Bản án số 1048/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1048/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1048/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1048/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1048/2026/DS-PT Bản án số 1048/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1048/2026/DS-PT Bản án số 1048/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số:1048/2026/DS-PT
Ngày: 18 - 8 - 2026
V/v Tranh chấp chia thừa kế tài
sản; Yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng hiệu, Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất; Yêu cầu công nhận tài sản
riêng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CN THƠ
- Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Mạc Thị Chiên
Lê Thị Minh Trang
Hà Thị Phương Thanh
- Thư phiên tòa: Trần Khánh Linh Thư ký viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Tô Hoàng Ơn
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 8 m 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 1008/2026/TLPT-DS ngày 03
tháng 07 năm 2026 về việc: “Tranh chấp chia thừa kế tài sản, yêu cầu tuyên bố văn
bản công chứng hiệu, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
yêu cầu công nhận tài sản riêng”.
Do Bản án dân sự thẩm số 89/2026/DS-ST ngày 24/03/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1279/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 1156/2026/QĐ-PT
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị X, sinh ngày 01/01/1955; CCCD số
************; Cấp ngày 25/08/2022; (có mặt)
Địa chỉ: số nhà B, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị X, ông Võ Đình C, Văn N,
bà Thị T (T5): Thị Lệ T1; địa chỉ: số E, đường P, phường S, thành phố
Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Văn H, sinh ngày 11/11/1985; CCCD số ************;
Cấp ngày 25/09/2022. Số điện thoại: 0972.104.838; (có mặt)
Địa chỉ theo đơn phản tố: số nhà B, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ hiện nay: tổ A, khu phố N, khu V, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Cần Thơ; có đơn xin xét xử vắng mặt;
Địa chỉ: xã A, thành phố Cần Thơ.
2. Bà Võ Thị T (T5); (có mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
3. Ông Võ Thành T2; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp N, xã C, thành phố Cần Thơ.
4. Ông Văn N, sinh ngày 09/04/1980; CCCD số ************; Cấp ngày
28/06/2021; (có mặt)
Địa chỉ: số G, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
5. Ông Võ Đình C, sinh năm 1982; (có mt)
Địa chỉ theo đơn yêu cầu: số B, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ;
Nơi cư trú hiện nay: ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ.
6. Bà Nguyễn Th H1;
Địa chỉ: số C, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ. (đã chết ngày 30/12/2022).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan cụ Nguyễn Thị H1:
6.1. Bà Võ Thị B; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
6.2. Ông Võ Văn T3; (vắng mặt)
Địa chsố G, đường T, phường P, thành phố Cần Thơ.
6.3. Ông Võ Văn Q; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
6.4. Bà Võ Thị Ú; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp R, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
6.5. Ông Võ Văn H2; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
3
6.6. Ông Võ Văn C1, không rõ năm sinh; định cư tại nước C Pháp (không rõ
địa chỉ cụ thể); (vắng mặt)
6.7. Thị H3, không năm sinh; định tại Đài Loan (không địa
chỉ cụ thể); (vắng mặt)
6.8. Bà Võ Thị L, không rõ năm sinh; định cư tại Đài Loan (không rõ địa chỉ
cụ thể); (vắng mặt)
Nơi trú sau cùng tại Việt Nam của ông Văn C1, bà Thị H3,
Thị L: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
6.9. Bà Võ Thị T (T5); (con ông Võ Thanh X1 đã chết năm 2018); (có mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
6.10. Ông Thành T2; (con ông Thanh X1 đã chết năm 2018); (vắng
mặt)
Địa chỉ: ấp N, xã C, thành phố Cần Thơ.
6.11. Ông Võ Văn N; (con ông Võ Thanh X1 đã chết năm 2018); (có mặt)
Địa chỉ số nhà G, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
6.12. Ông Đình C; (con ông Võ Thanh X1 đã chết năm 2018); (có mặt)
Địa chỉ: số B, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
Nơi cư trú hiện nay: ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ.
6.13. Ông Võ Văn H; (con ông Võ Thanh X1 đã chết năm 2018); (có mặt)
Địa chỉ số nhà B, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ;
Nơi cư trú hiện nay: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
6.14. Thị Hồng B1; (con ông Văn L1 đã chết năm 2015); (vắng
mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
6.15. Thị Hồng D; (con ông Văn L1 đã chết năm 2015); (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
7. Ông Võ Văn H2; (vắng mặt)
Địa chỉ: số C, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
8. Ông Huỳnh Phi Quốc T4; sinh ngày 01/3/1976; CCCD số ************;
Cấp ngày 22/11/2021.Số điện thoại: 0983.533534; (có mặt)
Địa chỉ: số nhà B, đường A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Thị Yến O, sinh ngày 24/12/1990; CCCD số ************; Cấp
ngày 25/09/2022; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
4
Địa chỉ hiện nay: tổ A, khu phố N, khu V, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
10. Bà Nguyễn Thị Mỹ P; (vợ ông Võ Đình C); (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ.
11. Bà Phan Th L2, sinh ngày 01/01/1965; (vắng mặt)
12. Ông Võ Văn K, sinh ngày 01/01/1965; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: số nhà B, ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị X nguyên đơn, ông Võ Văn N,
Thị T5 (Thấm), ông Đình C là người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, vụ án được tóm tắt lại như sau:
- Tại phiên Tòa, đi diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị X ông
Nguyễn Khánh T6 trình bày:
Hộ gia đình Phạm Thị X gồm 7 người: Võ Thanh X1, sinh năm: 1956
(đã chết ngày 07 tháng 7 năm 2018), Phạm Thị X, sinh năm: 1955, Thị T, sinh
năm 1976, Thành T2, sinh năm: 1978, Văn N, sinh năm 1980, Đình C,
sinh năm: 1982 và Võ Văn H, sinh năm: 1985;
Hộ gia đình Phạm Thị X quyền sử dụng đất là thửa đất số 466, tờ bản
đồ số 01, diện tích 7.869,2m
2
(đất ONT: 300m
2
+ 7.569,2m
2
đất CLN), địa chỉ thửa
đất: ấp A, A, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 176/AA
124026 do UBND huyện C cấp ngày 13 tháng 8 năm 2004 do chồng bà Phạm Thị X
là ông Võ Thanh X1 đứng tên người đại diện, trên thửa đất này có một căn nhà kiên
cố, 01 ngôi mộ của chồng bà Phạm Thị X và rất nhiều ăn quả, cây lâu năm khác do
Phạm Thị X là người trực tiếp quảnsử dụng.
Ngày 07 tháng 7 năm 2018 chồng bà Phạm Thị X chết nhưng không để lại di
chúc, nên đến ngày 18 tháng 5 năm 2020 ông Võ Văn H yêu cầu bà Phạm Thị X
văn bản phân chia di sản thừa kế di sản của ông Thanh X1 để lại một phần
diện tích thửa đất số 466, tờ bản đ số 01, diện tích 7.869,2m
2
(đất ONT: 300m
2
+7.569,2m
2
đất CLN), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 176/AA 124026
do UBND huyện C cấp ngày 13 tháng 8 năm 2004.
Tại văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 18 tháng 5 năm 2020
do Ủy ban nhân dân A, huyện C (cũ) soạn thảo chứng thực có nội dung thỏa
thuận vượt quá phần di sản của ông Võ Thanh X1 để lại và nội dung văn bản không
đúng như ý chí thỏa thuận ban đầu của những người thừa kế, do Võ Văn H đã lừa
dối bà Phạm Thị X trước khi không đọc kỹ văn bản thỏa thuận phân chia di sản
5
cho đến nay xem lại thì phát hiện Văn H được phân chia di sản thừa kế
đứng tên diện tích đất 5.167,8m
2
ất CLN 5.067,8m
2
+ đất ONT 100m
2
), bà Phạm
Thị X được phân chia và đứng tên 3.298,9m
2
đất;
Nay bà Phạm Thị X cho rằng đất của hộ gia đình gồm: Thanh X1, Phạm
Thị X, Thị T, Thành T2, Văn N, Đình C Văn H. vậy, khi
ông Võ Thanh X1 chết thì phát sinh phần di sản thừa kế của ông Thanh X1 trong
thửa đất kể trên (khoảng gần 1.200m
2
- một phần bảy diện tích đất thửa đất số 466,
tờ bản đồ số 01) phần đất còn lại vẫn tài sản chung của các thành viên trong gia
đình, chứ không phải toàn bộ thửa đất 466, tờ bản đồ số 01, diện tích 7.869,2m
2
di sản của ông Võ Thanh X1 chết để lại.
Việc Ủy ban nhân dân xã A, huyện C Dung chứng thực văn bản phân chia di
sản thừa kế ngày 18 tháng 5 năm 2020 nội dung giao cho ông Võ Văn H diện tích
đất 5.167,8m
2
là không đúng với quy định của pháp luật về thừa kế, định đoạt vượt
quá phần di sản của người chết để lại, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp đến quyền
về tài sản của bà và các thành viên trong hộ gia đình bà Phạm Thị X.
Nay bà Phạm Thị X khởi kiện để yêu cầu Tòa án xem xét: Tuyên bố hiệu
hủy toàn bộ văn bản phân chia di sản thừa kế của ông Thanh X1 được Ủy ban
nhân dân A, huyện C (nay xã A, thành phố Cần Thơ) chứng thực ngày 18 tháng
5 năm 2020; công nhận thửa đất số 466, tờ bản đồ số 01, diện tích 7869,2m
2
ất
ONT: 300m
2
+7.569,2m
2
đất CLN) quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình
Phạm Thị X gồm có 7 thành viên là: ông Võ Thanh X1, bà Phạm Thị X, bà Thị
T, ôngThành T2, Võ Văn N, ông Võ Đình Công Văn H; chia di sản thừa
kế của ông Thanh X1 đlại một phần thửa đất số 466, tờ bản đồ số 01, diện
tích khoảng gần 1.200m
2
nêu trên theo quy định của pháp luật làm 07 phần bằng
nhau cho 07 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Phạm Thị X nguyện vọng nhận toàn bộ di sản của ông Thanh X1 để
lại là diện tích khoảng gần 1.200m
2
thuộc một phần diện tích của thửa đất s466, tờ
bản đồ số 01 nêu trên (theo giá trị mỗi mét đất tranh chấp hiện nay khoảng 200.000
đồng/m
2+
) Phạm Thị X sẽ trả giá trị phần thừa kế cho các đồng thừa kế được
nhận là: c Nguyễn Thị H1, Thị T, ông Võ Thành T2, ông Võ Văn N, ông
Đình C và ông Võ Văn H.
Ngày 27/10/2025, nguyên đơn là bà Phạm Thị X đơn khởi kiện bổ sung với
nội dung như sau:
6
Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9 Cần Thơ xem xét giải quyết tuyên bố
vô hiệu toàn bhợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ Văn H
ông Huỳnh Phi Quốc T4 ngày 26/10/2021 đối với diện tích đất 5.167,8m
2
(theo hợp
đồng công chứng số 4375 quyển số 10/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/10/2021
tại Văn phòng C3).
- Theo đơn phản tố ngày 11/02/2025, các lời khai trong hồ vụ án; bị đơn
là ông Võ Văn H trình bày:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không phù hợp với quy định của pháp
luật và xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ông H nên ông H không đồng ý:
Thứ nhất, thửa đất số 466, tờ bản đồ số 01, diện tích 7.869.2m² có nguồn gốc
đất do ông bà nội ông (ông Văn T7 và Nguyễn Thị H1) cho tặng riêng ba
ông là Võ Thanh X1 và chú ông là Võ Văn H2. Năm 2004, ông X1 làm thủ tục cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện C cấp GCN QSDĐ số
176/AA 124026 ngày 13/8/2004 với diện tích 7.869,2m² (đất ONT: 300m²
+7.569,2m² đất CLN) trong đó bao gồm luôn cả phần diện tích đất ông nội
ông đã cho ông H2 (diện tích khoảng 2.000m²). Tuy ba ông H người đứng tên
người sử dụng trên giấy tờ nhưng chú H2 vẫn là người thực tế trực tiếp sử dụng đối
với phần diện tích đất (khoảng 2.000m²) này kể từ khi được ông nội cho. Chú Hát
cải tạo phần đất thành 03 liếp ngang, 02 liếp ngang và 01 biền mé rạch để trồng dừa
các cây ăn trái khác. Chú H2 sử dụng liên tục cho đến khi bán cho ông H vào cuối
năm 2019.
Thứ hai, lúc sinh thời ba ông X1 đã phân chia đất cho các anh em ông mỗi
người một phần đất. Trong đó chia cho bốn (04) người con trai mỗi người hơn
1.000m², phần nhà đất còn lại để cho mẹ ông, còn chị 2 ông do con gái đã đi
lấy chồng nên ba ông H không chia đất cho nữa. Sau khi được phân chia thì phần
đất của người nào người đó canh tác, sử dụng, tất cả các thành viên trong gia đình
không ai có ý kiến hay tranh chấp. Trong đó, phần đất được chia cho anh Võ Thành
T2, anh T2 đã bán lại cho ông phần đất này vào năm 2018 do anh đi làm ăn xa
không nhu cầu ở trên phần đất này. Sau khi ông X1 chết, năm 2020 ông nhu
cầu làm sổ sang tên để thuận tiện vay mượn làm ăn nên đã thông báo với mẹ và các
anh trong gia đình vviệc tách sổ riêng cho từng người, khi đó mẹ và các anh chị
ông đồng ý không tranh chấp. Tại thời điểm đó ông Văn N ông Đình
C còn phát biểu phần đất của hai anh được ba ông H chia sẻ để cho mẹ ông H đứng
tên làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn chi phí đo đạc làm sổ ông H phải
7
tự lo. Do đó, gia đình lập văn bản phân chia di sản thừa kế tại UBND xã A chỉ là để
hợp thức hóa và bổ túc hồ sơ cho việc làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
mọi người. Nội dung thỏa thuận trong văn bản phân chia di sản thừa kế tại UBND
A phù hợp với thực tế, ý nguyện của ba ông lúc còn sống và mẹ, các anh chị
ông hoàn toàn biết và hiểu rõ ni dung trong văn bản phân chia này.
Thứ ba, thửa đất 1212, ông đã được cấp GCN QSDĐ số CU 062572 ngày
21/8/2020 nguồn gốc từ phần đất của ông được ba ông cho (khoảng hơn
1.000m²) phần đất do ông H mua lại của chú Văn H2 khoảng 2.000m² vào
ngày 24/9/2019 với giá 120.000.000 đồng (gồm 3 liếp ngang + 2 liếp ngạn 1 biền
rạch), đất mua lại của anh Thành T2 khoảng hơn 1.000m² vào ngày 29/8/2018
với giá 100.000.000 đồng (gồm 2 liếp đất).
Ông Võ Văn H u cầu Tòa án giải quyết:
1. Công nhận mt phần thửa đất số 466, tờ bản đồ số 01, diện tích 7.869,2m²
(đất ONT: 300m² + 7.569,2m² đất CLN), tọa lạc tại ấp A, A, thành phố Cần Thơ),
theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số 176/AA 124026 do UBND huyện C cấp
ngày 13 tháng 8 năm 2004 tài sản riêng thuộc quyền sdụng của ba ông H ông
Võ Thanh X1;
2. Công nhận Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 18/5/2020
được UBND xã A (nay xã A, thành phố Cần Thơ) chứng thực ngày 18/5/2020 là
hợp pháp, có hiệu lực pháp luật;
Trường hợp Tòa án có đủ sở xét thấy đất số 466, nêu trên thuộc quyền sử
dụng của hộ gia đình, đề nghị Tòa án xem xét công nhận cho ông H người
quyền sử dng đất hợp pháp đối với phần diện tích đất mà ông H đã mua lại của ông
Võ Văn H2 và ông Võ Thành T2.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Phi Quc T4:
Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 18/7/2023, ông Huỳnh Phi Quốc T4 trình bày:
Vào ngày 10/08/2021 ông H có kêu ông T4 giúp ông H mua lại miếng đất có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số
CU 062572 số vào sổ CS 01322 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh S cấp ngày
21/8/2020 cụ thể như sau: Thửa đất số 1212, tờ bản đồ số 1, diện tích: 5.167,8m
2
.
Sau khi ông T4 xem bản chính Giấy chứng nhận bản quyền sử dụng đất của ông H,
ông T4 thấy hợp lệ toàn bộ nên đồng ý mua miếng đất nói trên với giá là:
1.050.000.000 đồng và ông T4 đã đặt cọc 100.000.000 đồng. Đến ngày 26/10/2021
ông H ông T4 ra công chứng mua bán tại Phòng C4; địa chỉ số B, đường P,
8
Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và ông T4 đã nộp hồvào Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh c Trăng để được sang tên sử dụng đất ông
T4 đã trả cho ông H tổng số tiền 800.000.000 đồng, còn lại 250.000.000 đồng sau
khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T4 thì ông T4 thanh toán
đủ số tiền còn lại cho ông H.
Nhưng đến ngày 02/11/2021, ông T4 xuống nhận đất thì gặp X hai
người anh của ông H cầm dao và cầm gạch chạy đến định chém và chọi ông T4, còn
X thì đứng chửi ông T4, ông T4 điện thoại cho Công an A xuống giải quyết.
Sau đó, ông T4 nhận được thông báo của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai huyện C trả lời vào ngày 02/11/2021 (và cũng ngày ông T4 xuống nhận đất)
với nội dung theo đơn khiếu nại của bà Phạm Thị X, đất ông T4 nhận chuyển
nhượng hiện nay đang tranh chấp nên Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện
C trả hồ sơ lại cho ông T4. Việc ông H, X tranh chấp làm ảnh hưởng đến việc
ông T4 đăng xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ảnh hưởng đến
quyền, lợi ích hợp pháp của ông T4.
Nay ông T4 yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4375 quyển số 10/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 26/10/2021 tại Văn phòng C3 hiệu lực để ông T4 được làm thủ
tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, ông T4 đồng ý tiếp tục
trả cho ông H số tiền còn lại như đã thỏa thuận. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị X dẫn đến việc ông Văn H không
thực hiện được việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi ông T4 thì ông T4 yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc ông H có trách nhiệm trả lại cho ông T4 số tiền đã nhận
tổng cộng là 800.000.000 đồng và ông H phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền chênh
lệch do giá trị sử dụng đất tăng theo giá thị trường.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn C2 trình bày:
Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 27/10/2025, ông Võ Văn C2 trình bày:
Yêu cầu tòa án xem xét giải quyết tuyên bố hiệu hủy toàn bộ văn bản
phân chia di sản thừa kế của ông Võ Thanh X1 được Ủy ban nhân dân xã A, huyện
C, tỉnh Sóc Trăng (cũ) nay là UBND xã A, thành phố Cần Thơ chứng thực ngày 18
tháng 5 năm 2020;
Xem xét giải quyết tuyên bố vô hiệu toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông Văn H và ông Huỳnh Phi Quốc T4 đối với diện tích đất
9
5.167,8m
2
(đất CLN 5.067,8m
2
+ đất ONT 100m
2
) (theo hợp đồng công chứng số
4375 quyển số 10/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/10/2021 tại Văn phòng C3).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2026/DS-ST ngày 24/03/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị X theo đơn
khởi kiện ngày 28/12/2021 và đơn khởi kiện b sung ngày 27/10/2025.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Văn H theo đơn phản
tố ngày 11/02/2025.
3. Không chấp nhận toàn b yêu cầu độc lập của ông Võ Đình C theo đơn yêu
cầu độc lập ngày 27/10/2025.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Phi Quốc T4 theo đơn yêu cầu
độc lập ngày 18/7/2023.
4.1 Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số
1212, tờ bản đồ số 1, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 5.167,8m
2
,
diện tích đo đạc thực tế theo mảnh trích đo địa chính ngày 13/8/2022 là 5.032,8m
2
,
tọa lạc tại ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ giữa ông Huỳnh Phi Quốc T4 và ông
Văn H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C3 chứng
thực ngày 26/10/2021 là hợp pháp.
4.2 Buộc ông Văn H phải tiếp tc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Phi Quốc T4 tại thửa đất số 1212, tờ bản đồ số
1, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 5.167,8m
2
, diện tích đo đạc
thực tế theo mảnh trích đo địa chính ngày 13/8/2022 là 5.032,8m
2
, loại đất ONT +
CLN, trong đó 274,5m
2
đất nằm trong hàng lang lộ giới, tọa lạc tại ấp A, A,
thành phố Cn Thơ.
Phần diện tích 5.032,8m
2
có tứ cận như sau:
+ Hướng Đông giáp thửa đất số 1056 và 772 có các số đo: 60,98m + 12,45m
+ 18,62m + 19,08m.
+ Hướng Tây giáp đường trục chính nội đồng rạch miễu Lao D1 (cách
tim đường 4,5m) có số đo 58,96m.
+ Hướng Nam giáp thửa đất số 1213 có các số đo 4,8m + 71,4m.
+ Hướng Bắc giáp thửa đất số 466 các số đo: 4,7m + 14,9m + 1,0m +
4,6m + 1,8m + 0,6m + 6,5m + 1,8m + 2,8m + 8,3m + 24,4m + và giáp thửa đất số
458 có số đo 28,22m
Diện tích 5.032,8m
2
. (có sơ đồ kèm theo).
10
Khi ông Huỳnh Phi Quốc T4 có yêu cầu, quan Nhà nước thẩm quyền
căn cứ vào Bản án này để điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật tại thửa đất nêu trên cho ông Huỳnh Phi
Quốc T4.
4.3. Buộc ông Huỳnh Phi Quốc T4 chịu trách nhiệm thanh toán cho ông Võ
Văn H số tiền chuyển nhượng đất còn lại là 250.000.000 đồng.
5. Buộc ông Văn H phải nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Đình C 01
kỷ phần thừa kế của ông Thanh X1 chết để lại ông Đình C được hưởng
được quy đổi thành tiền là 228.846.444 đồng.
Ngoài ra bản án có tuyên về quyền kháng cáo, chi phí tố tụng và tiền án phí.
Ngày 07/4/2026, ông Văn N, Thị T5 (T), ông Võ Đình C
Phạm Thị X kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Sửa Bản
án dân sự sơ thẩm số 89/2026/DS-ST ngày 24 tháng 03 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 9 – Cần Thơ. Gồm các nội dung:
1. Đề nghị xem xét giải quyết tuyên bố vô hiệu toàn bộ văn bản phân chia di
sản thừa kế của ông Thanh X1 được Ủy ban nhân dân A, huyện C, tỉnh Sóc
Trăng (nay là xã A, thành phố Cần Thơ) chứng thực ngày 18 tháng 5 năm 2020.
2. Đề nghị xem xét, tuyên bố vô hiệu toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông Văn H ông Huỳnh Phi Quốc T4 ngày 26/10/2021 đối
với diện tích đất 5.167,8m
2
theo hợp đồng công chứng số 4375 quyển số 10/2021
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/10/2021 tại Văn phòng C3.
3. Đề nghị xem xét, giải quyết chia di sản thừa kế của ông Thanh X1 để
lại là ½ diện tích thửa đất số 466, tờ bản đồ số 01, diện tích 7.869,2m
2
.
Tại phiên tòa phúc thm các đương sự trình bày:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đình C, Thị T5 (Thấm),
Võ Văn N trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với những chứng cứ
nguyên đơn cung cấp. Ngoài ra, tại cấp sơ thẩm chưa làmvà đưa thiếu người liên
quan vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại.
Ông Văn N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận theo yêu cầu.
Thị T5 (T) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận theo yêu cầu.
11
Ông Võ Đình C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận theo yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa nêu quan điểm:
Về việc tuân thủ pháp luật: Tòa án thụ ván đúng thẩm quyền, xác định
đúng quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa những người tham gia tố tụng đã tuân
thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét kháng cáo của nguyên đơn và những người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở để chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm các
đương sự không cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng
cáo của mình. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm
thủ tc tố tụng và đề nghị hủy án là không cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn những người quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, giữ y
bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của ông Văn N, Thị T5, ông Đình C
Phạm Thị X nộp trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan người kế thừa quyền, nghĩa vtố tụng của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vắng mặt nhưng thuộc trường hợp đã có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn
cứ vào khoản 3 Điều 296 của B luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xquyết định
xét xử vắng mặt họ.
[3] Xét kháng cáo ông Văn N, bà Võ Thị T5, ông Võ Đình C và bà Phạm
Thị X:
[3.1] Xét yêu cầu đề nghị cấp phúc thẩm tuyên bố vô hiệu và hủy toàn bộ văn
bản phân chia di sản thừa kế của ông Thanh X1 được Ủy ban nhân dân A,
huyện C (nayA, thành phố Cần Thơ) chứng thực ngày 18 tháng 5 năm 2020: Xét
văn bản phân chia di sản thừa kế lập ngày 18/5/2020, thể hiện tất cả các thành viên
12
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ X1 bao gồm: Phạm Thị X, cụ Nguyễn Thị
H1, ông Võ Đình C, ông Võ Văn N, ông Võ Thành T2, bà Thị T và ông Võ Văn
H đã cùng tên vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên đối với
quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 466 theo số chứng thực 50 quyển số: 01
SCT/HĐ,GD. Trong quá trình giải quyết, chỉ ông Đình C người duy nhất
không thừa nhận chữ ký trong văn bản thỏa thuận Phân chia di sản thừa kế. Cấp sơ
thẩm đã trưng cầu giám định chữ ký của ông C.
[3.2] Tại Kết luận giám định số 29/KL-KTHS ngày 26/01/2026 của Phòng K1
- Công an thành phố C nội dung: Chký, chữ viết mang tên Đình C dưới
dòng chữ “Phạm Thị X: trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết
của Đình C trên các tài liệu mẫu so sánh hiệu M1, M2 không phải do cùng
một người ký, viết ra.”. Như vậy, xác định được ông C người không tên vào
văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 18/5/2020 đối với phần phân
chia di sản của cụ Thanh X1 để lại. Do đó, ông C được chia kỷ phần thừa kế
như cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp.
[3.3] Đối với những thành viên khác trong hộ gia đình đồng thời cũng là hàng
thừa kế thứ nhất của ông Thanh X1 mặc yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận
nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh lý do để hủy việc thỏa thuận. Tại
phiên tòa phúc thẩm ông Võ Văn N, Thị T5Phạm Thị X đều thừa nhận
tên vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Những người này đều cho rằng
khi không đọc nội dung của văn bản nên yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận không
có căn cứ để chấp nhận. Bởi vì, họ là những người đã trưởng thành, có đầy đủ năng
lực hành vi dân sự, họ đã tự mình định đoạt đối phần di sản thừa kế và phần tài sản
của mình đã được quan thẩm quyền chứng thực. Tại cấp thẩm, ng
không ai phản đối về việc ký tên vào văn bản thỏa thuận. Do đó, cấp sơ thẩm đã xác
định đối với kỷ phần của các đồng thừa kế gồm: cụ Nguyễn Thị H1, Thành T2,
Văn N, Võ Thị TPhạm Thị X đã giao kỷ phần di sản thừa kế cho ông H được
hưởng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ. Tại phiên
tòa phúc thẩm, đại diện của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án thẩm
do đưa thiếu người quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng không
có căn cứ nên không được chấp nhận.
[3.4] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4375
quyển số 10/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/10/2021 tại Văn phòng C3 giữa ông
T4 với ông H. Xét thấy, tại thời điểm ký kết hợp đồng, ông Võ Văn H đã được cấp
13
Giấy chứng nhận quyền sdụng thửa đất 1212 đúng theo quy định pháp luật, ông
T4 không biết không thể biết việc tranh chấp giữa hàng thừa kế của ông Thanh
X1. Cấp thẩm đã ổn định toàn bộ quyền sử dụng thửa đất 1212 theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mà ông H được cấp ngày 21/8/2020. Hiện tại, ông T4
ông H cùng thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đã kết, việc
giao kết hợp đồng là tự nguyện và được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
vậy cấp thẩm đã công nhận hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
T4 và ông H là phù hợp. Ông T4 xác định còn chưa thanh toán phần còn lại của giá
trị hợp đồng số tiền 250.000.000 đồng cấp sơ thẩm buộc ông T4 phải hoàn trả cho
ông H số tiền trên là phù hợp.
[4] Từ nhận định tn, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
Phạm Thị X, ông Võ Văn N, bà Võ Thị T5 (T), ông Võ Đình C.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Võ Văn H tự nguyện chịu phần chi phí giám
định và thu thập chứng cứ tổng cộng là 8.252.000 đồng, ông C đã np tạm ứng phần
này nên ông H sẽ hoàn lại cho ông C nên Hội đồng xét xử ghi nhận điều chỉnh
trong phần quyết định của bản án thẩm, còn các phần khác của bản án sơ thẩm
vẫn được giữ nguyên.
[6] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là
có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các
đương sự có kháng cáo phải chịu án phúc dân sự phúc thẩm theo quy định. Bà X là
người cao tui nên được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo ca ông Văn N, bà Võ Thị T5 (T), ông
Đình C Phạm Thị X. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 89/2026/DS-ST
ngày 24/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ. Điều chỉnh chi phí giám
định là 8.252.000 đồng ông H tự nguyện nộp để hoàn lại cho ông C.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
2.1. Bà Phạm Thị X được miễn án phí dân sự pc thẩm
14
2.2. Ông Võ Văn N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí
dân sự phúc thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007334
ngày 17/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí phúc thẩm.
2.3. Thị T5 (T) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007332
ngày 17/4/2026 của Thi hành án dân sự vào phố C thành án phí phúc thẩm.
2.4. Ông Võ Đình C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí
dân sự phúc thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007336
ngày 17/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ vào án phí phúc thẩm.
3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Cần Thơ;
- TAND Khu vực 9 - Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 9 –
Cần Thơ
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1048/2026/DS-PT Bản án số 1048/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1048/2026/DS-PT Bản án số 1048/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất