Bản án số 27/BA ngày 15/07/2024 của TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 27/BA
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 27/BA
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 27/BA
Tên Bản án: | Bản án số 27/BA ngày 15/07/2024 của TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Tuy Phong (TAND tỉnh Bình Thuận) |
Số hiệu: | 27/BA |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 15/07/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TUY PHONG Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 27/2024/DS-ST
Ngày: 15 -7 - 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ
Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hà
Ông Nguyễn Nam Tiến
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thanh Thanh - Thư ký Tòa án huyện Tuy
Phong
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị
Bích Ngà – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 413/2023/TLST-DS ngày 27/12/2023
về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
43/2024/QĐST-DS, ngày 10/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số
26/2024/QĐST - DS, ngày 28/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng A
Địa chỉ: Số 266 - 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, quận 3,
thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn D – Chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: ông Phan Văn T – Chức vụ: Trưởng phòng giao
dịch Phan Rí Cửa (Theo Văn bản ủy quyền số 3272/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022.
Bị đơn: Bà Huỳnh Th, sinh năm 2004.
Địa chỉ: thôn 03, xã B, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
(Có mt ông Phan Văn T; Vng mt bà Huỳnh Th).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn Ngân hàng A trình bày:
Vào ngày 02/11/2022, bà Huỳnh Th có ký với Ngân hàng A – Chi nhánh
Bình Thuận – PGD Phan Rí Cửa (gọi tt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín
2
dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và
Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được
gọi chung là Hợp đồng) với hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng với mục đích là
tiêu dùng, số thẻ 472074 -2322, lãi suất áp dụng là 2,77%/ tháng.
Sau khi được cấp thẻ bà Huỳnh Th thực hiện giao dịch với tổng số tiền
15.825.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà Huỳnh Th đã thanh toán cho
Ngân hàng số tiền 2.182.000 đồng. Số tiền lãi, phí phát sịnh là 6.978.424 đồng (chi
tiết theo bảng tóm tt sao kê). Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản
Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Sacombank: Ưu
tiên thanh toán phí lãi trước, giao dịch sau.
Tính đến ngày 10/10/2023 bà Huỳnh Th còn nợ ngân hàng số tiền
20.621.424 đồng. Qua nhiều lần làm việc nhc nhở nhưng bà Huỳnh Th không có
thiện chí trả nợ. Do bà Huỳnh Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bảng
điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên
Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Huỳnh Th và chuyển toàn bộ dư
nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 bảng điều khoản và Điều kiện phát hành và
sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Mc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Huỳnh Th có trách nhiệm thanh toán, tuy
nhiên bà Huỳnh Th vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi
phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký. Nên ngày 14/11/2023 Ngân
hàng đã có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Yêu cầu bà Huỳnh Th phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc 15.825.000 đồng,
các loại phí và lãi tạm tính đến ngày 15/7/2024 là 11.580.180 đồng (trong đó lãi là
10.551.590 đồng, phí trễ hạn 608.590 đồng, phí vượt hạn mức 300.000 đồng, phí
thường niên 120.000 đồng) tổng cộng 27.405.180 đồng (Hai mươi bảy triệu bốn
trăm lẻ năm ngàn một trăm tám mươi đồng).
Yêu cầu bà Huỳnh Th có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày
16/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định hai bên đã ký tại giấy
đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02 tháng 11 năm 2022.
Đối với bị đơn bà Huỳnh Th, sau khi Tòa án thụ lý vụ án ngày 20/02/2024,
qua xác minh tại thôn 03, xã B, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận thì bà Huỳnh
Th không có mt ở địa phương mà đang ở nhà chồng ở Hòa Minh, nhưng thôn
không biết địa chỉ chính xác ở Hòa Minh, do đó Tòa án đã tiến hành tống đạt cho
gia đình bà Huỳnh Th nhưng gia đình từ chối nhận văn bản và không cho biết nơi ở
mới của bà Huỳnh Th. Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn biết
về việc khởi kiện của Ngân hàng A tại gia đình bà Huỳnh Th. Ngày 03 tháng 3 năm
2024 Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 19 tháng 3 năm 2024 Tòa án
tiến hành niêm yết hợp lệ thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn vẫn cố tình vng mt cũng như không
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án,
Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
3
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và
đảm bảo đúng nguyên tc xét xử.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của nguyên đơn: đã thực hiện đầy đủ quyền
và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của bị đơn: bị đơn không thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Tòa án đã niêm yết
các văn bản tố tụng nhưng bà Huỳnh Th vng mt không có lý do tại phiên họp
công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa ngày 28/6/2024, tại phiên tòa hôm nay bà
Huỳnh Th tiếp tục vng mt không có lý do nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227
BLTTDS xét xử vng mt bị đơn bà Huỳnh Th là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ
luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 463 Bộ luật dân sự, Điều 91, Điều 95, Điều 98
Luật tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 của Ngân
hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh
Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà
Huỳnh Th phải trả cho Ngân hàng A số nợ 15.825.000 đồng, các loại phí và lãi tạm
tính đến ngày 15/7/2024 là 11.580.180 đồng, tổng cộng 27.405.180 đồng (Hai mươi
bảy triệu bốn trăm lẻ năm ngàn một trăm tám mươi đồng) và lãi phát sinh từ ngày
16/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định hai bên đã ký tại giấy
đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02 tháng 11 năm 2022.
Về án phí: Bà Huỳnh Th phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Huỳnh Th có nơi cư trú tại thôn 03, xã B,
huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân huyện Tuy Phong theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Th trả tiền nợ vay
theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nên xác định đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp
đồng tín dụng” quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao nhận các văn bản
tố tụng cho bị đơn, bị đơn bà Huỳnh Th vng mt tại phiên tòa ngày 28/6/2024, tại
phiên tòa hôm nay bà Huỳnh Th tiếp tục vng mt không có lý do. Do đó, Hội đồng

4
xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xử vng mt bị
đơn bà Huỳnh Th theo quy định của pháp luật đồng thời căn cứ trên cơ sở các tài
liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xét xử.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày
02/11/2022 có cơ sở xác định giữa Ngân hàng với bà Huỳnh Th có thỏa thuận với
nhau về việc Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho bà Huỳnh Th để tiêu dùng cá nhân
với hạn mức là 15.000.000đ, số thẻ 472074 -2322, lãi suất áp dụng là 2,77%/ tháng.
Xét sự thỏa thuận giữa bà Huỳnh Th với Ngân hàng xuất phát từ sự tự nguyện, nội
dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội,
hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với các Điều 401, Điều 402, Điều 405
của Bộ luật dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực thi hành đối với các chủ thể
tham gia.
[2.2] Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài
Gòn Thương Tín yêu cầu bà Huỳnh Th phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc
15.825.000 đồng, các loại phí và lãi tạm tính đến ngày 15/7/2024 là 11.580.180
đồng (trong đó lãi là 10.551.590 đồng, phí trễ hạn 608.590 đồng, phí vượt hạn mức
300.000 đồng, phí thường niên 120.000 đồng) tổng cộng 27.405.180 đồng (Hai
mươi bảy triệu bốn trăm lẻ năm ngàn một trăm tám mươi đồng).
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định sau khi
được cấp thẻ tín dụng bà Huỳnh Th đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là
15.825.000 đồng, và đã thanh toán cho Ngân hàng được 2.182.000 đồng tính từ
ngày kích hoạt thẻ. Do bà Huỳnh Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng
đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số nợ sang nợ quá hạn, áp dụng
lãi suất nợ quá hạn.
Tại Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín
dụng quy định “… số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi
trước sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch.” Căn cứ Điều 2 của bản Điều
khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định “… Chủ thẻ có trách
nhiệm đối với việc thanh toán tất cả giao dịch và tất cả các khoản phí, chi phí phát
sinh…. .”.
Tại Điều 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng
quy định: “Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố áp
dụng tại thời điểm hiện tại) …”.
Xét việc bà Huỳnh Th không thanh toán nợ cho Ngân hàng đã vi phạm nội
dung thỏa thuận được quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát
hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc
bà Huỳnh Th trả nợ gốc, các loại phí và nợ lãi là có cơ sở, phù hợp theo quy định
tại Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
[2.3] Theo quy định tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 thì “…Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà

5
các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày
xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận
nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật…”; “Mức lãi suất hai bên thỏa
thuận hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận
trong hợp đồng hoc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức
lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn”,
nên yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà Huỳnh Th phải tiếp tục chịu tiền lãi
phát sinh từ ngày 16/7/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất đã
thỏa thuận tại hợp đồng là có cơ sở.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử, nên chấp nhận.
[4] Về phần án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
bà Huỳnh Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1,
2,4 Điều 91; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 280; Điều 463; Khoản 1 Điều 466: Điều 468 Bộ luật dân sự
năm 2015;
Căn cứ thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 hướng dẫn quy
định về hợp đồng cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với bà Huỳnh Th.
2. Buộc bà Huỳnh Th phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc 15.825.000 đồng,
các loại phí và lãi tạm tính đến ngày 15/7/2024 là 11.580.180 đồng, tổng cộng
27.405.180 đồng (Hai mươi bảy triệu bốn trăm lẻ năm ngàn một trăm tám mươi
đồng) và lãi phát sinh từ ngày 16/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất
quy định hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02
tháng 11 năm 2022. Trường hợp trong hợp đồng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận
về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi
suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết
định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của
Ngân hàng cho vay.

6
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
3. Về án phí: Bà Huỳnh Th phải nộp 1.370.259 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng A số tiền 515.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền
số 0020292 ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mt nguyên đơn, báo
cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
Bị đơn vng mt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt
hoc niêm yết công khai bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Tòa án ND Tỉnh Bình Thuận;
- VKSND huyện Tuy Phong;
- Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ. Lâm Thị Mỹ Kỷ
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 15/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 07/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm