Bản án số 71/2024/DS-PT ngày 19/09/2024 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 71/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 71/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 71/2024/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 71/2024/DS-PT ngày 19/09/2024 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ninh |
Số hiệu: | 71/2024/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 19/09/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Huỷ bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước
Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Thanh
ông Nguyễn Hồng Ánh
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ninh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm
sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2024/TLPT-DS ngày
01/8/2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 20/6/2024 của Toà án
nhân dân thành phố Hạ Long bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐ-PT ngày 19/8/2024;
Thông báo về việc chuyển lịch xét xử số 190 /TB-TA ngày 26/8/2024; Thông
báo về việc chuyển lịch xét xử số 201/TB-TA ngày 06/9/2024 giữa các đương
sự:
*Nguyên đơn: Bà Đào Thị L, sinh năm 1929. Nơi cư trú: tổ C, khu D,
phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền: anh Trần Việt H, sinh năm 1997. Nơi cư
trú: Tổ B khu E phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
* Bị đơn: Văn phòng C, tỉnh Quảng Ninh. Địa chỉ: số D N, phường H,
thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn
Hồng T - chức vụ: trưởng văn phòng
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 71 /2024/DS-PT
Ngày: 19/9/2024
“ Tranh chấp về yêu cầu tuyên
bố văn bản công chứng vô
hiệu”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người đại diện theo uỷ quyền:
- Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Văn phòng C, số D N,
phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt
- Ông Tạ Anh T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: tổ dân phố G, phường X, quận
N, thành phố Hà Nội. Có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Tạ Anh T1 -
Luật sư thuộc Công ty L2 – Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trịnh Minh H1 – sinh năm 1980. Địa chỉ: tổ B khu B phường H,
thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt
Người đại diện theo uỷ quyền của ông H1:
- Ông Bùi Việt H2, sinh năm 1975. Địa chỉ: số A ngách B phố K, phường
K, quận T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Bà Vũ Thị H3, sinh năm 1975. Địa chỉ: tổ dân phố H, phường C, quận
N, thành phố Hà Nội. Có mặt
- Ông Nguyễn Hồng T – Công chứng viên Văn phòng C. Địa chỉ: Văn
phòng C, số D N, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Hồng T: Ông Tạ Anh T1,
sinh năm 1973. Địa chỉ: tổ dân phố G, phường X, quận N, thành phố Hà Nội. Có
mặt
*Những người làm chứng:
- Ông Trịnh Minh Đ, địa chỉ: tổ C khu D phường H, thành phố H,Quảng
Ninh. Có mặt
- Bà Lương Thị N1, địa chỉ: tổ C khu D phường H, thành phố H, Quảng
Ninh. Vắng mặt.
- Ông Ngô Văn P, địa chỉ: tổ C khu D phường H, thành phố H, Quảng
Ninh. Vắng mặth
- Ông Nguyễn Hồng Q, địa chỉ: tổ C khu D phường H, thành phố H,
Quảng Ninh. Vắng mặt.
* Người kháng cáo: bị đơn Văn phòng C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan ông Trịnh Minh H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, các lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đào Thị
L và người đại diện theo uỷ quyền trình bày: bà Đào Thị L là chủ sử dụng thửa
3
đất số 13, tờ bản đồ số 51, diện tích 1027,9m2 đất tại địa chỉ tổ C, khu D,
phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AD 768510 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 04/11/2005 mang
tên Đào Thị L. Nguồn gốc thửa đất do vợ chồng bà L khai phá, xây dựng nhà
cấp 4 ở từ năm 1976. Năm 1989, chồng bà là ông Trịnh Minh T2 chết. Năm
2005, bà được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Hiện tại bà L vẫn đang ở, quản lý sử dụng nhà đất từ năm 1976 cho
đến nay. Năm 2018, Ủy ban nhân dân phường H có chính sách hỗ trợ tiền sửa
chữa nhà ở do ảnh hưởng của bão lụt, lúc này bà mới phát hiện Giấy chứng nhận
QSD đất của bà đã đăng ký biến động sang tên anh Trịnh Minh H1 (Là con trai
út của bà L). Nhiều lần đòi bìa đỏ không được bà đã làm đơn gửi ra UBND
phường H giải quyết. Tại UBND phường H, anh H1 cho rằng năm 2011 bà đã
làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất trên cho anh H1 tại Văn phòng C. Mặc
dù bà đã cao tuổi nhưng vẫn minh mẫn và khẳng định bà chưa quyết định hay
bàn bạc tặng cho nhà đất của mình cho ai và cũng chưa từng đến văn phòng
công chứng để sang tên nhà đất cho anh H1. Bản thân bà từ nhỏ không được đi
học, không biết chữ, không biết đọc, không biết viết, chỉ viết được họ tên của
mình. Năm 2018 do nhà cửa xuống cấp trầm trọng, các con bà (không có anh
Trịnh Minh H1) đã góp tiền xây dựng, sửa chữa nhà ở cấp 4 cho bà ở từ đó cho
đến nay. Anh Trịnh Minh H1 không có ý kiến gì về việc xây dựng, sửa chữa nhà
ở của bà. Hiện tại, quyền lợi của bà bị xâm phạm, từ chủ sử dụng đất nay bà
không còn quyền lợi gì đối với thửa đất nêu trên nữa nên bà khởi kiện đến Tòa
án nhân dân thành phố Hạ Long, yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất số 305, quyển số 07 TP/CC – SCC/HĐGD ngày 20/7/2011 của Văn
phòng C ký kết giữa bà Đào Thị L với anh Trịnh Minh H1 là vô hiệu và không
yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả pháp lý của văn bản công chứng bị tuyên bố
vô hiệu.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày: Ngày 20/7/2011 Văn
phòng C chứng nhận hợp đồng tặng cho số 305 giữa bà Đào Thị L với ông Trịnh
Minh H1 theo đúng trình tự, thủ tục công chứng hợp đồng quy định tại Luật
công chứng năm 2006. Khi yêu cầu công chứng các bên đều có mặt tại Văn
phòng C và cung cấp các giấy tờ tài liệu gồm: chứng minh nhân dân, hộ khẩu
của hai bên, xác nhận độc thân của bà L, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
giấy khai sinh của ông H1. Sau khi kiểm tra các giấy tờ gốc, nhân viên phòng
4
công chứng, Công chứng viên đã soạn thảo hợp đồng và đề nghị các bên đọc lại
hợp đồng, sau đó Công chứng viên đã đọc lại hợp đồng cho các bên nghe, giải
thích quyền nghĩa vụ, hậu quả pháp lý của việc giao kết hợp đồng này. Hai bên
đã đồng ý ký tên, bà L còn điểm chỉ vào hợp đồng trong tình trạng hoàn toàn tự
nguyện, minh mẫn, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và không bị ai ép buộc.
Hợp đồng đã có hiệu lực kể từ ngày 20/7/2011 và có hiệu lực thi hành đối với
các bên liên quan, có giá trị chứng cứ, không phải chứng minh. Văn phòng C
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại Đơn yêu cầu phản tố
ngày 24/7/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm, Bị đơn đề nghị Toà án áp dụng thời
hiệu, căn cứ điều 136 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố
giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm. Đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2023 của
nguyên đơn đã thể hiện năm 2017 bà L đã biết việc giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã sang tên con trai Trịnh Minh H1. Đến ngày 20/3/2023 bà L mới
khởi kiện đến Toà án là quá thời hiệu khởi kiện là 02 năm, đề nghị Toà án áp
dụng thời hiệu khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm e
khoản 1 điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng T có quan
điểm cơ bản phù hợp với lời trình bày của bị đơn Văn phòng C, đề nghị không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị L. Tại Đơn yêu cầu
độc lập ngày 24/7/2023 và tại phiên tòa, đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn
Hồng T đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án
theo quy định tại điểm e khoản 1 điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Minh H1 trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị L vì mẹ ông là bà Đào
Thị L tặng cho ông quyền sử dụng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 51 tại địa chỉ tổ
C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đúng ý chí của mẹ ông, hai
mẹ con trực tiếp ra Văn phòng C làm thủ tục, được chị nhân viên văn phòng C
hướng dẫn và trực tiếp làm hợp đồng tặng cho, hướng dẫn ông và bà L ký và
điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt Công chứng viên Nguyễn Hồng T. Quá trình
làm hợp đồng tặng cho chỉ có ông, bà L, công chứng viên và nhân viên văn
phòng C, không có người làm chứng. Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 07/7/2023,
đơn bổ sung yêu cầu độc lập ngày 07/8/2023 và tại phiên tòa, ông Trịnh Minh
H1 có cùng quan điểm với Bị đơn và ông Nguyễn Hồng T đề nghị Toà án áp
dụng thời hiệu, căn cứ điều 136 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu yêu cầu Toà án
5
tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu đã hết, đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu khởi
kiện và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm e khoản 1 điều 217 Bộ
luật tố tụng dân sự 2015.
Tại biên bản lấy lời khai (bút lục 77,78) ông Trịnh Minh H1 khai: Mẹ tôi
không biết chữ, không biết đọc không biết viết, chỉ biết viết mỗi tên của mình.
Chị nhân viên đã đọc lại hợp đồng và tôi cũng đọc lại Hợp đồng cho mẹ tôi
nghe. Trước thời điểm làm hợp đồng này khoảng một năm, mẹ tôi đã tuyên bố
cho tôi quyền sử dụng đất có mặt của anh Trịnh Minh Đ, chị Trịnh Thị X, anh
Trịnh Minh H4, chị Trịnh Thị N2 (hiện sinh sống tại Đài Loan) chứng kiến,
không ai có ý kiến gì. Mẹ tôi nói ngôi nhà xây năm 2018 là không đúng vì thực
tế nhà xây dựng năm 2014, khi anh Đ xây tôi không ngăn cản mà chỉ nói anh Đ
xây nhà không đúng thiết kế, không đúng hướng nhà cũ và tôi cũng để anh Đ
xây, vì nhà xây cho mẹ tôi ở nên cứ để theo ý mẹ tôi.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 20/6/2024 của Toà án
nhân dân thành phố Hạ Long tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà Đào Thị L về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
Tuyên bố: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 305, quyển số 07 TP/CC –
SCC/HĐGD ngày 20/7/2011 của Văn phòng C ký kết giữa bên tặng cho là bà
Đào Thị L với bên được tặng cho là ông Trịnh Minh H1 là vô hiệu. Không giải
quyết hậu quả pháp lý của Hợp đồng tặng cho bị vô hiệu.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 26/6/2024, ngày 02/7/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
ông Trịnh Minh H1 và ngày 04/7/2024, bị đơn Văn phòng C có đơn kháng cáo
đối với bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 20/6/2024 của Toà án
nhân dân thành phố Hạ Long.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và
tuyên hợp đồng tặng cho vô hiệu; người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung
kháng cáo và không thoả thuận giải quyết được với nhau nội dung vụ án. Đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn và anh H1 thống nhất nội dung về nguồn
gốc quyền sử dụng đất có nguồn gốc do bà L và chồng bà L (Trịnh Minh T2)
khai phá từ khoảng năm 1976, khi ông T2 chết không để lại di chúc.
6
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung
đã trình bày và thừa nhận chữ ký, chữ viết tên và điểm chỉ là của bà L nhưng
không thừa nhận nội dung bà L cho tặng quyền sử dụng đất cho anh H1; khi ký
Hợp đồng tặng cho thì không có người làm chứng. Quá trình làm thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L chưa thực hiện thủ tục phân chia di sản
thừa kế của ông T2 đối với những người thừa kế, các thủ tục cấp giấy chứng
nhận do bà L thực hiện nhưng hiện tại không cung cấp được chứng cứ do Toà án
cấp sơ thẩm không có yêu cầu.
Đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị
đơn vẫn giữ nguyên nội dung đã trình bày và khẳng định đủ cơ sở xác định bà L
ký hợp đồng tặng cho tại Văn phòng C là đúng trình tự thủ tục và đúng ý chí, tự
nguyện nên có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra còn trình bày quan điểm tòa án cấp
sơ thẩm có những vi phạm sau: tại đơn khởi kiện bổ sung thì nguyên đơn có yêu
cầu khởi kiện bổ sung đề nghị tuyên bố hợp đồng tặng cho giữa bà L và anh H1
vô hiệu nhưng bản án tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là vượt quá phạm vi khởi kiện của
nguyên đơn; Bản án sơ thẩm cho rằng V đã vi phạm điều 9 Luật công chứng
2006 vì bà L không biết viết không biết đọc không biết chữ thuộc trường hợp vi
phạm điều cấm của luật là áp dụng sai pháp luật; bản án sơ thẩm cho rằng vì
hợp đồng vi phạm điều cấm của Luật nên không áp dụng thời hiệu là không
đúng quy định. Từ đó đề nghị huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
do đã hết thời hiệu khởi kiện.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Minh H1 vẫn giữ
nguyên quan điểm đã trình bày và thống nhất với nội dung trình bày của bị đơn.
Khi bà L làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chưa làm thủ
tục phân chia di sản thừa kế đối với phần di sản của ông T2. Thời điểm ký hợp
đồng tặng cho thì bà L hoàn toàn minh mẫn. Sau khi ký hợp đồng tặng cho thì
anh đã được nhận bàn giao nhà và đất từ bà L, anh H1 đã làm thủ tục đăng ký
biến động sang tên anh, tuy nhiên anh vẫn tiếp tục để bà L sinh sống tại thửa đất
trên. Trước đây anh có khai bà L không biết đọc, không biết chữ là do nhầm
lẫn, anh khẳng định mẹ anh có thể đọc và viết và đề nghị Toà án không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện theo ủy quyền của anh H1 có quan điểm đồng ý với quan điểm
của bị đơn, anh H1 và bổ sung các nội dung sau: đề nghị hội đồng xét xử xem
7
xét lại kết quả giải quyết tố cáo thẩm phán Đặng Mai L1; việc tòa án cấp sơ
thẩm không thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; cấp sơ thẩm chưa xác định và xác định
không đúng tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án; cấp sơ thẩm đã vi phạm
nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, vi phạm tố tụng trong việc lập biên bản
làm việc ngày 15/4/2024 tác động định hướng làm sai lệch bản chất của vụ án;
Bà Phan Thị Kim N3 là hòa giải viên lại thay mặt toà án giải thích quyền và
nghĩa vụ cho đương sự là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Người làm chứng anh Trịnh Minh Đ có quan điểm: bà L là người không
biết chữ, không biết đọc, chỉ biết ký và viết tên mình, sau khi ông T2 chết thì gia
đình anh chưa làm thủ tục phân chia di sản thừa kế nhưng anh có hỗ trợ bà L
làm các thủ tục liên quan khi bà L xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà L chưa bao giờ tặng cho nhà đất cho anh H1 và không có việc bàn giao đất
cho anh H1. Năm 2018 các anh em trong gia đình đã xây nhà cho bà L tại thửa
đất trên. Anh Đ không cung cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời
khai của minh.
Tranh luận: các đương sự trình bày quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình như đã trình bày tại phiên toà.
Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng, đã thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: đề nghị hội đồng xét xử tạm
ngừng phiên toà để thu thập thêm tài liệu chứng cứ .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn Văn phòng C và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Minh H1 được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và
trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm
theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung
kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xét thấy:
Về nguồn gốc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất: Căn cứ lời khai của
nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Minh H1 đều xác
định có nguồn gốc do bà L và chồng bà L khai phá từ năm 1976 có diện tích
1027,9m
2
thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 51 tại địa chỉ tổ C, khu D, phường H,
thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, trên đất có nhà cấp 4. Năm 1986, chồng bà L chết
8
không để lại di chúc, đến năm 2005 bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên bà L và được bà L trực tiếp quản lý sử dụng cho đến nay.
Về căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của bà L: Căn cứ các chứng cứ có
trong hồ sơ cũng như lời khai của nguyên đơn và ông H1, ông Đ thể hiện nhà đất
và tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng bà L nhưng năm 1986 chồng bà
L chết không để lại di chúc đến năm 2005 bà L được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nhưng cấp sơ thẩm chưa yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ làm rõ
căn cứ xác lập quyền sử dụng đất (chia thừa kế, tặng cho…) của bà L đối với toàn
bộ diện tích đất nêu trên, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng để xác
định bà L có quyền của người sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất trên hay
không.
Về hợp đồng cho tặng: Căn cứ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số
công chứng 305, quyền số 07 TP/CC-SCC/HĐGD được giao kết giữa bên tặng
cho là bà Đào Thị L, bên được tặng cho là ông Trịnh Minh H1 đã được Văn
phòng C chứng nhận ngày 20/7/2011 thể hiện quyền sử dụng đất tặng cho theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 768510 (số vào sổ 19809) do UBND
thành phố H cấp ngày 04/11/2005 mang tên bà Đào Thị L, thuộc thửa đất số 13,
tờ bản đồ số 51, địa chỉ thửa đất: tổ C khu D phường H, thành phố H, tỉnh Quảng
Ninh, có diện tích 1027.9m
2
, hợp đồng có chữ ký của bà L (chữ ký và họ tên đầy
đủ, điểm chỉ), thời điểm này bà L khoẻ mạnh minh mẫn có đủ năng lực hành vi.
Nguyên đơn thừa nhận chữ ký, điểm chỉ và chữ viết họ tên dưới chữ ký là
của mình nhưng cho rằng mình không biết đọc, chữ ký, việc ký được thực hiện
trong tình trạng bị người khác cầm tay ký mà không biết nội dung văn bản được
ký là gì. Nguyên đơn chưa đưa ra được căn cứ bị ép buộc và bản thân nguyên đơn
cũng khai thời điểm đó mặc dù tuổi cao nhưng vẫn còn minh mẫn và chưa cho
tặng nhà đất cho ai. Ngoài ra nguyên đơn còn chứng minh mình không biết chữ
thông qua xác nhận của tổ trưởng và người hàng xóm cũng như lời khai anh Đ
khai bà L không biết chữ nhưng những người này chưa đưa ra được chứng cứ
chứng minh việc bà L không biết chữ, không đọc được để làm căn cứ cho lời khai
của mình là có cơ sở nên chưa đầy đủ cơ sở vững chắc để xác định bà L là người
không đọc được.
Về phía bị đơn cũng cho rằng bà L ký, viết họ tên tại hợp đồng, chữ ký tại
giấy ra viện và khẳng định bà L đọc được nhưng cũng không đưa ra được chứng
cứ chứng minh ngoài việc bà L ký tên và viết họ tên thì bà L có đọc được văn bản
9
công chứng hay không, tại văn bản công chứng lại có nội dung “các bên giao kết
đã đọc lại hợp đồng này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng trước sự
có mặt của công chứng viên” trong khi các lời khai của bị đơn khai bà L được
Công chứng viên đã đọc lại hợp đồng cho người giao kết hợp đồng nghe và ký
tên, tại hợp đồng thì không có nội dung về việc các bên được nghe công chứng
viên đọc lại hợp đồng. Như vậy, giữa lời khai của công chứng viên, anh H1,
người làm chứng và lời chứng là chưa thống nhất. Tại phiên toà phúc thẩm, đại
diện theo uỷ quyền của bị đơn cho rằng toàn bộ nội dung của hợp đồng tặng cho
đã được công chứng viên đọc lại cho những người tham gia công chứng nghe
theo quy định nhưng nội dung phần lời chứng là thực hiện theo biểu mẫu của
Luật công chứng năm 2006 nên không có nội dung người tham gia công chứng
được nghe đọc lại nhưng không có chứng cứ chứng minh cho bà L đọc được hợp
đồng khi ký kết cũng như đọc lại cho bà L nghe.
Với những chứng cứ trong hồ sơ như trên là chưa đầy đủ cơ sở vững chắc
để chứng minh bà L đọc được hoặc không đọc được khi ký hợp đồng, để chứng
minh việc thể hiện ý chí của bà L khi ký kết hợp đồng. Trong vụ án này cần phải
thu thập bổ sung chứng cứ về các giao dịch mà bà L đã tham gia trước hoặc sau
khi ký hợp đồng để có cơ sở chứng minh cho việc bà L đọc được hay không đọc
được và ý chí của bà L khi ký kết hợp đồng. Theo lời khai của nguyên đơn, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà L chưa làm thủ tục phân chia di sản của ông
T2 nhưng đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần thu
thập bổ sung Văn bản phân chia di sản (nếu có), hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (Đơn xin xác nhận, tờ khai xác định mốc giới, biên bản xác định ranh
giới, đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005…) để xác định
khi bà L tham gia lập văn bản phân chia di sản (nếu có) bà L có biết chữ, đọc
được hay không; Tại thời điểm năm 2005 các đơn đề nghị, xác nhận… đều là
mẫu điền bằng chữ viết tay thì bà L có biết viết, biết đọc khi làm hồ sơ hay không
và có cần người làm chứng hay không. Ngoài ra người đại diện theo uỷ quyền của
anh H1 còn trình bày bà L đã tự làm thủ tục đăng ký khai tử cho ông T2, làm các
thủ tục đăng ký mở tài khoản ngân hàng… Đây là những tài liệu chứng cứ cần
thiết để xác định bà L ngoài lần ký hợp đồng cho tặng tại Văn phòng C thì trước
đó bà L có tham gia các giao dịch dân sự và có viết, có đọc các văn bản giao dịch
hay không, có cần người làm chứng hay không. Những chứng cứ này là cần thiết
10
cho việc giải quyết vụ án đúng đắn và khách quan nhưng tại phiên toà phúc thẩm
không thể bổ sung được.
Về đối tượng hợp đồng: như đã nhận định trên cho thấy cấp sơ thẩm chưa
thu thập đủ chứng cứ về việc bà L được phân chia di sản đối với diện tích đất cho
tặng nên chưa đủ chứng cứ để xác định việc bà L được cấp giấy chứng nhận là do
được chia thừa kế hay căn cứ khác. Tại Giấy chứng nhận xác định đất có nội
dung về nguồn gốc sử dụng đất “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như nhà
nước giao đất có thu tiền sử dụng đất” nên cần thiết phải thu thập chứng cứ để
chứng minh cho quyền sử dụng đất trên có đủ điều kiện cho tặng hay không mới
có cơ sở để đánh giá hiệu lực của hợp đồng một cách toàn diện.
Về việc thực hiện hợp đồng: phía người được tặng cho đã thực hiện đăng
ký biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa có căn cứ
chứng minh được nhận nhà và đất và thực tế cũng không sinh sống trên đất. Về
phía người tặng cho vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ giao tài sản tặng cho, người tặng
cho vẫn là người đang quản lý sử dụng đồng thời sau khi ký hợp đồng đến 2018
đã tiếp tục xây, sửa nhà và ở ổn định cho đến nay không có ai phản đối hoặc tranh
chấp và bà L không đồng ý cho tặng đối với anh H1 nữa. Về phía anh H1 chưa
đua ra được chứng cứ chứng minh đã được bà L giao đất cho mình trên thực tế.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tạm ngừng phiên toà để thu
thập tài liệu chứng cứ là không có căn cứ để chấp nhận.
Như vậy, HĐXX xét thấy cấp sơ thẩm xác định ngoài chữ ký tại hợp đồng
cho tặng thì không còn tài liệu nào để chứng minh bà L biết chữ và chỉ căn cứ vào
lời xác nhận của một số người làm chứng để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là chưa đầy đủ nên cần thiết phải huỷ bản án để thu thập bổ sung
thêm chứng cứ theo quy định mới có thể giải quyết được vụ án một cách toàn
diện, khách quan đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Do vậy, có cơ sở chấp
nhận một phần kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để
huỷ bản án sơ thẩm giao cho Toà án nhân dân thành phố Hạ Long giải quyết lại
theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
Các nội dung kháng cáo khác của đương sự kháng cáo do bản án bị huỷ vì
chưa đủ chứng cứ nên sẽ được giải quyết khi vụ án được giải quyết lại theo thủ
tục sơ thẩm trên cơ sở chứng cứ của vụ án.
[3] Về án phí: do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn Văn phòng C và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Minh H1 không phải chịu án
11
phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Về án phí sơ thẩm được giải quyết
theo quy định khi vụ án được giải quyết theo trình tự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310; Điều 313, khoản 1 Điều 148
Bộ luật tố tụng Dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Văn phòng C
và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Minh H1. Huỷ bản án sơ
thẩm.
Tuyên xử: Huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày
20/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh. Chuyển
hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Án phí: bị đơn Văn phòng C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
ông Trịnh Minh H1 không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp
luật.
Trả lại bị đơn Văn phòng C số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm
ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số
0001007 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long
tỉnh Quảng Ninh.
Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Minh H1 số tiền
300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001004 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh.
Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được xác định khi
giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- TAND thành phố Hạ Long;
- THA, VP;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐNG XT X
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tạ Duy Ước
12
13
14
Tải về
Bản án số 71/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án số 71/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/11/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 13/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 10/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 27/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 23/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 07/08/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 31/07/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 29/07/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 19/07/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 19/07/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 28/06/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 11/06/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 28/05/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 24/05/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 16/05/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 10/05/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm