Bản án số 91/2025 ngày 12/05/2025 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 91/2025
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 91/2025
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 91/2025
Tên Bản án: | Bản án số 91/2025 ngày 12/05/2025 của TAND tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Định |
Số hiệu: | 91/2025 |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 12/05/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 91/2025/DS-PT
Ngày: 12 - 5 - 2025
V/v: Tranh chấp về yêu cầu
tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và
hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất vô hiệu.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Ông Phan Minh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Nga là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 02
năm 2025 về việc tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 457/2024/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm
2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 64/2025/QĐ-PT ngày
04 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1970; cư trú tại: Khu phố B,
phường B, thị xã H. (Có mặt)
2. Bị đơn:
- Chị Bùi Thị Kim O, sinh năm 1981; tạm trú tại: Chung cư M, V, thị xã
T, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Anh Bùi Xuân T, sinh năm 1991; cư trú tại: 2 đường C, Phường A, quận
B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

2
Người đại diện theo ủy quyền của chị O, anh T: Bà Trần Thị L, sinh năm
1959; cư trú tại: Số F Đô Đốc T, khu phố B, phường B, thị xã H. (Theo văn bản
ủy quyền ngày 10 tháng 9 năm 2024). (Có mặt)
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1959; địa chỉ thường trú tại: Khu phố T,
phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; tạm trú tại: Số F Đô Đốc T, khu phố B,
phường B, thị xã H. (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1935; cư trú tại: Khu phố B, phường B, thị
xã H. (Vắng mặt)
- Ông Võ Văn M, sinh năm 1976; cư trú tại: Số D đường N, Phường E,
quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông M: bà Trần Thị L, sinh năm 1959;
cư trú tại: Số F Đô Đốc T, khu phố B, phường B, thị xã H. (Theo văn bản ủy
quyền ngày 10 tháng 9 năm 2024)
- Bà Võ Tuyết K, sinh năm 1992; cư trú tại: Khu phố H, phường T, thị xã
H. (Vắng mặt)
- Văn phòng C; địa chỉ: Khu phố B, phường H, thị xã H. (Vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H.
Địa chỉ: Phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2, chức vụ: Chủ tịch. (Vắng
mặt).
4. Người kháng cáo: Bị đơn chị Bùi Thị Kim O và anh Bùi Xuân T, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L, ông Võ Văn M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên
đơn ông Trần Văn H trình bày:
Mẹ ông H là bà Nguyễn Thị T1, bà T1 được Nhà nước giao quyền sử
dụng đất tại 02 thửa đất gồm: Thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 và thửa đất số 57,
tờ bản đồ số 08 cùng địa chỉ tại khu phố B, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Đến năm 2016, mẹ ông tặng cho ông toàn bộ các thửa đất nói trên. Riêng thửa
đất số 57, tờ bản đồ số 08, Nhà nước đã làm thủ tục thu hồi, ông không có ý kiến
hay yêu cầu gì.
Năm 2020, vì đau bệnh nên ông làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất
và nhà ở cho hai cháu kêu ông bằng cậu ruột là chị Bùi Thị Kim O và anh Bùi
Xuân T (chị O, anh T là con ruột của bà Trần Thị L, chị ruột ông). Thời điểm
đó, ông mới đau dậy, người còn yếu nên chị O kêu taxi chở ông đến Văn phòng
C ở H để ký hợp đồng, đến nơi, chị O và anh T bảo ông ký vào hợp đồng đã
được lập sẵn, ông nhớ lúc ký hợp đồng là vào ngày 08/7/2020.
Khi làm thủ tục tặng cho, hai bên có thỏa thuận thống nhất là chị O, anh T
phải có trách nhiệm chăm nom, nuôi dưỡng ông H và mẹ ông (bà Nguyễn Thị
T1) đến cuối đời. Sau khi ký hợp đồng xong, chị O có đưa hai mẹ con ông H

3
vào Bình Dương sống chung với gia đình chị, nhưng sau đó được ba ngày thì
ông thấy việc chung sống không hòa thuận, hai bên phát sinh mâu thuẫn nên ông
đưa mẹ về quê sống tại nhà, đất đã tặng cho chị O, anh T. Qua tìm hiểu, thì ông
được biết vào ngày 08/7/2020, ông ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho chị O, anh T và hiện chị O, anh T đã hoàn tất thủ tục sang tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải ký hợp đồng tặng cho như hai
bên đã cam kết, từ đó, ông mới biết nội dung ông ký là không đúng sự thật. Nội
dung thật sự mà ông thỏa thuận với chị O, anh T là hai bên ký kết hợp đồng tặng
cho có điều kiện, tức chị O, anh T nhận nhà, đất và phải có nghĩa vụ chăm sóc,
phụng dưỡng mẹ con ông chứ ông không bán đất, cũng không nhận của chị O,
anh T số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) theo như hợp
đồng tại văn phòng C đã ghi.
Hiện nay, mẹ con ông đang là người quản lý, sử dụng nhà đất nói trên, do
đó, ông tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C chứng thực số 1127 quyển số 01
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/7/2020. Ngoài ra, theo ông được biết, hiện nay, chị
O, anh T đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại thửa đất nói trên cho
bà Trần Thị L, do đó, ông có đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu Tòa án tuyên vô
hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa chị O, anh T và bà L. Yêu cầu
giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là buộc bà L phải trả lại cho ông giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 tại khu phố B,
phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định. Ông không yêu cầu bồi thường thiệt hại hay
yêu cầu nào khác.
Ông H thống nhất với biên bản định giá và biên bản xem xét thẩm định tại
chỗ ngày 28/6/2023 và ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
- Tại Biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, người đại diện theo ủy quyền của chị Bùi Thị Kim O và anh Bùi Xuân T là
bà Trần Thị L trình bày:
Tại thời điểm hai bên xác lập hợp đồng số 1127 quyển số 01 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 08/7/2020 là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá
trị chuyển nhượng là 250.000.000 đồng, hai bên đọc rõ và ký xác nhận. Theo bà
được biết thì chị O và anh T giao số tiền 250.000.000 đồng cho ông H tại nhà
ông H trước khi hai bên đến Văn phòng công chứng ký hợp đồng, vì lúc đó bà đi
chợ nên không chứng kiến trực tiếp nhưng bà có nghe chị O, anh T nói lại. Vì
tin tưởng chỗ cậu cháu nên chị O, anh T không yêu cầu ông H viết giấy tờ gì thể
hiện việc giao nhận tiền.
Sau khi nhận chuyển nhượng xong, chị O và anh T đã ký hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất cho bà L để bà L giữ gìn hương hỏa ông bà.
Ông H cho rằng hai bên thỏa thuận ký hợp đồng tặng cho đất với điều
kiện chị O, anh T có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng ông H và bà T1 đến cuối
đời là không đúng. Trước đây ông H nhiều lần có ý định bán đất cho người khác
nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng được nên ông H mới gọi chị O và anh
T về chuyển nhượng rẻ cho con cháu trong nhà. Sau khi chuyển nhượng, thực tế,

4
anh T và chị O đều làm ăn xa, nên có đưa ông H và bà T1 vào chăm sóc một
thời gian nhưng sau đó ông H tự ý dẫn bà T1 về quê sinh sống. Nay ông H yêu
cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và
chị O, anh T; yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
giữa chị O, anh T và bà L và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
H là không phù hợp, bà không đồng ý. Bà cũng không yêu cầu Tòa giải quyết
hậu quả của hợp đồng vô hiệu vì các hợp đồng đã thực hiện nói trên đều hợp
pháp, đúng quy định của pháp luật.
Bà L thống nhất với biên bản định giá và biên bản xem xét thẩm định tại
chỗ ngày 28/6/2023 và ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Bà T1 là mẹ của ông H. Bà được Nhà nước giao quyền sử dụng đất tại 02
thửa đất gồm thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 loại đất vườn và đất ở; thửa đất số
57, tờ bản đồ số 08 đất lúa, cùng tọa lạc tại khu phố B, phường B, thị xã H, tỉnh
Bình Định. Tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 có 01 ngôi nhà do bà và con trai
và ông H tạo dựng nên, cây cối có trên đất là của bà. Đến năm 2016, bà làm thủ
tục tặng cho toàn bộ hai thửa đất nói trên cho ông H. Thực tế hiện nay bà và ông
H đang ở tại vị trí nhà, đất nói trên.
Vì bà đã tặng cho ông H nên mọi quyền quyết định liên quan đến nhà, đất
và tài sản khác có trên đất bà không liên quan, không có yêu cầu độc lập.
Bà đề nghị Tòa giải quyết vắng mặt vì tuổi cao, đi lại khó khăn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn M, chị Võ Tuyết K
ủy quyền cho bà Trần Thị L trình bày:
Anh M1 là chồng chị Bùi Thị Kim O, chị K là vợ của anh Bùi Xuân T.
Anh M1 và chị K thống nhất như ý kiến trình bày của chị O và anh T và bà L,
không trình bày hay bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 và thửa đất số 57, tờ bản đồ số
08 đất lúa tại khu phố B, phường B là của mẹ bà (bà Nguyễn Thị T1). Theo bà
được biết, năm 2016, mẹ bà làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho em trai
bà là ông Trần Văn H, việc tặng cho đất giữa mẹ và ông H đã được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký biến động sang tên cho ông H nên bà
không có ý kiến, yêu cầu hay khiếu nại gì. Còn thửa đất số 57, tờ bản đồ số 08
hiện nay đã được Nhà nước thu hồi, bà cũng không có ý kiến.
Trên thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 có 01 ngôi nhà là do mẹ bà xây dựng
vào khoảng năm 2000. Ngôi nhà cũ trước đây của cha mẹ bà đã được mẹ bà dọn
dở để xây dựng lại nhà mới. Năm 2020, ông H bị bệnh nên kêu hai con của bà là
chị Bùi Thị Kim O và anh Bùi Xuân T về với mục đích sang nhượng lại nhà đất
cho hai con bà. Hai bên thỏa thuận thống nhất là chị O, anh T mua lại toàn bộ
nhà, đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 với giá 250.000.000 đồng (hai trăm
năm mươi triệu đồng), đưa tiền trước khi làm thủ tục công chứng, sau đó, hai
bên cùng nhau đến Văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng, chị O, anh T

5
đã làm xong thủ tục sang tên, sau đó, chị O, anh T làm thủ tục tặng cho lại cho
bà với mục đích mong bà giữ gìn gốc tích, kỉ niệm của ông bà và có điều kiện
nuôi bà ngoại (là bà T1). Sau khi hoàn tất xong thủ tục chuyển nhượng thì chị O,
anh T có dẫn bà T1 và ông H vô Bình Dương chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng ông
H tự ý dẫn mẹ về ở lại ngôi nhà đã sang nhượng trước đó và có đơn khởi kiện
chị O, anh T như nội dung Tòa án đang giải quyết.
Nay ông H khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông H và chị O, anh T, yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà và chị O, anh T thì bà không đồng ý.
Bà có nguyện vọng là chia cho ông H một nửa diện tích đất tại phần đất có ngôi
nhà của mẹ để ông H ở và được toàn quyền quyết định, còn lại một nửa diện tích
đất thuộc quyền quản lý, sở hữu, sử dụng của bà để nếu sau này mẹ có đau ốm
thì bà có điều kiện để chăm sóc mẹ. Ngoài ra, hiện nay bà cũng đã viết di chúc
để lại tài sản cho các con cháu trong gia đình.
Bà thống nhất với biên bản định giá và biên bản xem xét thẩm định tại
chỗ ngày 28/6/2023 và ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
Bà cũng đã được Tòa án giải thích hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định
tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng bản thân bà không có yêu cầu giải
quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông H, chị O, anh T và hợp đồng tặng cho đất giữa chị O, anh T và bà là
hợp pháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay bà đang giữ và đã được
đăng ký biến động sang tên của bà xong.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện Văn phòng C trình bày:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1127, quyển
số 01 TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng viên chứng nhận ngày 08/7/2020,
bên chuyển nhượng là ông Trần Văn H, bên nhận chuyển nhượng là chị Bùi Thị
Kim O và anh Bùi Xuân T. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công
chứng 0761, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng viên chứng
nhận ngày 15/3/2021, trong đó bên tặng cho là vợ chồng chị Bùi Thị Kim O, anh
Võ Văn M, vợ chồng anh Bùi Xuân T, chị Võ Tuyết K (cũng là người yêu cầu
công chứng viên chứng nhận hợp đồng này), bên nhận tặng cho là bà Trần Thị
L.
Theo quy định tại điểm d, khỏa 2 Điều 17 Luật công chứng năm 2014,
công chứng viên đã giải thích cho các bên hiểu rõ về quyền, nghĩa vụ và lợi ích
hợp pháp, ý nghĩa pháp lý của họ, công chứng viên cũng yêu cầu các bên tự đọc
lại hợp đồng trước khi ký. Cùng theo nội dung hợp đồng thì việc thanh toán số
tiền 250.000.000 đồng do hai bên tự thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp
luật, nghĩa là hai bên tự lựa chọn việc giao nhận tiền và không yêu cầu công
chứng viên chứng kiến. Các khoản thuế, phí, lệ phí chị O và anh T chịu nộp theo
quy định của pháp luật. Nay ông H khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu hai hợp
đồng nói trên là không có cơ sở, đại diện Văn phòng C không đồng ý vì việc
giao kết hợp đồng là tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, các bên có đủ năng
lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm pháp
luật, không trái đạo đức xã hội.

6
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường B trình
bày:
Phần diện tích đất 189,8m
2
thuộc thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 tại Khu
phố B, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định do Ủy ban nhân dân phường Q. Hiện
tại chưa giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào. Ủy ban
nhân dân Phường đề nghị không xem xét giải quyết đối với phần diện tích đất
nói trên.
Bản án dân sự sơ thẩm số Bản án dân sự sơ thẩm số 457/2024/DS-ST
ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình
Định, Quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng
1127, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 08/7/2020 giữa ông Trần Văn H
và chị Bùi Thị Kim O, anh Bùi Xuân T và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
số công chứng 0761, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 15/3/2021 giữa
chị Bùi Thị Kim O, anh Võ Văn M, anh Bùi Xuân T, chị Võ Tuyết K và bà Trần
Thị L ký tại văn phòng C vô hiệu.
2. Buộc bà Trần Thị L trả cho ông Trần Văn H Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số vào sổ 01928 QSDĐ/A15 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày
17/01/1997. Bà L không được quyền sử dụng thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 tại
khu phố B, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định theo nội dung đăng ký biến động
do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh thị xã H xác nhận ngày
07/4/2021 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01928 QSDĐ/A15
nói trên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí
định giá và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
- Ngày 20/12/2024, anh Bùi Xuân T là bị đơn, bà Trần Thị L là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm;
- Ngày 25/12/2024, chị Bùi Thị Kim O là bị đơn, anh Võ Văn M là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm
Nôi dung kháng cáo của anh T, chị O, anh M và bà L đều yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 457/2024/DS-ST ngày 19/12/2024
của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng,
người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của
pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của anh Bùi Xuân T, chị Bùi Thị Kim O, bà Trần Thị L và anh Võ Văn M.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

7
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về sự có mặt của đương sự: Bị đơn chị Bùi Thị Kim O và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn M, chị Võ Tuyết K, đại diện theo
pháp luật của UBND phường B có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1, đại diện Văn phòng C đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2, khoản
3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Tòa án vẫn xét xử vắng mặt.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị Kim O, anh Bùi Xuân
T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L, anh Võ Văn M, thấy
rằng:
[2.1] Các bên đương sự khai thống nhất thửa đất số 70, tờ bản đồ số 8
(bản đồ năm 1997), diện tích: 348/576m
2
(200m
2
đất ở, 148m
2
đất vườn) (gọi tắt
là thửa đất số 70) tại phường B, thị xã H là của bà Nguyễn Thị T1 tặng cho
quyền sử dụng cho ông Trần Văn H đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai chỉnh lý biến động ngày 22/02/2016. Trên thửa đất có 01 ngôi nhà cấp 4 của
bà T1 và ông H.
Năm 2020, ông Trần Văn H lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
thửa đất số 70 cho chị Bùi Thị Kim O và anh Bùi Xuân T. Hợp đồng được Văn
phòng C chứng nhận ngày 08/7/2020. Được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai đăng ký biến động ngày 02/3/2021.
Năm 2021, chị Bùi Thị Kim O, anh Võ Văn M và anh Bùi Xuân T, chị Võ
Tuyết K lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 70 cho bà Trần Thị
L. Hợp đồng được Văn phòng C chứng nhận ngày 15/3/2021. Được Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai đăng ký biến động ngày 07/4/2021.
[2.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 08/7/2020,
thấy rằng:
[2.2.1] Về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản đúng theo quy định
tại Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 và có công chứng tại Văn phòng C đúng
theo quy định của Luật công chứng. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên
đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Ông H cũng thừa nhận chữ ký trong hợp
đồng là của ông.
[2.2.2] Về đối tượng chuyển nhượng: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có
tại hồ sơ và qua tranh tụng tại phiên tòa thấy rằng: Tại thời điểm lập hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 70 thì trên đất có 01 ngôi
nhà cấp 4 của bà T1 và ông H. Theo bà T1, ông H, bà L đều thừa nhận, ngôi nhà
trên trước đây là của bà T1 xây dựng, qua thời gian bị xuống cấp, hư hỏng nặng
nên đến năm 2000, bà T1 cùng ông H đã cùng nhau xây dựng lại ngôi nhà như
hiện nay. Qua xem xét, định giá tại Tòa án cấp sơ thẩm cho thấy trên thửa đất số
70 có 01 ngôi nhà cấp 4 cùng các công trình phụ và cây lâu niên có trên đất. Mặt
khác, tại Văn bản số 459/UBND-ĐC ngày 15/10/2024, Ủy ban nhân dân phường
B cũng xác định ngôi nhà tồn tại trên thửa đất số 70 là do bà T1 xây dựng sau

8
ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004. Trên đất còn công trình phụ và cây
lâu niên của bà T1 và ông H và thực tế bà T1 và ông H vẫn đang là những người
quản lý, sử dụng từ trước cho đến nay. Nhưng theo nội dung hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/7/2020 thì không thể hiện nội dung chuyển
nhượng quyền sở hữu tài sản (ngôi nhà) gắn liền trên đất là không đúng với hiện
trạng thực tế của thửa đất. Mặt khác, theo quy định tại Điều 162, Điều 163 Luật
Nhà ở năm 2023 thì giao dịch về nhà ở phải lập hợp đồng bằng văn bản. Vì vậy,
Hợp đồng chuyền nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với chị O, anh T có đối
tượng không thể thực hiện được theo quy đinh tại khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân
sự năm 2015. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 08/7/2020 giữa ông Trần Văn H với chị Bùi Thị Kim O
và anh Bùi Xuân T vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được là có căn
cứ.
[2.3] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/7/2020 vô hiệu
nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công
chứng 0761, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 15/3/2021 giữa chị O,
anh T và bà L vô hiệu là đúng theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 133 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
[3] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Theo quy định tại Điều
131 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hiện ông Trần Văn H đang quản lý nhà đất tại
thửa đất số 70 nên không phát sinh việc buộc trả nhà đất. Chị O và anh T cũng
không chứng minh được việc đã giao tiền chuyển nhượng đất trong khi ông H
không thừa nhận có nhận tiền chuyển nhượng đất nên Tòa án cấp sơ thẩm không
buộc ông H phải trả lại tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 70
cho chị O, anh T là có căn cứ.
Bà Trần Thị L phải trả lại cho ông Trần Văn H Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có số và sổ 01928 được Ủy ban nhân dân huyện H ký ngày 17/01/1997
cho ông Trần Văn H toàn quyền sử dụng.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, chị O, anh T, bà L, anh M không cung cấp
được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của các anh chị nên Hội
đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo.
[5] Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ nội
dung kháng cáo của chị Bùi Thị Kim O, anh Bùi Xuân T, bà Trần Thị L và anh
Võ Văn M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội, chị Bùi Thị Kim O, anh Bùi Xuân T và anh Võ Văn M mỗi người
phải chịu 300.000 đồng nhưng mỗi người được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0007019, 0007016, 0007017 ngày
30/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

9
[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về
việc giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận nội dung kháng cáo của chị O,
anh T, bà L và anh M, giữ nguyên Bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 167, 188 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ các Điều 122, 131, 407, 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị Kim O,
anh Bùi Xuân T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L, anh Võ
Văn M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 457/2024/DS-ST ngày 19 tháng
12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng
1127, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 08/7/2020 giữa ông Trần Văn H
và chị Bùi Thị Kim O, anh Bùi Xuân T và Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
số công chứng 0761, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 15/3/2021 giữa
chị Bùi Thị Kim O, anh Võ Văn M, anh Bùi Xuân T, chị Võ Tuyết K và bà Trần
Thị L ký tại văn phòng C vô hiệu.
3. Buộc bà Trần Thị L trả cho ông Trần Văn H Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số vào sổ 01928 QSDĐ/A15 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày
17/01/1997. Bà L không được quyền sử dụng thửa đất số 70, tờ bản đồ số 08 tại
khu phố B, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định theo nội dung đăng ký biến động
do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh thị xã H xác nhận ngày
07/4/2021 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01928 QSDĐ/A15
nói trên.
4. Về chi phí tố tụng và án phí:
4.1. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.000.000
đồng Chị Bùi Thị Kim O, anh Bùi Xuân T phải chịu, ông Trần Văn H đã nộp
tạm ứng nên buộc chị O, anh T phải có trách nhiệm trả lại cho ông H 3.000.000
đồng (ba triệu đồng).
4.2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị Kim O, anh Bùi Xuân T phải chịu
án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Bùi Thị Kim O, anh Bùi Xuân T và anh
Võ Văn M mỗi người phải chịu 300.000 đồng nhưng mỗi người được khấu trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0007019,

10
0007016, 0007017 ngày 30/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài
Nhơn.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Quyền và nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Định (1);
- TAND thị xã Hoài Nhơn (1);
- Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn (1);
- Các đương sự (9);
- Lưu: HCTP, Tòa Dân sự, hồ sơ vụ án (3).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đỗ Thị Thắm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/05/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 08/05/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 08/05/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 08/05/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/05/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 07/05/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 06/05/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 05/05/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 25/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 24/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 24/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 23/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 23/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 23/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 22/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 21/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 18/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 18/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 17/04/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm