Bản án số 51/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 51/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 51/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 51/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 51/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Thuận |
Số hiệu: | 51/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 19/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Dương Thái |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÌNH THUẬN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 51/2025/DS-PT
Ngày: 19/3/2025
V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thái Bình
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Mai Hân - Thư ký Tòa án nhân dân tnh
Bình Thun.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tnh Bnh Thun tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tnh Bình Thun,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sư thụ lý số 189/2024/TLPT-DS ngày 10
tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Do bản án dân sự sơ
thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện
Hàm Tân bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
259/2024/QĐ-PT, ngày 29 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số
183/2024/QĐ-PT, ngày 17 tháng 12 năm 2024, Thông báo mở lại phiên tòa số
25/2025/TB-TA ngày 05/3/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Dương Thái L, sinh năm 1977 (vắng mặt, có đơn xin
vắng)
Địa ch: Thôn B, xã T, huyện H, tnh Bình Thun.
Bị đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa ch: Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tnh Bình Thun.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hoàng Trung K, sinh năm
1960 (có mặt)
Địa ch: F đường T, phố P, phường N, thành phố N, tnh Ninh Bình
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ánh K1, sinh
2
năm 1983 (có mặt)
Địa ch: Thôn B, xã T, huyện H, tnh Bình Thun.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L và bà K1: Lut sư Võ
Đức T, sinh năm 1970 – Lut sư thuộc Văn phòng L2 – Đoàn Lut sư thành phố
H. Địa ch: B T, qun G, TP .. (có mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn Phạm Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện ngày 30/11/2023 và quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn ông Dương Thái L trình bày:
Ông được gia đình cho 01 diện tích đất tọa lạc tại thị trấn T, huyện H.
Trong quá trình sử dụng thì ông đã cho ông Dương Thái K2 mượn để vay vốn
Ngân hàng nên ông đã cho ông K2 đứng tên, năm 2021, ông K2 đã tách thửa và
sang tên lại cho ông diện tích đất 159,3m
2
, thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số
38, Giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số CP 537096 tọa lạc tại Khu phố B, thị
trấn T. Năm 2010, bà Phạm Thị D và ông Dương Thái P (là anh ruột ông L) kết
hôn với nhau nhưng gia đình không chấp nhn nên anh, chị bỏ đi ở nơi khác,
đến năm 2012, do P và bà D không có nhà ở nên vợ chồng ông có bỏ tiền ra để
xây dựng căn nhà trên đất đồng thời kêu vợ chồng anh P về và cho mượn căn
nhà để ở. Khi cho mượn thì có thỏa thun miệng là lúc nào cần thì ông P, bà D
phải trả lại nhà đất cho vợ chồng ông. Năm 2017, ông P chết nhưng vì tình cảm
nên ông chưa đòi lại nhà và đến năm 2023 thì ông có báo cho chị D về việc trả
lại căn nhà và đất thì chị D không trả lại nhà mà còn cho người khác thuê nhưng
không cho ông biết. Mặc dù ông đã nhiều lần yêu cầu chị D trả lại nhà và đất
nhưng chị D không những không trả mà còn đòi phải cho chị D khoảng
500.000.000đồng thì mới dọn đồ ra và trả nhà nhưng vì căn nhà và đất là của vợ
chồng ông và ông đã cho ở nhờ không lấy tiền mà còn phải trả tiền là hoàn toàn
vô lý nên ông không chấp nhn. Vì vy, ông yêu cầu chị D phải di dời toàn bộ
tài sản riêng của chị D để trả lại căn nhà và đất nêu trên cho vợ chồng ông.
Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị D trình bày: Bà Phạm Thị D là
vợ hợp pháp của anh Dương Thái P từ năm 2010. Sau khi kết hôn thì năm 2012
vợ chồng ông P, bà D đã cải tạo mặt bằng và xây dựng nhà trên đất và sinh sống
ổn định từ đó đến nay, năm 2013, ông P đã tự thỏa thun giao đất cho ông
Dương Thái K2 và ông K2 đã sang tên cho ông L nên diện tích đất này hiện nay
ông L là người sử dụng hợp pháp. Tuy nhiên trong quá trình sinh sống trên đất
thì bà D và ông P đã cải tạo san lấp mặt bằng, xây dựng căn nhà trên đất do vy
nếu ông L muốn lấy lại nhà và đất thì yêu cầu ông L phải thanh toán lại giá trị

3
tài sản trên đất và công sức đóng góp cho chị D một khoản tiền hợp lý để chị D
có cuộc sống ổn định.
Bị đơn bà Phạm Thị D trình bày: Đất là của ông L nên bà không tranh
chấp, tuy nhiên căn nhà là do bà đã bỏ tiền ra để xây dựng nên yêu cầu vợ chồng
ông L trả lại số tiền đã xây nhà là 500.000.000 đồng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ánh K1
trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông L, yêu cầu bà D phải di dời
tài sản riêng để trả lại căn nhà và diện tích đất đã cấp cho vợ chồng bà vì toàn bộ
tài sản là quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất là tài sản của vợ chồng bà tạo
lp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024,
Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tnh Bình Thun đã quyết định:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều
227 của BLTTDS; Điều 165, Điều 166 của Bộ lut dân sự; Điều 100, khoản 1
Điều 203 của Lut Đất đai năm 2013 điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thái L.
Buộc bà Phạm Thị D phải trả lại cho ông Dương Thái L và bà Nguyễn Thị
Ánh K1 căn nhà cấp 4a có diện tích 193,8m
2
và toàn bộ mái che khung sắt tiền
chế có diện tích 164,67m
2
găn liền với quyền sử dụng diện tích đất 159,3m
2
,
thửa đất số 174, tờ bản đồ số 38, đã được cấp Giấy chứng nhn quyền sử dụng
đất số CP 537096 cấp ngày 13/02/2020 đứng tên ông Dương Thái K2 đã cp
nht sang tên cho ông Dương Thái L ngày 17/5/2021. Bà Phạm Thị D được
quyền lưu trú căn nhà nêu trên cho đến ngày án có hiệu lực pháp lut. Hết thời
hạn trên bà Phạm Thị D phải giao lại nhà và đất nêu trên cho ông Dương Thái L
và bà nguyễn Thị Ánh K1 quản lý, sử dụng. (có mảnh trích đo hiện trạng khu
đất tranh chấp kèm theo)
Ông Dương Thái L và bà Nguyễn Thị Ánh K1 phải thanh toán cho bà
Phạm Thị D số tiền là 115.414.770đồng (Một trăm mười lăm triệu đồng bốn
trăm mười bốn nghìn bảy trăm bảy mươi đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo,
quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 29/8/2024, bị đơn Phạm Thị D kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm theo hướng buộc nguyên đơn thanh toán toàn bộ giá trị nhà, công trình trên
đất theo biên bản định giá của Tòa án. Ngày 13/9/2024, bị đơn có đơn kháng cáo
bổ sung, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện bị đơn đề nghị nếu bên nguyên đơn chấp nhn trả số tiền
500.000.000đ thì thỏa thun giao trả nhà, còn không thỏa thun được thì đề nghị
hủy án sơ thẩm.
- Nguyên đơn không chấp nhn yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Nguyên
đơn tự nguyên nâng mức hỗ trợ lên tròn 200.000.000đ để bà D giao trả nhà.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thư ký,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ lut Tố tụng dân
sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp lut. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng
xét xử giữ y án sơ thẩm về việc buộc bị đơn giao trả nhà đất, ghi nhn sự tự
nguyện của nguyên đơn về việc hỗ trợ thêm cho bị đơn thành tổng số tiền là
200.000.000đ. Đối với phần án phí sơ thẩm, cấp sơ thẩm tuyên buộc án phí trên
số tiền nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ cho bị đơn 100.000.000đ là không đúng, đề
nghị sửa phần án phí sơ thẩm, ch buộc án phí đối với số tiền 15.414.770đồng
nguyên đơn phải trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử nhn thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa
phúc thẩm. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Phạm Thị D về việc yêu cầu hủy án
sơ thẩm nếu không thỏa thun được số tiền đền bù là 500.000.000đ, Hội đồng
xét xử nhn thấy:
[2.1] Bà Phạm Thị D thừa nhn phần đất là của ông Dương Thái L, bà
không tranh chấp đất, ch yêu cầu trả giá trị phần căn nhà mà bà cho rằng bà và
ông P đã xây trên đất là 500.000.000đ.
Người bảo vệ quyền lợi cho bà D đề nghị hủy án sơ thẩm với các lý do
sau:
Thứ nhất: Người bảo vệ quyền lợi cho rằng Tòa án sơ thẩm đã thụ lý ngay
khi đương sự nộp đơn khởi kiện, trong cùng một ngày, là vi phạm. Hội đồng xét
xử nhn thấy việc tòa án cấp sơ thẩm thụ lý ngay là không sai quy định của Bộ
lut Tố tụng dân sự, khi có đủ điều kiện để thụ lý thì Tòa án thụ lý vụ án.
Thứ hai: Người bảo vệ quyền lợi cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa
Ngân hàng nhn thế chấp tài sản từ nguyên đơn vào tham gia tố tụng là vi phạm.
Hội đồng xét xử nhn thấy đây là vụ đòi lại tài sản. Bị đơn thừa nhn quyền sử
5
dụng đất của nguyên đơn, ch yêu cầu nguyên đơn trả giá trị nhà, là một phần
nhỏ so với giá trị quyền sử dụng đất. Trường hợp nguyên đơn phải trả giá trị nhà
cho bị đơn thì cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Nên việc
không đưa Ngân hàng vào không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Thứ ba: Người bảo vệ quyền lợi cho rằng cần phải làm rõ về nguồn gốc
đất. Hội đồng xét xử nhn thấy về nguồn gốc đất, do bà D đã thừa nhn là đất có
nguồn gốc của bên gia đình ông Dương Thái L, và hiện tại ông L là chủ sở hữu,
bà D không có tranh chấp về đất. Giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện là của ông
L. Do đó không cần thiết phải làm thêm về quyền sử dụng đất.
Thứ tư: Người bảo vệ quyền lợi cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý khi
chưa có hòa giải ở cơ sở là vi phạm. Hội đồng xét xử nhn thấy đấy là vụ án đòi
lại tài sản, không thuộc trường hợp phải hòa giải trước khi thụ lý.
Thứ năm: Người bảo vệ quyền lợi đề nghị làm rõ căn cứ về việc Phòng
Kinh tế hạ tầng huyện H trả lời liên quan đến việc xây dựng nhà của nguyên
đơn. Vấn đề này Tòa án cấp phúc thẩm đã dừng phiên tòa, có công văn yêu cầu
và đã có văn bản trả lời của Phòng Kinh tế hạ tầng huyện H kèm bản sao sổ lưu
thể hiện thời điểm 2011, ông L có nộp hồ sơ xin giấy phép xây dựng, phù hợp
với lời khai của ông về việc ông xây nhà thời điểm trên.
[2.2] Bà Phạm Thị D cho rằng vợ chồng bà xây nhà năm 2012 nhưng bà
không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh cho việc trên. Ông Dương Thái
P năm 2013 đã ký văn bản thỏa thun chia tài sản chung, đồng ý giao quyền sử
dụng đất chung của ông P, ông L và ông K2 cho ông Dương Thái K2. Ông P khi
giao quyền sử dụng đất trên chính là phần đất có căn nhà mà ông P và bà D đang
ở nhưng ông P vẫn giao, nên không có căn cứ xác định căn nhà là của ông P, bà
D xây.
[2.3] Xét thấy ông Dương Thái L là chủ sử dụng đất, quyền sử dụng đất
không bị tranh chấp. Về phần nhà ông L có chứng cứ chứng minh về việc xây
nhà. Bà D không có chứng cứ gì về việc xây nhà. Bản thân ông P là chồng bà D
thì đã có thỏa thun giao tài sản từ năm 2013. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
chấp nhn khởi kiện của nguyên đơn về việc bị đơn phải giao trả nhà là có căn
cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết, chứng cứ mới để
chứng minh cho kháng cáo của mình. Do đó Tòa án cấp phúc thẩm không chấp
nhn kháng cáo của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đồng ý tự nguyện nâng mức hỗ trợ
cho bị đơn lên đủ 200.000.000đ. Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhn sự tự nguyện
của nguyên đơn. Sửa án sơ thẩm ghi nhn việc nguyên đơn có nghĩa vụ thanh
toán cho bị đơn 200.000.000đ.
[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc án phí trên số tiền nguyên đơn tự

6
nguyện hỗ trợ cho bị đơn 100.000.000đ là không đúng, do đó Tòa án cấp phúc
thẩm sửa án sơ thẩm, ch buộc án phí đối với số tiền 15.414.770 đồng nguyên
đơn phải trả, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên bị đơn có kháng
cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Phần tự nguyện hỗ trợ thêm của
nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không phải chịu án phí nên ch
phải chịu án phí về phần tiền phải thanh toán như Tòa án sơ thẩm đã tuyên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 308 Bộ lut Tố tụng dân sự. Không chấp
nhn kháng cáo của bà Phạm Thị D; Ghi nhn sự tư nguyện của nguyên đơn, sửa
bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án
nhân dân huyện Hàm Tân, tnh Bình Thun.
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227
của BLTTDS; Điều 165, Điều 166 của Bộ lut dân sự; Điều 100, khoản 1 Điều
203 của Lut Đất đai năm 2013 điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thái L.
Buộc bà Phạm Thị D phải trả lại cho ông Dương Thái L và bà Nguyễn Thị
Ánh K1 căn nhà cấp 4a có diện tích 193,8m
2
và toàn bộ mái che khung sắt tiền
chế có diện tích 164,67m
2
găn liền với quyền sử dụng diện tích đất 159,3m
2
,
thửa đất số 174, tờ bản đồ số 38, đã được cấp Giấy chứng nhn quyền sử dụng
đất số CP 537096 cấp ngày 13/02/2020 đứng tên ông Dương Thái K2 đã cp
nht sang tên cho ông Dương Thái L ngày 17/5/2021. Bà Phạm Thị D được
quyền lưu trú căn nhà nêu trên cho đến ngày án có hiệu lực pháp lut. Hết thời
hạn trên bà Phạm Thị D phải giao lại nhà và đất nêu trên cho ông Dương Thái L
và bà nguyễn Thị Ánh K1 quản lý, sử dụng. (có mảnh trích đo hiện trạng khu
đất tranh chấp kèm theo)
2/ Ghi nhn sự tự nguyện của Dương Thái L và bà Nguyễn Thị Ánh K1.
Ông Dương Thái L và bà Nguyễn Thị Ánh K1 phải thanh toán cho bà Phạm Thị
D tổng số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp lut (đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
7
quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ lut Dân sự năm 2015, trừ trường hợp
pháp lut có quy định khác.
3/ Về án phí :
- Bà Phạm Thị D phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Dương Thái L và bà Nguyễn Thị Ánh K1 phải chịu 770.738 đồng
tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu tiền số 0010529 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Hàm Tân. Ông L, bà K1 còn phải nộp số tiền là 470.738 đồng.
Áp dụng khoản 2 Điều 148 Bộ lut Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Bà Phạm Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại
cho bà Phạm Thị D số tiền tạm ứng 300.000đ đã đóng theo biên lai số 0010894
ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Lut Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án Dân sự có quyền thỏa thun thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7
và 9 Lut Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại điều 30 Lut thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp lut kể từ ngày tuyên án 19/3/2025.
Nơi nhn:
- VKSND tnh B.Thun;
- TAND huyện Hàm Tân;
- Chi cục THADS huyện Hàm Tân;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thái Bình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 21/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 28/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm