 30, 80, 81, 82, 88,
95; các Điều 157, 158, 168, 194, 204, 205, 206, 356, 357 358 của Luật ttụng
hành chính năm 2015; khoản 3 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; Điều 152 của
Luật đất đai năm 2024 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận u cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình Đ Lê Thị C,
tuyên hủy một phần GCNQSDĐ sU 623070 ngày 31/12/2001 của UBND huyện
K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp có liên quan đến thửa đất số 109, tờ bản đồ số 58.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của Đặng Thị H, tuyên hủy GCNQSDĐ số
BH 701115 ngày 21/11/2011 của UBND huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp
cho bà H.
Ông Đ bà C quyền liên hvới UBND K, tỉnh Gia Lai; Văn phòng
ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh K c quan chức năng liên quan để làm thủ tục
cấp lại GCNQSDĐ mới đối với thửa đất số 109 cho đúng vị trí, diện tích, hình thể
và chỉ số cạnh của thửa đất này trên thực tế.
H quyền liên hệ với UBND xã K, tỉnh Gia Lai; Văn phòng ĐKĐĐ
tỉnh G chi nhánh K và các quan chức năng liên quan để làm thủ tục cấp lại
GCNQSDĐ mới cho đúng vị trí, diện tích, nh thể chỉ số cạnh của thửa đất
đang sử dụng.
Về án phí Hành chính sơ thẩm (HCST) và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
(XX, TĐTC): Người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu
án phí HCST và chi phí XX, TĐTC theo quy định.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm
tra tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về xác định tư cách tham gia tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngày 12/12/2025, ông Nguyễn Đình Đ Lê Thị C nhận tặng cho từ con
gái là chị Nguyễn Thị Hoàng Y các thửa đất số 6, 14, 13 và 109 thuộc tờ bản đồ số
58 GCNQSDĐ số U 623070 ngày 31/12/2001 của UBND huyện K, tỉnh Gia Lai
(trước đây) cấp, trong đó thửa đất số 109 tổng diện tích 8.248m2, gồm:
400m2 đất ở và 7.848m2 đất vườn.
Vào năm 2011, Đặng Thị H nhận chuyển nhượng của ông Văn T2
một thửa đất nông nghiệp và bà đã được UBND huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây)
cấp GCNQSDĐ số BH 701115 ngày 21/11/2011 với thửa đất số 108, tờ bản đồ số
58 diện tích là 6.459m2 đất trồng cây hàng năm khác.
Quá trình sử dụng đất, vợ chồng ông Đ H nhu cầu đo đạc, cấp đổi
lại GCNQSDĐ thì chính quyền địa phương và Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh
huyện K (trước đây) phát hiện thửa đất số 109 của vợ chồng ông Đ đang quản lý,
sử dụng không đúng về vị trí, diện tích so với Giấy chứng nhận được cấp
toàn bộ diện ch đất H đang sử dụng nằm trong diện tích của thửa đất số 109
GCNQSDĐ số U 623070 của vợ chồng ông Đ.
Như vậy, do diện tích, hình thể chỉ số các cạnh của đất vợ chồng ông Đ
đất của H đang sử dụng không đúng so với GCNQSDĐ mà họ được cấp, đất
của bà H lại nằm trong Giấy chứng nhận của vợ chồng ông Đ; toàn bộ các diện tích
đất này đã được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Vì vậy, ông Đ và bà C có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu TAND khu
vực 14 - Gia Lai tuyên hủy một phần GCNQSDĐ số U 623070 của UBND huyện
K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp liên quan đến thửa đất số 109; H quyền yêu
cầu độc lập về việc tuyên hủy GCNQSDĐ số BH 701115 của UBND huyện K,
tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp theo như quy định tại khoản 4 Điều 152 của Luật Đất
đai năm 2024, khoản 8 Điều 3 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính năm 2025.
Do GCNQSDĐ số U 623070 GCNQSDĐ số BH 701115 do UBND
huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp; nay UBND huyện K không còn nên Chủ
tịch UBND K, tỉnh Gia Lai người kế thừa quyền nghĩa vụ của UBND
huyện K theo như hướng dẫn tại tiểu mục 2.3 mục 2 của Văn bản số
285/TANDTC-PC ngày 31/7/2015 của TAND tối cao hướng dẫn thực hiện nhiệm
vụ, thẩm quyền của các TAND. vậy, Chủ tịch UBND K, tỉnh Gia Lai tham
gia tố tụng là Người bkiện trong vụ án vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
TAND khu vực 14 - Gia Lai theo như quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại
Tòa án năm 2025.
[2] Về việc tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên đối thoại ngày
06/8/2026, người khởi kiện, người bkiện người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đều yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét yêu cầu của các đương sự tự
7
nguyện và đúng pháp luật nên được HĐXX chấp nhận tiến hành xét xử vắng
mặt tất cả các đương sự theo như quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 168 của
Luật tố tụng hành chính năm 2025.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án:
Ngày 12/12/2025, ông Đ C nhận tặng cho từ con gái chị Nguyễn
Thị Hoàng Y các thửa đất số 6, 14, 13 và 109 thuộc tờ bản đồ số 58 GCNQSDĐ số
U 623070 ngày 31/12/2001 của UBND huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp,
trong đó thửa đất số 109 tổng diện tích 8.248m2, gồm: 400m2 đất
7.848m2 đất vườn. Quá trình sử dụng đất, ông nhu cầu đo đạc, cấp đổi lại
GCNQSDĐ thì chính quyền địa phương phát hiện thửa đất số 109 ông đang
quản lý, sử dụng không đúng về vị trí, diện tích so với Giấy chứng nhận được cấp
và có đất của bà H đang sử dụng nằm trong diện tích của thửa đất số 109.
Vào năm 2011, bà H nhận chuyển nhượng của ông Lý Văn T2 thửa đất nông
nghiệp và bà đã được UBND huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp GCNQSDĐ số
BH 701115 ngày 21/11/2011 với thửa đất số 108, tờ bản đ số 58 diện tích
6.459m2 đất trồng cây hàng năm khác. Quá trình sử dụng đất, nhu cầu đo
đạc, cấp đổi lại GCNQSDĐ thì Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh huyện K
(trước đây) kiểm tra, đo đạc phát hiện thửa đất đang quản lý, sử dụng không
đúng về vị trí, diện tích so với Giấy chứng nhận bà được cấp, toàn bộ diện tích đất
bà đang sử dụng nằm trong diện tích của thửa đất số 109 GCNQSDĐ số U 623070
của vợ chồng ông Đ.
Nguyên nhân của các sai sót trên do trong quá trình xác định vị trí đo
vẽ đất của chính quyền địa phương trước đây khi cấp GCNQSDĐ số U 623070 vào
năm 2001 và GCNQSDĐ số BH 701115 vào năm 2011 đã sự nhầm lẫn, không
chính xác. Điều này đã được người khởi kiện người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trình bày và chứng minh qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là Sơ
đồ hiện trạng thửa đất (BL số 09), Thông báo về việc từ chối giải quyết hồ số
401/TB-CNHKB ngày 21/4/2025 của Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh huyện
K (BL s10), Công văn trả lời số: 448/UBND-KT ngày 14/4/2026 của UBND
K (BL số 11), Thông báo về việc trả hồ của ông Nguyễn Đình Đ…số 400/TB-
PKT ngày 13/4/2026 của Phòng Kinh tế K (BL số 12), Biên bản xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 10/7/2026 kèm theo đồ hiện trạng thửa đất (các BL từ số 57
đến số F) và được người bị kiện chấp nhận tại phiên đối thoại ngày 06/8/2026 (các
BL từ số 78 đến số 83).
Xét diện tích, hình thể chỉ số các cạnh của đất vợ chồng ông Đ đất
H đang sử dụng không đúng với các GCNQSDĐ mà họ được cấp, toàn bộ diện tích
thửa đất bà H đang sử dụng nằm trong diện tích của thửa đất số 109 GCNQSDĐ số
U 623070 của vợ chồng ông Đ. Trong khi đó, toàn bộ diện tích của thửa đất số 109
đã được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai nên
UBND K, tỉnh Gia Lai không thể đính chính hay thu hồi GCNQSDĐ số U
623070 của ông Đ và bà C, cũng như thu hồi GCNQSDĐ số BH 701115 của bà H
được. vậy, để vợ chồng ông Đ H căn cứ làm thủ tục đề nghị quan
chức năng cấp lại GCNQSDĐ mới cho đúng với diện tích, hình thể và chỉ số các
cạnh của đất các ông này đã nhận tặng cho, nhận chuyển nhượng đang sử
dụng, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện yêu cầu độc lập
8
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các yêu cầu này đã được người bị kiện
thống nhất đồng ý, tuyên hủy một phần GCNQSDĐ số U 623070 của UBND
huyện K liên quan đến thửa đất số 109 của ông Đ C; tuyên hủy GCNQSDĐ
số BH 701115 của bà H; sau khi Tòa án tuyên hủy thì các ông bà này có quyền liên
hệ với UBND xã K, tỉnh Gia Lai, Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh K và các cơ
quan chức năng liên quan để làm thủ tục cấp lại GCNQSDĐ mới cho đúng với
vị trí, diện tích, hình thể và chỉ số cạnh của các thửa đất này trên thực tế.
Về án phí HCST: Theo quy định thì người khởi kiện phải chịu án phí nhưng
trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đã tự nguyện chịu toàn bộ án phí HCST, xét việc tự nguyện này đúng
pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Về chi phí XX, TĐTC: Quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự nguyện chịu toàn bộ chi phí XX, TĐTC; xét
việc tự nguyện này là đúng pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào các Điều 3, 30, 80, 81, 82, 88, 95; các Điều 157, 158, 168, 194,
204, 205, 206, 356, 357 và 358 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
- Căn cứ o khoản 3 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025;
- Căn cứ vào Điều 152 của Luật đất đai năm 2024;
- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận u cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình Đ Lê Thị C,
tuyên hủy một phần GCNQSDĐ sU 623070 ngày 31/12/2001 của UBND huyện
K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp có liên quan đến thửa đất số 109, tờ bản đồ số 58.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của Đặng Thị H, tuyên hủy GCNQSDĐ số
BH 701115 ngày 21/11/2011 của UBND huyện K, tỉnh Gia Lai (trước đây) cấp.
Ông Đ bà C quyền liên hvới UBND K, tỉnh Gia Lai; Văn phòng
ĐKĐĐ tỉnh G chi nhánh K c quan chức năng liên quan để làm thủ tục
cấp lại GCNQSDĐ mới đối với thửa đất số 109 cho đúng vị trí, diện tích, hình thể
và chỉ số cạnh của thửa đất này trên thực tế.
H quyền liên hệ với UBND xã K, tỉnh Gia Lai; Văn phòng ĐKĐĐ
tỉnh G chi nhánh K và các quan chức năng liên quan để làm thủ tục cấp lại
GCNQSDĐ mới cho đúng vị trí, diện tích, nh thể chỉ số cạnh của thửa đất
đang sử dụng.
Về án phí: Ông Nguyễn Đình Đ Thị C phải chịu 300.000 đồng án
phí HCST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo
Biên lai thu tiền tạm ứng phí, lphí Toà án số 0004111 ngày 23/4/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Gia Lai; ông bà đã nộp đủ án phí HCST.
Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí HCST nhưng được trừ vào số
tiền tạm ng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng phí, l
9
phí Toà án số 0004175 ngày 24/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; bà đã
nộp đủ án phí HCST.
Về chi phí XX, TĐTC: Ông Nguyễn Đình Đ Thị C phải chịu một
nửa chi phí XX, TĐTC 2.800.000 đồng; ông đã nộp đủ số tiền này trong quá
trình giải quyết vụ án.
Đặng Thị H phải chịu một nửa chi phí XX, TĐTC 2.800.000 đồng;
đã nộp đủ số tiền này trong quá trình giải quyết vụ án.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm
yết theo quy định của pháp luật, các đương sự quyền làm đơn kháng cáo để yêu
cầu TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TAND tỉnh Gia Lai. THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKSND khu vực 14-Gia Lai.
-Phòng THADS khu vực 14-Gia Lai.
-Các đương sự.
- Lưu HSVA, VPTA.
Lê Văn Nguyên
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 05/2026/HC-ST Bản án số 05/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/HC-ST Bản án số 05/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất