Bản án số 47/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 47/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 47/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 47/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 47/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp về thừa kế tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Định |
Số hiệu: | 47/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 18/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ông Lê Văn T khởi kiện ông Lê Văn C yêu cầu chia di sản thừa kế |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÌNH ĐỊNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 47/2025/DS-PT
Ngày: 18/3/2025
V/v “Tranh chấp về quyền sử dụng đất;
tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảolà thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Địnhtham gia phiên tòa:Bà
Nguyễn Thị Tú Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số:222/2024/TLPT-DSngày 31 tháng 12 năm
2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp về thừa kế tài sản”do bản án
dân sự sơ thẩm số:144/2024/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân
dân huyện T, tỉnh Bình Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số:16/2025/QĐ-PT ngày 18tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Ông Lê Văn T, sinh năm 1964, có mặt
Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, Bình Định.
- Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1961, có mặt
Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, Bình Định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Lê Văn C: Luật sư
Lê Văn K - Luật sư của Công ty TNHH MTV Hãng luật L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh
ĐắkLắk; địa chỉ 585 đường H, phường A, thị xã B , tỉnh ĐắkLắk, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị L, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình
Định.
Đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị L: Ông Lê Văn C, sinh năm 1961; địa
chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.
2
2. Ông Lê Văn T, sinh năm 1967;địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình
Định, vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn T: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm
1971 (Giấy ủy quyền ngày 12/3/2025), có mặt.
3. Bà Lê Thị H, sinh năm 1969;địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình
Định, có mặt.
4. Bà Hồ Thị C, sinh năm 1963;địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình
Định, có mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn ông Lê Văn C.
- Kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 11 năm 2023, lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn Ttrình bày:
Cha của ông là ông Lê Văn T, mẹ của ông là bà Nguyễn Thị Đ. Cha, mẹ của
ông sinh được 05 người con gồmLê Thị L, Lê Văn C, ông là Lê Văn T, Lê Văn T,
Lê Thị H.Ngoài ra cha, mẹ của ông không còn con nuôi hay con riêng nào
khác.Cha, mẹ của ông ly hôn trước năm 1975 nên không sống chung với nhau từ
thời đó đến khi chết. Cha của ông chết vào ngày 28 tháng 7 năm 2016; mẹ của ông
chết vào ngày 26 tháng 12 năm 2016. Trước khi chết, cha mẹ của ông đều không
để lại di chúc.Khi còn sống, cha của ông được quyền sử dụng thửa đất số 313, tờ
bản đồ số 6, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Nguồn gốc thửa đất
trên do bác ruột của ông là ông Lê Văn C tặng cho cho cha của ông vào năm 1975.
Sau khi được tặng cho thửa đất trên, cha ông xây dựng ngôi nhà vách đất, lợp tole
trên thửa đất và ở đến năm 1993 thì cha của ông tháo dỡ ngôi nhà này để phân chia
thửa đất trên thành 04 phần để tặng cho cho ông, ông Lê Văn C, Lê Văn T mỗi
phần có diện tích 7mx70m; phần còn lại có diện tích 3mx70m cha của ông vẫn tiếp
tục sử dụng; cụ thể phần diện tích đất tặng cho cho ông C ở phía nam; đến phần đất
của cha ông; đến phần đất tặng cho cho ông; đến phần đất tặng cho cho ông T ở
phía bắc của thửa đất. Việc thoả thuận tặng cho trên chỉ thoả thuận bằng miệng chứ
không có văn bản, giấy tờ gì. Vì tại thời điểm thoả thuận thửa đất trên chưa được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi thoả thuận xong, ông C và ông T
xây dựng ngôi nhà trên phần diện tích đất được tặng cho còn phần diện tích đất của
cha ông và ông vẫn để trống.Sau khi thoả thuận phân chia các thửa đất trên, Nhà
nước có chủ trương đo đạc lại các thửa đất trên thì ông C đăng ký sử dụng phần đất
mà ông C được tặng cho và phần đất còn lại của cha ông; cha ông đăng ký cho ông
được quyền sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6 mà ông được quyền sử dụng;
ông T đăng ký sử dụng thửa đất số 674, tờ bản đồ số 6. Nhưng do có sự nhầm lẫn
của Cán bộ địa chính xã P nên ghi trên hồ sơ địa chính của UBND xã thì thửa đất
của ông sử dụng là thửa đất số 674, tờ bản đồ số 6 còn thửa đất của ông T sử dụng
3
là thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6. Nay ông đến thửa đất mà cha của ông tặng cho
cho ông để sử dụng thì ông Lê Văn C tự ý chiếm thửa đất trên của ông để sử
dụng.Thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6 mà trước đây cha của ông đã tặng cho cho
ông sử dụng nhưng ông Lê Văn C tự ý đăng ký, kê khai nhập vào thửa đất mà cha
của ông tặng cho cho ông C nên ông C đăng ký kê khai, sử dụng thửa đất nay là
thửa đất số 34, tờ bản đồ số 33. Việc ông Lê Văn C tự ý đăng ký, kê khai thửa đất
số 675, tờ bản đồ số 6 của ông nhập vào thửa đất số 34, tờ bản đồ số 33 của ông C
là gian dối, không đúng quy định của pháp luật. Khi cha của ông tặng cho thửa đất
số 675, tờ bản đồ số 6 cho ông sử dụng thì cha của ông thay ông đứng tên đăng ký
kê khai sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6 với diện tích 490m
2
nay là một
phần thửa đất số 34, tờ bản đồ số 33.Phần diện tích đất mà ông yêu cầu vợ chồng
ông C có nghĩa vụ trả lại cho ông sử dụng ở phía bắc của phần diện tích đất còn lại
của thửa đất mà vợ chồng ông C đang sử dụng.Phần diện tích đất này chưa được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay trên phần diện tích đất mà ông
yêu cầu vợ chồng ông C trả lại vẫn còn để trống chứ chưa có ai xây dựng nhà ở
hay công trình vật kiến trúc gì trên đất. Việc ông C cho rằng sau khi cha của ông
tặng cho cho ông được quyền sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6 nhưng ông
không nhận nên cha của ông lấy lại diện tích thửa đất của ông để chia cho ông C,
cha ông và ông T là không đúng sự thật. Nay ông yêu cầu Toà án công nhận cho
ông được quyền sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất
số 34, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc thực tế 471,9m
2
, địa chỉ thôn A, xã P,
huyện T, tỉnh Bình Định. Hiện nay vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C đang
quản lý phần diện tích đất nêu trên nên ông yêu cầu vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ
Thị C có nghĩa vụ trả lại diện tích đất trên cho ông sử dụng. Ông không đồng ý với
yêu cầu củaông Lê Văn C, ông Lê Văn T, bà Lê Thị H về việc yêu cầu chia thừa kế
tài sản phần diện tích đất nêu trên là di sản của cha của ông chết để lại.Ông không
đồng ý các yêu cầu còn lại của vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C. Đối với phần
diện tích đất của các thửa đất mà cha ông đã tặng cho cho ông Lê Văn C và ông Lê
Văn T thì ông không tranh chấp hay yêu cầu gì. Ngoài ra ông không trình bày và
yêu cầu gì thêm.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn
ông Lê Văn C đồng thời là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Lê Thị L trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của ông Lê Văn T về mối quan hệ gia đình
của ông. Khi còn sống, cha của ông được quyền sử dụng thửa đất số 313, tờ bản đồ
số 6, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Nguồn gốc thửa đất trên do
bác ruột của ông là ông Lê Văn C tặng cho cho cha ông vào năm 1975. Sau khi
được tặng cho thửa đất trên, cha ông xây dựng ngôi nhà vách đất, lợp tole trên thửa
đất và ở đến năm 1993 thì cha của ông tháo dỡ ngôi nhà này để phân chia thửa đất
trên thành 04 phần để tặng cho cho ông, ông Lê Văn C, Lê Văn T và phần còn lại
cha của ông vẫn tiếp tục sử dụng; cụ thể phần diện tích đất tặng cho cho ông ở phía
nam; đến phần đất của cha ông; đến phần đất tặng cho cho ông T; đến phần đất
4
tặng cho cho ông T ở phía bắc của thửa đất. Việc thoả thuận tặng cho trên chỉ thoả
thuận bằng miệng chứ không có văn bản, giấy tờ gì. Vì tại thời điểm thoả thuận
thửa đất trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi thoả
thuận xong, ông và ông T xây dựng ngôi nhà trên phần diện tích đất được tặng cho.
Vì khi chia đất ông T không nhận đất nên cha của ông chia đều phần diện tích đất
của ông T cho ông, cha ông và ông T; nên thửa đất trên hiện nay được chia thành
03 thửa đất. Sau khi chia đất, Nhà nước có chủ trương đo đạc lại các thửa đất trên
thì ông đăng ký sử dụng phần đất mà ông được tặng cho. Phần thửa đất của ông đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn phần đất của cha ông và phần
đất của ông T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần thửa đất
của cha ông hiện nay vẫn là đất trống nhưng hiện nay vợ chồng ông là người quản
lý, sử dụng phần diện tích thửa đất này.Nay ông Lê Văn T yêu cầu công nhận cho
ông T được quyền sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa
đất số 34, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc thực tế 471,9m
2
, địa chỉ thôn A, xã P,
huyện T, tỉnh Bình Định, đồng thời yêu cầu vợ chồng ông có nghĩa vụ trả lại toàn
bộ diện tích đất trên thì ông không đồng ý. Vì thửa đất này là di sản của cha ông
chết để lại chưa phân chia. Trường hợp ông T về xây dựng ngôi nhà trên thửa đất
để làm nơi thờ cúng ông, bà thì ông đồng ý giao thửa đất trên cho ông T sử dụng,
vì đây là nguyện vọng của cha ông lúc còn sống. Nếu ông T không đồng ý thì ông
yêu cầu phân chia thừa kế tài sản thửa đất trên là di sản của cha ông chết để lại
theo quy định của pháp luật. Ông yêu cầu chia bằng hiện vật cho các đồng thừa kế
khác.Ông yêu cầu thanh toán các khoản chi phí cho vợ chồng ông liên quan đến
chia thừa kế phần diện tích đất trên gồm chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai
táng, chi phí nuôi dưỡng cha của ông với số tiền 250.000.000 đồng; chi phí quản lý
thửa đất trên với số tiền 10.000.000 đồng; chi phí nâng nền diện tích đất trên với số
tiền 95.392.000 đồng.Ngoài ra ông không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị C trình bày:
Bà là vợ của ông Lê Văn C.Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông
T về mối quan hệ gia đình bên phía chồng bà.Bà thống nhất về nguồn gốc tài sản,
di sản của cha chồng bà chết để lại. Bà cũng thống nhất về toàn bộ lời trình bày và
yêu cầu của chồng bà đối với việc giải quyết vụ án. Bà và chồng bà kết hôn vào
năm 1980. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống cùng với cha chồng của bà trong ngôi
nhà vách đất của cha chồng bà xây dựng trên thửa đất.Đến năm 1993, cha chồng bà
tặng cho cho vợ chồng bà được quyền sử dụng một phần thửa đất tại địa chỉ thôn
A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên vợ chồng bà đã xây dựng ngôi nhà cấp 4 và ở
cho đến nay. Hiện nay thửa đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho vợ chồng bà. Nay ông Lê Văn T yêu cầu công nhận cho ông T được quyền
sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số 34, tờ bản đồ
số 33, diện tích đo đạc thực tế 471,9m
2
, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình
Định, đồng thời yêu cầu vợ chồng bà có nghĩa vụ trả lại toàn bộ diện tích đất trên
thì bà không đồng ý. Vì thửa đất này là di sản của cha chồng bà chết để lại chưa
5
phân chia. Trường hợp ông T về xây dựng ngôi nhà trên thửa đất để làm nơi thờ
cúng ông, bà thì bà đồng ý giao thửa đất trên cho ông T sử dụng, vì đây là nguyện
vọng của cha chồng bà lúc còn sống. Ngoài ra bà thống nhất với các yêu cầu trên
của chồng bà. Bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Ttrình bày:
Ông thống nhất với lời trình và yêu cầu của ông Lê Văn T về quan hệ gia
đình của ông. Khi còn sống, cha của ông được quyền sử dụng thửa đất số 313, tờ
bản đồ số 6, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Nguồn gốc thửa đất
trên do bác ruột của ông là ông Lê Văn C tặng cho cho cha ông vào năm 1975. Sau
khi được tặng cho thửa đất trên, cha ông xây dựng ngôi nhà vách đất, lợp tole trên
thửa đất và ở đến năm 1993 thì cha của ông tháo dỡ ngôi nhà này để phân chia
thửa đất trên thành 04 phần để tặng cho choông, ông Lê Văn C, ông Lê Văn T03
phần và phần còn lại cha của ông vẫn tiếp tục sử dụng; cụ thể phần diện tích đất
tặng cho cho ông Lê Văn C ở phía nam; đến phần đất của cha ông; đến phần đất
tặng cho cho ông Lê Văn T; đến phần đất tặng cho cho ông ở phía bắc của thửa
đất. Việc thoả thuận tặng cho trên chỉ thoả thuận bằng miệng chứ không có văn
bản, giấy tờ gì. Vì tại thời điểm thoả thuận thửa đất trên chưa được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Sau khi thoả thuận xong, ông C và ông mỗi người xây
dựng một ngôi nhà trên phần diện tích đất được tặng cho. Vì khi chia đất ông T
không nhận đất nên cha của ông chia phần diện tích đất của ông T cho ông C, cha
ông và ông nên thửa đất trên hiện nay được chia thành 03 thửa đất. Phần thửa đất
của cha ông hiện nay vẫn là đất trống; hiện nay vợ chồng ông C là người quản lý,
sử dụng phần diện tích thửa đất này.Nay ông Lê Văn T yêu cầu công nhận cho ông
T được quyền sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số
34, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc thực tế 471,9m
2
, địa chỉ thôn A, xã P, huyện
T, tỉnh Bình Định, đồng thời yêu cầu vợ chồng ông C có nghĩa vụ trả lại toàn bộ
diện tích đất trên thì ông không đồng ý. Vì thửa đất này là di sản của cha ông chết
để lại chưa phân chia. Trường hợp ông T về xây dựng ngôi nhà trên thửa đất để
làm nơi thờ cúng ông, bà thì ông đồng ý giao thửa đất trên cho ông T sử dụng, vì
đây là nguyện vọng của cha ông lúc còn sống. Nếu ông T không đồng ý thì ông
yêu cầu phân chia thừa kế tài sản thửa đất trên là di sản của cha ông chết để lại
theo quy định của pháp luật. Ông yêu cầu chia bằng hiện vật.Ông Lê Văn C yêu
cầu thanh toán chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng, chi phí nuôi dưỡng
cha của ông với số tiền 250.000.000 đồng; chi phí hợp lý cho việc bảo quản thửa
đất với số tiền 10.000.000 đồng; chi phí hợp lý cho việc nâng nền thửa đất với số
tiền 95.392.000 đồng thì ông không đồng ý.Ngoài ra ông không trình bày và yêu
cầu gì thêm.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông Lê Văn T về quan hệ gia
6
đình của bà. Khi còn sống, cha của bà được quyền sử dụng thửa đất số 313, tờ bản
đồ số 6, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Nguồn gốc thửa đất trên do
bác ruột của bà là ông Lê Văn C tặng cho cho cha bà vào năm 1975. Sau khi được
tặng cho thửa đất trên, cha bà xây dựng ngôi nhà vách đất, lợp tole trên thửa đất và
ở đến năm 1993 thì cha của bà tháo dỡ ngôi nhà này để phân chia thửa đất trên
thành 04 phần để tặng cho cho ông Lê Văn C, ông Lê Văn T, ông Lê Văn T 03
phần và phần còn lại cha của bà vẫn tiếp tục sử dụng; cụ thể phần diện tích đất tặng
cho cho ông Lê Văn C ở phía nam; đến phần đất của cha bà; đến phần đất tặng cho
cho ông Lê Văn T; đến phần đất tặng cho cho ông Lê Văn T ở phía bắc của thửa
đất. Việc thoả thuận tặng cho trên chỉ thoả thuận bằng miệng chứ không có văn
bản, giấy tờ gì. Vì tại thời điểm thoả thuận thửa đất trên chưa được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Sau khi thoả thuận xong, ông C và ông T mỗi người xây
dựng một ngôi nhà trên phần diện tích đất được tặng cho. Vì khi chia đất ông T
không nhận đất nên cha của bà chia phần diện tích đất của ông T cho ông C, cha bà
và ông T nên thửa đất trên hiện nay được chia thành 03 thửa đất. Phần thửa đất của
cha bà hiện nay vẫn là đất trống; hiện nay vợ chồng ông C là người quản lý, sử
dụng phần diện tích thửa đất này.Nay ông Lê Văn T yêu cầu công nhận cho ông T
được quyền sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số
34, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc thực tế 471,9m
2
, địa chỉ thôn A, xã P, huyện
T, tỉnh Bình Định, đồng thời yêu cầu vợ chồng ông C có nghĩa vụ trả lại toàn bộ
diện tích đất trên thì bà không đồng ý. Vì thửa đất này là di sản của cha bà chết để
lại chưa phân chia. Trường hợp ông T về xây dựng ngôi nhà trên thửa đất để làm
nơi thờ cúng ông, bà thì bà đồng ý giao thửa đất trên cho ông T sử dụng, vì đây là
nguyện vọng của cha bà lúc còn sống. Nếu ông T không đồng ý thì bà yêu cầu
phân chia thừa kế tài sản thửa đất trên là di sản của cha bà chết để lại theo quy định
của pháp luật. Bà yêu cầu chia bằng hiện vật. Ông Lê Văn C yêu cầu thanh toán
chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng, chi phí nuôi dưỡng cha của bà với
số tiền 250.000.000 đồng; chi phí hợp lý cho việc bảo quản thửa đất với số tiền
10.000.000 đồng; chi phí hợp lý cho việc nâng nền thửa đất với số tiền 95.392.000
đồng thì bà không đồng ý. Ngoài ra bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 144/2024/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ khoản 5, khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1
Điều 39;Điều 92;Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165;khoản 2Điều
228;Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2015;
Căn cứ vàoĐiều 690 của Bộ luật Dân sự 1995;
Căn cứ vào Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vàoĐiều 3, Điều 221 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 12;Điều 26;khoản 7Điều 27Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
7
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T.
2.Công nhận cho ông Lê Văn T được quyền sử dụng diện tích 471,9m
2
đất ở
tại nông thôn thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số 34,
tờ bản đồ số 33, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.Hiện nay vợ chồng
ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C đang quản lý diện tích đất trên(Sơ đồ kỹ thuật thửa đất
được giao cho ông Lê Văn T sử dụng ký hiệu phần B theo trích đo địa chính thửa
đất kèm theo bản án này).
3. Buộc vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C có nghĩa vụ trả lại diện tích
471,9m
2
đất ở tại nông thôn thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần
thửa đất số 34, tờ bản đồ số 33, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Địnhcho
ông Lê Văn T được quyền sử dụng.
4. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị L, ông Lê Văn C, ông Lê Văn T,
bà Lê Thị Hvề việc yêu cầu phân chia thừa kế tài sản 471,9m
2
đất ở tại nông thôn
thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số 34, tờ bản đồ số
33, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định vì không có căn cứ.
5. Không chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C về
việc yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng, chi phí
nuôi dưỡng ông Lê Văn Th với số tiền 250.000.000 đồng(Hai trăm năm chục triệu
đồng) vì không có căn cứ.
6. Không chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C về
việc yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý cho việc bảo quản thửa đất số 675, tờ bản đồ
số 6,địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định với số tiền 10.000.000
đồng(Mười triệu đồng) vì không có căn cứ.
7. Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C về việc yêu
cầu thanh toán chi phí hợp lý cho việc nâng nền thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6,địa
chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định với số tiền 95.392.000 đồng (Chín mươi
lăm triệu ba trăm chín mươi hai nghìn đồng).
8. Buộc ông Lê Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông Lê Văn C,
bà Hồ Thị C số tiền 95.392.000 đồng (Chín mươi lăm triệu ba trăm chín mươi hai
nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết địnhán phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố
tụngvà quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Quyết định kháng nghị số 01/2024/QĐ-VKS-DS ngày 04/12/2024 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện T kháng nghị theo hướng sửa một phần nội
dung: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần

8
yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc chia thừa kế
thửa đất trên cho hàng thừa kế của ông Lê Văn T.
Ngày 27/11/2024, bị đơn ông Lê Văn C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật
tố tụng; về nội dung: đề nghị chấp nhận Quyết định kháng nghị số:01/2024/QĐ-
VKS-DS ngày 04/12/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện T. Sửa
một phần nội dung quyết định của bản án: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan về việc chia thừa kế đối vớiquyền sử dụng diện tích 471,9m
2
đất ở tại
nông thôn thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số 34, tờ
bản đồ số 33, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Địnhcho hàng thừa kế của
ông Lê Văn Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện
T, tỉnh Bình Định và kháng cáo củabị đơn ông Lê Văn Ctrong thời hạnnên được
xem xét.
[2] Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Văn C rút yêu cầu kháng cáo đối với yêu
cầu thanh toán chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng, chi phí nuôi dưỡng
ông Lê Văn Th với số tiền 250.000.000 đồng,chi phí quản lý thửa đất số675, tờ bản
đồ số 06là 10.000.000 đồng. Việc bị đơn rút một phần nội dung kháng cáo là hoàn
tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 289, Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các yêu cầu này.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn Cyêu cầu chia di sản thừa kế của
ông Lê Văn Thlàthửa đất số 675, tờ bản đồ số 06, diện tích 490m
2
đất ở tại nông
thônvà kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị sửa một phần nội
dung bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của
bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc chia thừa kế thửa đất trên
cho hàng thừa kế của ông Lê Văn Th; kháng cáo của HĐXX xét thấy:
Thửa đất số 675, tờ bản đồ số 06, diện tích 490m
2
(đất thổ cư 200m
2
, đất
vườn 290m
2
) do ông Lê Văn T kê khai, đăng kýnăm 1993. Thửa đất trên được đo
đạc lại theo dự án Vlap đã nhập vào thửa đất số 34, tờ bản đồ số 33, diện tích
1,669m
2
do ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C kê khai, đăng ký sử dụng, thửa đất trên
chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì chưa được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo hạn mức công nhận đất ở được phê duyệt tại Quyết

9
định số 37/2014/QĐ-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Bình Định đối với các xã đồng bằng là 500m
2
, do đó thửa đất số 675, tờ bản đồ số
06, diện tích 490m
2
đất ở tại nông thôn. Theo quyết định số 3637/QĐ-UBND ngày
05 tháng 06 năm 2024 của UBND huyện T, tỉnh Bình Định thì thửa đất số 34, tờ
bản đồ số 33, diện tích 1669m
2
; địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định bị
thu hồi diện tích 16,4m
2
. Do đó có căn cứ xác định thửa đất số 675, tờ bản đồ số
06, nay thuộc một phầnthửa đất số 34, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc thực tế
471,9m
2
đất ở tại nông thôn.
Xét thấy, các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất trên là một phần
thửa đất số 313, tờ bản đồ số 6, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Địnhcủa
ông Lê Văn C tặng cho choông Lê Văn Th vào năm 1975. Sau đó ông Th xây dựng
ngôi nhà trên thửa đất và ở đến năm 1993 thì ông Th tháo dở ngôi nhà và phân chia
thửa đất trên thành 04 phần rồi tặng cho ông C, ông T, ông T và phần còn lại thì
ông Th tiếp tục sử dụng. Do đó có căn cứ xác định, ông Th đã phân chia thửa đất
trên và tặng cho lại cho các con của ông Th là ông C, ông T, ông T, điều này cũng
ông T, ông C, ông T thừa nhận. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 thì đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh nên có căn cứ xác định
rằng các bên đều được quyền sở hữu, sử dụng đối với phần diện tích đất đã được
phân chia, trong đó ông Lê Văn T được tặng cho thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6,
nay là một phần thửa đất số 34, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc thực tế 471,9m
2
.
Ông Lê Văn C, ông Lê Văn T, bà Lê Thị H cho rằng ông Th tặng cho thửa
đất số 675, tờ bản đồ số 6 cho ông T nhưng ông T không nhận; tuy nhiên các
đương sự trên không đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho
việc ông T không nhận thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6 và thực tế thì ông Lê Văn
Th là cha ông Lê Văn T cũng không làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.Các bên đương sự cũng thừa nhận từ
trước đến naykhông có ai xây dựng công trình nào trên thửa đất số 675, tờ bản đồ
số 6. Thực tế khi vợ chồng ông C xây dựng nhà và các công trình trên thửa đất số
34, tờ bản đồ số 33 thì vẫn chừa ra phần diện tích đất thuộc thửa đất số 675, tờ bản
đồ số 6 mà ông Th đã tặng cho cho ông T. Việc ông Th tặng cho một phần thửa đất
trên cho ông C, ông T và ông T đều không có văn bản, giấy tờ gì nhưng hiện nay
ông C, ông T đều sử dụng phần diện tích đất mình được tặng cho. Ngoài ra hiện
nay ông C sử dụng phần diện tích đất nhiều hơn so với phần diện tích đất được ông
Th tặng cho; phần diện tích đất tăng này là do ông C sử dụng luôn cả phần diện
tích đất còn lại của ông Th sau khi phân chia. Tại phiên toà sơ thẩm, vợ chồng ông
Lê Văn C, bà Hồ Thị C; ông Lê Văn T, bà Lê Thị H đều thống nhất nếu ông T về
xây dựng nhà ở trên phần diện tích thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6 để thờ cúng thì
đồng ý giao cho ông T được quyền sử dụng diện tích đất trên.Từ các chứng cứ
trên, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận cho ông
T được quyền sử dụng thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số
34, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc thực tế 471,9m
2
đất ở tại nông thôn, thuộcthôn
A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Hiện nay vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C

10
đang quản lý diện tích đất trên nên vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C có nghĩa
vụ trả lại diện tích đất trên cho ông Lê Văn T sử dụng là có căn cứ.
[4] Đối với yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị Cvề việc yêu
cầu thanh toán chi phí hợp lý cho việc nâng nền thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6với
số tiền 95.392.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận. Do đó ông Lê Văn T có nghĩa
vụ thanh toán cho vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị Csố tiền 95.392.000 đồng.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn
cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơnông Lê Văn C và kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân huyện T; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định
đề nghịchấp nhận nội dung kháng cáo chia di sản thừa kế của bị đơn Lê Văn Cvà
kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, sửa một phần bản án sơ thẩm là
chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông
Lê Văn C nên ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên ông C là người
cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 5, khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1
Điều 39;Điều 92; Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; khoản 2Điều
228;Điều 273, điểm c khoản 1 Điều 289, Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
Căn cứ vào Điều 690 của Bộ luật Dân sự 1995;
Căn cứ vào Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Điều 3, Điều 221 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12;Điều 26;khoản 7Điều 27, Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn C

11
yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng, chi phí nuôi
dưỡng ông Lê Văn Th với số tiền 250.000.000 đồng, yêu cầu thanh toán chi phí
hợp lý cho việc bảo quản thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, địa chỉ thôn A, xã P,
huyện T, tỉnh Bình Định là 10.000.000 đồng.
2. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn C và kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T. Giữ nguyên quyết định của bán án sơ
thẩm.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T.
4. Công nhận cho ông Lê Văn T được quyền sử dụng diện tích 471,9m
2
đất ở
tại nông thôn thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số 34,
tờ bản đồ số 33, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Hiện nay vợ chồng
ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C đang quản lý diện tích đất trên(Sơ đồ kỹ thuật thửa đất
được giao cho ông Lê Văn T sử dụng ký hiệu phần B theo trích đo địa chính thửa
đất kèm theo bản án này).
5. Buộc vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C có nghĩa vụ trả lại diện tích
471,9m
2
đất ở tại nông thôn thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần
thửa đất số 34, tờ bản đồ số 33, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Địnhcho
ông Lê Văn T được quyền sử dụng.
6. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị L, ông Lê Văn C, ông Lê Văn T,
bà Lê Thị Hvề việc yêu cầu phân chia thừa kế tài sản 471,9m
2
đất ở tại nông thôn
thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6, nay là một phần thửa đất số 34, tờ bản đồ số
33, địa chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định vì không có căn cứ.
7. Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C về việc yêu
cầu thanh toán chi phí hợp lý cho việc nâng nền thửa đất số 675, tờ bản đồ số 6,địa
chỉ thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định với số tiền 95.392.000 đồng (Chín mươi
lăm triệu ba trăm chín mươi hai nghìn đồng). Ông Lê Văn T có nghĩa vụ thanh
toán cho vợ chồng ông Lê Văn C, bà Hồ Thị C số tiền 95.392.000 đồng (Chín
mươi lăm triệu ba trăm chín mươi hai nghìn đồng).
8. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Vợ chồng ông
Lê Văn C, bà Hồ Thị Cphải chịu số tiền 10.000.000 đồng (Mười một triệuđồng).
Ông Lê Văn T đã nộp tạm ứng số tiền trên nên buộc vợ chồng ông Lê Văn C, bà
Hồ Thị Ccó nghĩa vụ trả lại cho ông Lê Văn T số tiền 10.000.000 đồng(Mười
triệuđồng).
9. Về án phí:
9.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Lê Văn T; bà Lê Thị L; vợ chồng ông Lê Văn C,
bà Hồ Thị C; ông Lê Văn T; bà Lê Thị H được miễn nộp và không phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Lê Văn T số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự mà ông Lê Văn T đã nộp theo biên lai thu
tiền số 0001420 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
12
T, tỉnh Bình Định.
9.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn C là người cao tuổi nên được
miễn án phí theo quy định.
10. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
11. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
11.1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định
tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
11.2. Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy đinh tại điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định điều 30 luật thi
hành án dân sự.
12. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Định;
- TAND huyện T;
- Chi cục THADS huyện T;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Thanh Bình
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 24/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 09/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 07/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 05/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 03/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 03/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 26/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm