Bản án số 49/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 49/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 49/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 49/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 49/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Thuận |
Số hiệu: | 49/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 17/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Phù R - Võ Phong V, Tô Thị Xuân O "Tranh chấp đòi lại tài sản, tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về tài sản" |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÌNH THUẬN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 49/2025/DS-PT
Ngày: 17/3/2025
V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản,
Yêu cầu chấm dứt hành vi...”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thái Bình
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên, ông Bùi Đăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân
tnh Bình Thun.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tnh Bnh Thun tham gia phiên
tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tnh Bình Thun
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sư thụ lý số 201/2024/TLPT-DS ngày 29
tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản, yêu cầu chấm dứt hành
vi cản trở quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về tài sản”. Do bản án dân sự
sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân
huyện Hàm Thun Bắc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số 21/2025/QĐ-PT, ngày 05 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên
tòa số 25/2025/QĐ-PT, ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phù R, sinh năm 1949 (có mặt)
Địa ch: Thôn A, xã T, huyện H, tnh Bình Thun
- B đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, yêu cầu độc lập đối với
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Võ Phong V, sinh năm 1969 (có mặt)
+ Bà Tô Thị Xuân O, sinh năm 1968 (có mặt)
Cùng địa ch: Thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phù Ngọc P, sinh năm 1976 (có mặt)
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Cùng địa ch: Xóm B, thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun.
2
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Phù R, ông Phù Ngọc P, bà
Nguyễn Thị H: Bà Lê Thị Kim H1, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa ch: Thôn N, xã H, huyện H, tnh Bình Thun.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phù R, ông Phù Ngọc P,
bà Nguyễn Thị H: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1991 (có mặt)
Địa ch: Thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Phù R và người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn là bà Lê Thị Kim H1 trình bày:
Nguồn gốc tổng diện tích 3.088 m
2
đất trồng lúa nước gồm các thửa đất số
558, 542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất số B 603195do UBND huyện H cấp cho ông Phù
C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
Cụ Phù C là cha của ông, đã cho ông 03 thửa đất trên để sử dụng. Ông
Phù Ngọc P là con của ông. Năm 2005, do ông đi làm ăn xa nên đã giao lại 03
thửa đất trên cho vợ chồng ông P canh tác và giữ đất.
Năm 2022, ông về lại Thôn A, xã T, huyện H, tnh Bình Thun sinh sống
nên có nhu cầu lấy lại diện tích 3.088 m
2
đất của ông. Lúc đó ông mới biết ông
Phù Ngọc P đã đổi đất với ông Võ Phong V. Ông có gặp ông V để nói về việc
trả đất nhưng ông V lại nghĩ rằng việc đổi đất với ông P là không có thời hạn,
đổi vĩnh viễn không trả lại.
Nay ông khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O
phải trả lại diện tích đất 3.088 m
2
đất trồng lúa nước thuộc các thửa đất số 558,
542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy chứng
nhn quyền sử dụng đất số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông Phù C
ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022 cho ông.
Ngày 29/5/2024, ông khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô
Thị Xuân O chấm dứt hành vi cản trở trái pháp lut đối với việc thực hiện quyền
sử dụng đất của ông bằng cách tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gồm 420 trụ thanh
long, đường dây điện hạ thế và cầu bắt qua mương nước bằng bê tông có chiều
dài 2.5m, chiều rộng 3.3m để trả lại hiện trạng đất trống tại các thửa đất số 558,
542, 538 với tổng diện tích 3.088 m
2
đất trồng lúa nước tọa lạc tại thôn H, xã H,
huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số B
603195 do UBND huyện H cấp cho ông Phù C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế
cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
Bị đơn ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O trình bày:
Vợ chồng ông có một thửa ruộng số 535a, diện tích 3.256 m
2
thuộc giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất số C 773478 do UBND huyện H cấp cho ông Võ
Phong V ngày 12/6/1996 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun.
3
Ông Phù Ngọc P sử dụng diện tích 3.088 m
2
đất trồng lúa nước thuộc các
thửa đất số 558, 542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun,
thuộc giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số B 603195 do UBND huyện H cấp
cho ông Phù C ngày 30/6/1994. Ruộng của ông P liền kề với nhà đất của vợ
chồng ông, còn thửa ruộng 535a của vợ chồng ông cách nhà đất của ông khoảng
vài đám ruộng. Khi đó, do ông muốn chuyển đổi thành cây thanh long, ruộng
của ông P ch 1 vụ, ruộng gò dễ trồng thanh long, còn ruộng của vợ chồng ông
02 vụ, thích hợp trồng lúa nước. Đầu năm 2007, vợ chồng ông bà có gặp ông P
để bàn về việc đổi ruộng cho nhau để tiện việc canh tác. Ông P thống nhất việc
đổi ruộng, nhưng do ông P chưa được thừa hưởng ruộng trên mặt giấy tờ nên
thỏa thun sẽ sang tên sau. Hai bên thỏa thun đổi ruộng cho nhau bằng miệng,
không lp văn bản gì.
Sau khi nhn đất từ ông P, vì ruộng gò có bom mìn, nên vợ chồng ông
phải gỡ bom mìn, khai khẩn cho ruộng vuông vức, làm cầu, đổ đường để tiện
việc đi lại vì thời điểm trước đó ruộng nằm dưới thấp, dễ ngp nước, hiện nay
trên đất của ông Phù R có 420 trụ thanh long, một bình điện 50KW được lắp đặt
ở đất của vợ chồng ông nhưng mục đích để chong đèn 420 trụ thanh long.
Nay ông Phù R khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông trả lại đất, vợ chồng ông
bà thống nhất việc trả đất, nhưng ông bà yêu cầu ông Phù R và vợ chồng ông
Phù Ngọc P phải bồi thường cho vợ chồng ông các chi phí gồm: Công tu bổ đất
và C1 187.000.000 đồng, công, vt tư làm cầu, cống, tu bổ đường đi: 22.000.000
đồng, 420 trụ thanh long: 273.000.000 đồng, hạ bình điện và dây bóng đèn
70.000.000 đồng, tổng cộng là 552.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phù Ngọc P, bà Nguyễn Th H
trình bày: Diện tích 3.088 m
2
đất trồng lúa nước thuộc các thửa đất số 558, 542,
538 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông Phù C ngày
30/6/1994, cp nht thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
Ông P là con của ông Phù R. Năm 2005, do ông Phù R đi làm ăn xa nên
đã giao lại diện tích đất trên cho vợ chồng ông bà canh tác và giữ đất.
Diện tích đất của gia đình ông phía sau nhà của ông Võ Phong V, ruộng
gò cao. Còn ruộng của ông V nằm cách đó vài đám ruộng, bị ngp nước. Thời
điểm đó người dân có nhu cầu bỏ lúa trồng thanh long, vì ruộng của ông V bị
ngp nước nên không trồng thanh long được, ông V mới đề nghị ông đổi đất,
ông V sử dụng diện tích 3.088 m
2
của gia đình ông, còn ông sẽ sử dụng diện tích
3256 m
2
đất của ông V.
Thời điểm đó, vợ chồng ông bà không có điều kiện trồng thanh long và
ruộng của hai gia đình gần nhau nên ông cũng đồng ý đổi đất để canh tác. Việc
đổi đất do hai bên tự thỏa thun miệng với nhau, không lp giấy tờ gì. Lúc đó
ch thỏa thun đổi đất để canh tác, không xác định thời hạn đổi, không xác định
4
khi nào sẽ trả lại đất cho nhau. Nhưng khi đổi, ông có nói với ông V rằng đất
này của ba ông, không phải của vợ chồng ông. Việc ông đổi đất với ông V, ông
cũng tự ý quyết định, không bàn bạc gì với ông Phù R.
Sau khi đổi đất, vợ chồng ông bà tiếp tục trồng lúa nước, sau đó trồng
thanh long vào khoảng năm 2011. Ông V cũng đã trồng thanh long trên đất của
cha ông.
Năm 2022, ông Phù R yêu cầu vợ chồng ông bà giao lại đất để cha ông
canh tác, ông có báo cho ông V rằng cha ông lấy lại đất nhưng ông V không
đồng ý. Ông V cho rằng đổi đất luôn, chứ không phải đổi có thời hạn. Về phần
ông, vợ chồng ông đã tự nhổ trụ, di dời bình điện để trả lại diện tích đất trống
cho ông V như hiện trạng trước khi đổi.
Vợ chồng ông thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông Phù R, không đồng ý
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phù R, ông Phù Ngọc P,
bà Nguyễn Th H là ông Nguyễn Anh T trình bày: Ông Phù R là chủ sử dụng đất
được nhà nước công nhn đối với 03 thửa đất tranh chấp, ông R không xác lp
và cũng không ủy quyền cho bất kỳ chủ thể nào tham gia giao dịch liên quan
đến 03 thửa đất nêu trên, vợ chồng ông V, bà O chiếm hữu, sử dụng 03 thửa đất
tranh chấp là trái quy định pháp lut. Nguyên đơn yêu cầu tháo dỡ các tài sản
theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 29/5/2024 nhằm làm chấm dứt hành vi cản trở
trái pháp lut đối với quyền sử dụng 03 thửa đất nêu trên; Bị đơn phản tố yêu
cầu nguyên đơn và vợ chồng ông Phù Ngọc P, bà Nguyễn Thị H bồi thường
thiệt hại nhưng không chứng minh được nội dung thiệt hại, không xác định được
yêu cầu bồi thường thiệt hại là trong hay ngoài hợp đồng, không chứng minh
được hành vi gây thiệt hại, không chứng minh được hu quả của việc gây thiệt
hại là gì, không chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt
hại và hu quả của hành vi này. Nguyên đơn yêu cầu tháo dỡ các tài sản theo
đơn khởi kiện bổ sung ngày 29/5/2024 và không có nhu cầu nhn lại các tài sản
của phía bị đơn vì các tài sản này đang tồn tại trên đất một cách bất hợp pháp.
Việc bị đơn và ông P hoán đổi đất cho nhau là trái quy định pháp lut, giao
dịch hoán đổi đất này vô hiệu cả về nội dung và hình thức. Khi giao dịch vô
hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã
nhn. Lỗi trong giao dịch này hoàn toàn thuộc về phía bị đơn bởi pháp lut buộc
bị đơn phải biết ông P là người có quyền sử dụng đất hay không khi tham gia
vào giao dịch; Khi cả hai thực hiện giao dịch hoán đổi đất không đúng quy định
của pháp lut thì phía ông P đã có thiện chí khắc phục sai lầm và tháo dỡ toàn bộ
tài sản trên đất của ông V để trả lại đất cho ông V; Ngược lại, bị đơn hoàn toàn
không có thiện chí khắc phục sai lầm và thiệt hại do bị đơn gây ra đối với ông R.
Nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông P và bà H thống nhất
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Không chấp nhn yêu cầu của bị đơn.
5
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm
2024, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thun Bắc đã quyết định:
Áp dụng:
Khoản 2 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều
244, khoản 1 Điều 271, Điều 273 Bộ lut tố tụng dân sự;
Điều 158, 166 Bộ lut dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 166 của Lut Đất đai năm 2013
Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 1, 4, 5, 7 Điều 26, điểm a khoản 2
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhn một phần yêu cầu khởi kiệncủa nguyên đơn ông Phù R:
Công nhn sự thỏa thun của các đương sự về việc: Vợ chồng ông Võ
Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải giao trả diện tích 3.088 m
2
(đo đạc hiện trạng
3333.1 m
2
) đất trồng lúa nước gồm các thửa đất số 558, 542, 538 tọa lạc tại thôn
H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy chứng nhn quyền sử dụng đất
số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông Phù C ngày 30/6/1994, cp nht
thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
Theo trích đo bản đồ v trí khu đất tranh chấp ngày 02/02/2024 do Công
ty TNHH T1-Đo đạc HTB.
2. Chấp nhn một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phù R về việc buộc vợ
chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải di dời dây diện hạ thế trên diện
tích 3.088 m
2
(đo đạc hiện trạng 3333.1 m
2
) đất trồng lúa nước gồm các thửa đất
số 558, 542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông
Phù C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
3. Không chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông Phù R về việc buộc vợ
chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải chấm dứt hành vi cản trở trái
pháp lut đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất của ông Phù R tại diện tích
3.088 m
2
(đo đạc hiện trạng 3333.1 m
2
) đất trồng lúa nước gồm các thửa đất số
558, 542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông
Phù C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022, bằng
cách tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gồm 420 trụ thanh long và cầu bắt qua
mương nước bằng bê tông có chiều dài 2.5m, chiều rộng 3.3m để trả lại hiện
trạng đất trống cho ông Phù R.
4. Chấp nhn một phần yêu cầu phản tố của vợ chồng ông Võ Phong V,
bà Tô Thị Xuân O: Ông Phù R phải trả số tiền 258.300.000 đồng là giá trị 420
trụ thanh long đang thu hoạch trên diện tích 3.088 m
2
(đo đạc hiện trạng 3333.1
6
m
2
) đất trồng lúa nước gồm các thửa đất số 558, 542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã
H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số B
603195do UBND huyện H cấp cho ông Phù C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế
cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
Ông Phù R được sở hữu 420 trụ thanh long đang thu hoạch này.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp lut, người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên
thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468
Bộ lut dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
5. Không chấp nhn một phần yêu cầu của vợ chồng ông Võ Phong V, bà
Tô Thị Xuân O về việc buộc ông Phù R, ông Phù Ngọc P, bà Nguyễn Thị H liên
đới thanh toán số tiền 293.700.000 đồng, trong đó gồm 187.000.000 công tu bổ
và C1; 22.000.000 đồng công vt tư làm cầu, cống, tu bổ đường đi; 14.700.000
đồng đúc trụ thanh long; hạ bình điện và dây bóng đèn 70.000.000 đồng.
6. Đình ch giải quyết đối với yêu cầu của vợ chồng ông Võ Phong V, bà
Tô Thị Xuân O về việc buộc ông Phù R phải trả diện tích đất theo đo đạc hiện
trạng 245.1 m
2
tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun,thuộc giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông
Phù C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
Vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O được quyền yêu cầu Tòa
án giải giải quyết lại đối với yêu cầu này.
7. Ghi nhn sự tự nguyện của ông Phù Ngọc P, bà Nguyễn Thị H trả lại
cho ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O diện tích 3256 m
2
đất tọa lạc tại thôn
H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy chứng nhn quyền sử dụng đất
số C 773478 do UBND huyện H cấp đứng tên Võ Phong V ngày 12/6/1996.
8. Về chi phí tố tụng:
Vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải chịu 5.422.000
đồng chi phí đo đạc. Vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O đã nộp đủ
số tiền này.
Vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải chịu 1.400.000
đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản để trả lại cho ông Phù
Ngọc P vì đã nộp tạm ứng số tiền này.
Ông Phù R phải chịu 1.400.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ, định giá tài sản để trả lại cho ông Phù Ngọc P vì đã nộp tạm ứng số tiền
này.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp lut, người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên
thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468
Bộ lut dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án
9. Về án phí:
7
Ông Phù R được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải chịu 150.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu đòi lại tài sản của nguyên đơnđược
chấp nhn.
Vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải chịu 14.685.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầukhông được chấp nhn.
Tổng cộng vợ chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm là 14.835.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền 19.122.000 đồng
tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0013089 ngày 07/3/2024 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thun Bắc. Hoàn trả cho ông Võ Phong V,
bà Tô Thị Xuân O số tiền 4.287.000 đồng.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30/8/2024, ông Võ Phong V kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm
theo hướng chấp nhn yêu cầu của ông về đền bù hạ bình điện và dây bóng đèn
số tiền 70.000.000đ.
Ngày 04/9/2024, ông Phù R kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhn toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và không chấp nhn phản tố
của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Tại phiên tòa ông R xác định rõ kháng cáo là ông không đồng ý hoàn trả
giá trị cây thanh long số tiền 258.300.000đ, yêu cầu ông V dỡ thanh long đi.
Ông Võ Phong V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thư ký,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ lut Tố tụng dân
sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp lut. Về nội dung: Tòa án cấp sơ
thẩm xử đã đúng quy định của pháp lut, kháng cáo của các đương sự là không
có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ lut
Tố tụng dân sự, không chấp nhn kháng cáo của các đương sự và giữ nguyên
bản án sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân
dân huyện Hàm Thun Bắc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử nhn thấy:
[1] Về việc hoán đổi đất và trả lại đất, các đương sự thừa nhn và đã thỏa
thun được với nhau. Ch còn tranh chấp về việc xử lý tài sản trên đất.
8
[2] Xét kháng cáo của ông Võ Phong V kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm theo hướng chấp nhn yêu cầu của ông về đền bù hạ bình điện và dây bóng
đèn số tiền 70.000.000đ. Xét thấy, bình điện này được hạ trên đất của bị đơn,
không nằm trên đất nguyên đơn đang tranh chấp, hiện nay gia đình em gái bị
đơn và bị đơn vẫn đang sử dụng nên bị đơn yêu cầu nguyên đơn ông Phù R phải
nhn bình điện là không phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhn yêu cầu
này của ông Võ Phong V là có căn cứ. Ông Võ Phong V kháng cáo nhưng
không nêu được cơ sở pháp lý khác. Nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để
chấp nhn kháng cáo của ông Võ Phong V.
[3] Xét kháng cáo của ông Phù R kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm
theo hướng chấp nhn yêu cầu của nguyên đơn và không chấp nhn phản tố của
bị đơn, không đồng ý hoàn giá trị thanh long với số tiền 258.300.000đ, yêu cầu
ông V tháo dỡ thanh long đi. Hội đồng xét xử nhn thấy: Phần đất của ông Phù
R có nguồn gốc là của ông Phù C (cha ông Rịnh), ông C được cấp giấy chứng
nhn vào năm 1994. Ông Phù R đã giao phần diện tích đất này cho con của ông
là ông Phù Ngọc P sử dụng từ năm 2005, đến năm 2007 ông P và ông Võ Phong
V thỏa thun đổi đất canh tác. Mãi đến năm 2022, khi được nhn quyền thừa kế,
ông Phù R mới đòi lại đất. Quá trình hai bên đổi đất và canh tác thời gian rất dài,
nhưng ông R không có ý kiến gì. Nay ông đòi lại và yêu cầu ông Võ Phong V
phải phá bỏ toàn bộ cây thanh long đã trồng trên đất là thiệt hại đến quyền lợi
của ông V, bà O. C2 đang sản xuất được, có giá trị nên việc Tòa án cấp sơ thẩm
xét xử giao cho ông R số cây thanh long trên đất và buộc ông R trả giá trị lại cho
ông V và bà O là có căn cứ, hợp tình hợp lý. Do đó kháng cáo của ông R về yêu
cầu ông V và bà O tháo dỡ toàn bộ cây thanh long là không có căn cứ để chấp
nhn.
[4] Từ các nhn định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhn kháng cáo
của các đương sự cũng như quan điểm của người bảo vệ quyền lợi cho đương
sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tnh Bình Thun tại phiên tòa.
[5] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhn, nên ông Võ Phong V
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp lut. Ông Phù R được
miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị đã
có hiệu lực pháp lut.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ lut Tố tụng dân sự. Không chấp nhn kháng cáo
của ông Phù R và ông Võ Phong V; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
9
112/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm
Thun Bắc, tnh Bình Thun.
Áp dụng:
Khoản 2 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều
244, khoản 1 Điều 271, Điều 273 Bộ lut tố tụng dân sự;
Điều 158, 166 Bộ lut dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 166 của Lut Đất đai năm 2013
Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 1, 4, 5, 7 Điều 26, điểm a khoản 2
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhn một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phù R:
Công nhn sự thỏa thun của các đương sự về việc: Vợ chồng ông Võ
Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải giao trả diện tích 3.088 m
2
(đo đạc hiện trạng
3333.1 m
2
) đất trồng lúa nước gồm các thửa đất số 558, 542, 538 tọa lạc tại thôn
H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy chứng nhn quyền sử dụng đất
số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông Phù C ngày 30/6/1994, cp nht
thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
Theo trích đo bản đồ v trí khu đất tranh chấp ngày 02/02/2024 do Công
ty TNHH T1-Đo đạc HTB.
2. Chấp nhn một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phù R về việc buộc vợ
chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải di dời dây diện hạ thế trên diện
tích 3.088 m
2
(đo đạc hiện trạng 3333.1 m
2
) đất trồng lúa nước gồm các thửa đất
số 558, 542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông
Phù C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
3. Không chấp nhn yêu cầu khởi kiện của ông Phù R về việc buộc vợ
chồng ông Võ Phong V, bà Tô Thị Xuân O phải chấm dứt hành vi cản trở trái
pháp lut đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất của ông Phù R tại diện tích
3.088 m
2
(đo đạc hiện trạng 3333.1 m
2
) đất trồng lúa nước gồm các thửa đất số
558, 542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy
chứng nhn quyền sử dụng đất số B 603195 do UBND huyện H cấp cho ông
Phù C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế cho ông Phù R ngày 30/5/2022, bằng
cách tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gồm 420 trụ thanh long và cầu bắt qua
mương nước bằng bê tông có chiều dài 2.5m, chiều rộng 3.3m để trả lại hiện
trạng đất trống cho ông Phù R.
4. Chấp nhn một phần yêu cầu phản tố của vợ chồng ông Võ Phong V,
bà Tô Thị Xuân O: Ông Phù R phải trả số tiền 258.300.000 đồng là giá trị 420
trụ thanh long đang thu hoạch trên diện tích 3.088 m
2
(đo đạc hiện trạng 3333.1
10
m
2
) đất trồng lúa nước gồm các thửa đất số 558, 542, 538 tọa lạc tại thôn H, xã
H, huyện H, tnh Bình Thun, thuộc giấy chứng nhn quyền sử dụng đất số B
603195do UBND huyện H cấp cho ông Phù C ngày 30/6/1994, cp nht thừa kế
cho ông Phù R ngày 30/5/2022.
Ông Phù R được sở hữu 420 trụ thanh long đang thu hoạch này.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp lut, người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên
thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468
Bộ lut dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
5. Không chấp nhn một phần yêu cầu của vợ chồng ông Võ Phong V, bà
Tô Thị Xuân O về việc buộc ông Phù R, ông Phù Ngọc P, bà Nguyễn Thị H liên
đới thanh toán số tiền 293.700.000 đồng, trong đó gồm 187.000.000 công tu bổ
và C1; 22.000.000 đồng công vt tư làm cầu, cống, tu bổ đường đi; 14.700.000
đồng đúc trụ thanh long; hạ bình điện và dây bóng đèn 70.000.000 đồng.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị đã
có hiệu lực pháp lut.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án
phí và lệ phí Tòa án;
Ông Võ Phong V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Dân
sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu
tiền số 0013661, ngày 12/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm
Thun Bắc, ông V đã nộp đủ.
Ông Phù R được miễn án phí dân sự phúc thẩm
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Lut Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án Dân sự có quyền thỏa thun thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7
và 9 Lut Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại điều 30 Lut thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp lut kể từ ngày tuyên án 17/3/2025.
Nơi nhn:
- VKSND tnh B.Thun;
- TAND huyện HTB;
- Chi cục THADS huyện HTB;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thái Bình
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 21/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 10/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 28/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 23/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 22/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm