Bản án số 19/2026/HS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Lai Châu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 19/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 19/2026/HS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Lai Châu
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lai Châu
Số hiệu: 19/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: chấp nhận kháng nghị tăng thêm 06 tháng tù. Từ 03 năm 03 tháng thành 03 năm 09 tháng tù
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 19/2026/HS-PT Bản án số 19/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 19/2026/HS-PT Bản án số 19/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 19/2026/HS-PT
Ngày: 10/9/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giang Thị Vượng
Các Thẩm phán: - Ông Vũ Đức Long
- Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên toà: Nguyễn Thị Ánh Tuyết - Thư ký, Toà án nhân dân
tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên t:
Ông Lê Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở TAND tỉnh Lai Châu xét x
phúc thẩm công khai
vụ án hình sự phúc thẩm
thụ lý số: 26/2026/TLPT-HS ngày
17 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Chim Văn N do có kháng nghị của Vin kim
sát nhân dân khu vc 4 Lai Châu đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:
141/2026/HS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực Châu.
* Bị cáo bị kháng nghị:
1. Họ và tên: Chim Văn N (tên gọi khác: Không), S ngày 30/9/1992 tại
B, tỉnh Lai Châu. Số CCCD: ************, cấp ngày 09/8/2021, Nơi cấp: Cục
C Bộ C1; Nơi ĐKHKTT: Bn N, xã B, tnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động
tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn M, sinh năm 1966 và con bà Lù Thị H, sinh
năm 1966; vợ Nguyễn Thị M1, sinh năm 1996; bị cáo 02 con, con lớn
nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo
bị tạm giữ từ ngày 23/03/2026 đến ngày 26/3/2026chuyển tạm giam tại Phân trại
tạm giam Mường Tè thuộc trại Tạm giam Công an tỉnh L cho đến ngày (Có mặt
tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 sáng ngày 23/3/2026, Chim Văn N điều khiển xe mô tô
biển kiểm soát 25M1-130.36, nhãn hiệu HONDA Wave 110, màu trắng, đen, bạc
của mình đi từ nhà tại bản N, B, tỉnh Lai Châu đi lên bản Đầu Nậm Xả, B
đi tìm mua Heroine sử dụng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày Chim V đến bản Đầu
Nậm Xả, B, tỉnh Lai Châu. Tại đây, gặp một người đàn ông dân tộc La Hủ
(không nhân thân, lai lịch), nhờ người đàn ông này đi mua Heroine với số
tiền 1.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền từ Ngọp người đàn ông đi bộ vào trong
bản, được khoảng 10 phút sau thì quay lại và đưa cho N 01 gói Heroine được gói
bằng nilon màu xanh. Nhận được gói H1, N cất giấu vào trong túi áo ngực bên
phải đang mặc trên người, điều khiển xe đi vnhà tại bản Hừ 2,
B.Vào hồi 10 giờ 30 phút, cùng ngày khi N đi đến bản N, B thì gặp Tổ công
tác Công an xã B phát hiện, bắt quả tang thu giữ gói Heroine trên và 01 xe
tô. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời
thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số: 285/KL-KTHS, ngày 25/3/2026 của Phòng
thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận:
“Số chất bột, màu trắng thu giữ của Chim V khối lượng 3,28g ( phẩy
hai mươi tám gam);
Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Chim Văn N gửi giám định là ma túy,
loại: Heroine (Heroin)."
Tại Bản án hình sự thẩm số: 141/2026/HS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực Châu đã quyết định: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều
249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, 2 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bcáo
Chim Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý", xphạt bị cáo Chim Văn
N 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày
23/03/2026. Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình
phạt bổ sung đối với bị cáo Chim Văn N, ngoài ra bản án thẩm còn tuyên v
xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan theo quy định.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực Châu Quyết
định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-KV4 với nội dung: Kháng nghị một phần Bản
án hình sự thẩm số 141/2026/HS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực Châu về quyết định hình phạt đối với bị cáo Chim Văn N. Đề
nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa Bản
án sơ thẩm theo hướng tăng mức hình phạt đối với bị cáo Chim Văn N.
3
Tại phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu giữ nguyên
nội dung kháng nghị. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu trình bày
quan điểm giải quyết vụ án: Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 4 – Lai Châu với bản án số: 141/2026/HS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực Châu. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất hành vi
phạm tội, nhân thân, cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo,
thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Chim Văn N phạm tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp
luật. Tuy nhiên, căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo
Chim Văn N xét thấy mức án bản án thẩm đã tuyên đối với bị cáo N chưa
tương xứng với hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không đảm bảo
tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung cụ thể: Bị cáo tình tiết giảm nhẹ
theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân
bị cáo là người nghiện chất ma túy từ năm 2024. Khi bị bắt ngày 23/3/2026, qua
thử chất ma túy bị cáo N dương tính với chất ma túy (MOP). Bên cạnh đó nơi bị
cáo sinh sống địa bàn trọng điểm về vi phạm, tội phạm về ma túy, trong thời
gian qua các cơ quan chức năng đã tích cực tuyên truyền, đấu tranh phòng chống
vi phạm, tội phạm về ma túy tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn còn phức
tạp xảy ra nhiều và chưa chiều hướng giảm. Hành vi phạm tội của bị cáo gây
cản trở cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, ảnh hưởng đến tình hình an ninh
trật tự tại địa phương, khối lượng Heroine bị cáo Chim Văn N tàng trữ 3,28
gam mục đích để sử dụng điều đó cho thấy bị cáo tàng trữ khối lượng ma túy này
để sdụng lâu dài qua đó cho thấy hậu quả hành vi phạm tội là lớn nếu không
kịp thời được phát hiện, ngăn chặn. Bên cạnh đó tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ
luật Hình sự quy định tàng trữ khối lượng Heroine từ 0,1 gam đến 05 có mức hình
phạt từ 03 năm đến 05 năm tù. Như vậy khối lượng Heroine 3,28 gam mà bị cáo
tàng trữ tương đương 65,6% của 05 gam cùng với đó cũng tương đương 65,6%
của mức hình phạt 05 năm tù. Với mức hình phạt 03 năm 03 tháng tù mà bản án
thẩm đã tuyên đối với bị cáo Chim Văn N chưa đảm bảo tính trừng trị, răn
đe, giáo dục, phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm cũng như việc tuân thủ quy
định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tỉnh Lai Châu đề nghị HĐXX phúc
thẩm áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, sửa Bản án thẩm số:
141/2026/HS-ST ngày 09/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lai Châu theo
hướng tăng hình phạt. Đề nghị áp dụng Điều 38, Điều 50; Điểm s khoản 1,2 Điều
51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Chim V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy”. Xử phạt bị cáo Chim V từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Bị cáo Chim Văn N trình bày ý kiến: Nhất trí với Kháng nghị của Viện
kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
4
Lời nói sau cùng của bcáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ snội dụng vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được tranh
tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các quan tiến hành tố tụng cấp thẩm
đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bluật tụng
hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lai Châu
Quyết định kháng nghị nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung vụ án và nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 4 - Lai Châu, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng
xét xử thấy: Bản án thẩm đã xác định bị cáo Chim Văn N có hành vi tàng trữ
trái phép 3,28 gam Heroine, phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bluật Hình sự là căn cứ, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm cũng đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sđối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bluật Hình sự xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù.Tuy nhiên, xét tính chất,
mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, khối lượng chất ma túy bị
cáo tàng trữ 3,28 gam, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249
Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù, thì mức hình phạt
03 năm 03 tháng tù mà cấp thẩm áp dụng là chưa thật sự tương xứng với tính
chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 4 - Lai Châu về việc tăng hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ
cần được chấp nhận.Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy
cần đánh giá toàn diện không chỉ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội còn phải xem xét nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình scũng như mục đích của hình phạt. Bị cáo người dân tộc
thiểu số, sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên
điều kiện tiếp cận, nhận thức về hội pháp luật còn những hạn chế nhất
định. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải xin được giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, ông
nội của bị cáo có tham gia cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương
Kháng chiến hạng Nhì, tình tiết được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự. Vì vậy, mặc dù cần tăng hình phạt so với mức án cấp sơ thẩm đã
tuyên để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng cũng cần cân nhắc mức
hình phạt phù hợp với nhân thân, hoàn cảnh và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo,
bảo đảm nguyên tắc thể hóa hình phạt, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật
5
hình sự.Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai
Châu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 4 - Lai Châu đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm
. Mặc dù mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa thấp hơn mức hình
phạt mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu đề nghị khi tại phiên tòa sơ
thẩm, nhưng Hội đồng xét xử xét thấy sự khác nhau này không làm thay đổi nội
dung căn cứ của kháng nghị. Bởi lẽ, kháng nghị xác định cần thiết phải tăng
hình phạt đối với bị cáo so với mức án 03 năm 03 tháng của bản án thẩm,
còn việc xác định mức hình phạt cụ thể phải căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận
tại phiên tòa phúc thẩm và đánh giá toàn diện các tình tiết của vụ án, nhân thân bị
cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã tiếp tục khẳng định sự cần
thiết phải tăng hình phạt đối với bị cáo, đồng thời đã cân nhắc đầy đủ hơn các tình
tiết giảm nhẹ, nhân thân hoàn cảnh của bị cáo để đề xuất mức hình phạt phù
hợp.Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt 03 năm 09 tháng đủ nghiêm để giáo
dục, cải tạo bị cáo, bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa chung, đồng thời vẫn thể
hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội
nhiều tình tiết giảm nhẹ. Mức án này cao hơn mức hình phạt cấp thẩm đã tuyên
06 tháng, nhưng chưa đến mức quá nghiêm khắc như mức hình phạt cao nhất
trong phạm vi Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Đây là mức hình phạt phù hợp,
tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các đặc điểm về nhân thân,
hoàn cảnh của bị cáo. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác
định Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-KV4 ngày 20/7/2026 của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Chim Văn
N là có căn cứ, cần chấp nhận; quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Lai Châu tại phiên tòa phúc thẩm về việc chấp nhận kháng nghị và đề
nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm cũng căn cứ cần chấp
nhận. Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt, xử phạt bị
cáo Chim Văn N 03 năm 09 tháng tù.
[3] Các quyết định khác của bản án hình sự thẩm không kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 136 B luật Tố tụng hình
sự điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp,
quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật
tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực C. Sửa
một phần bản án số: 141/2026/HS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực Châu như sau:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bcáo Chim Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Chim Văn N 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tính từ
ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 23/03/2026.
2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2026/HS-ST ngày 09
tháng 7 năm 2026 ca Tòa án nhân dân khu vực Châu không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bn án
phúc thm có hiu lc thi hành k t ngày tuyên án 10/9/2026./.
Nơi nhận:
- VKSND tnh Lai Châu;
- TAND Khu vc 4- lai Châu;
- VKSND Khu vc 4- Lai Châu;
- Tri tm giam CA tnh Lai Châu;
- PV06; PC10 CA tnh;
- Phòng THADS Kv 4- Lai Châu;
- CQTHAHS Công an tnh Lai Châu;
- B cáo;
- Lưu HSVA, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Giang Th ng
7
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- TAND Khu vực 4 – Lai Châu;
- VKSND Khu vực 4 – Lai Châu;
- Chi cục THADS Khu vực 4 – Lai Châu;
- Bị cáo;
- Lưu HSVA.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 19/2026/HS-PT Bản án số 19/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 19/2026/HS-PT Bản án số 19/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất