Bản án số 232/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 232/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 232/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 232/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế; Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 232/2026/DS-PT Bản án số 232/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 232/2026/DS-PT Bản án số 232/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 232/2026/DS-PT
Ngày 26 - 8 - 2026
“V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa và ông Nguyễn Xuân Trọng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đường Thái Sơn Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ cơ sở
2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ số: 141/2026/TLPT-DS ngày
08 tháng 6 năm 2026 về việc Tranh chấp chia di sản thừa kế; Tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu và Huỷ giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 25/2026/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2026/QĐ-DS ngày 04 tháng
8 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Đăng K, sinh năm 1961; Địa chỉ: Khu T, L,
tỉnh Phú Thọ;
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Đăng K: Ông Lê Văn C sinh
năm 1980; CCCD số ************; địa chỉ: Thôn T, C, thành phố Nội
(có mặt).
2. Bị đơn: Nguyễn Thị C1 sinh năm 1961; CCCD số ************;
địa chỉ: Đ, thôn B, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Bà Lê Thị S, sinh năm 1955; địa chỉ: Đ, thôn B, xã V, tỉnh Phú Thọ (vắng
mặt).
2
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị C1: Nguyễn Thị H,
sinh năm 1990; CCCD số ************; địa chỉ: Thôn A, T, tỉnh Phú Thọ
(có mặt) Nguyễn Quỳnh L, sinh năm 1997; CCCD số ************; địa
chỉ: Thôn C, Y, tỉnh Phú Thọ (có mặt) theo văn bản ủy quyền ngày
20/8/2026.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Trần Diệu L1, sinh năm 1999; địa chỉ: Đ, thôn B, V, tỉnh Phú
Thọ (vắng mặt).
3.2. Anh Trần Nhật D, sinh năm 1990; CCCD số ************; địa chỉ:
Đ, thôn B, xã V, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).
3.3. Bà Trần Thị T, sinh năm 1955; địa chỉ: Khu T, xã L, tỉnh Phú Thọ.
3.4. Ông Trần Văn P (tên gọi khác: T1), sinh năm 1963; CCCD số
************; địa chỉ: Khu T, xã L, tỉnh Phú Thọ.
3.5. Ông Trần Quốc T2 (tên gọi khác: K1), sinh năm 1966; CCCD số
************; địa chỉ: Khu B, xã X, tỉnh Phú Thọ.
3.6. Trần Thị Kim N (tên gọi khác: L), sinh năm 1968; CCCD số
************; địa chỉ: Khu L, xã L, tỉnh Phú Thọ.
3.7. Ông Trần Như P1, sinh năm 1979; CCCD s************; địa chỉ:
khu T, xã L, tỉnh Phú Thọ.
3.8. Ông Trần n Ả, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, E, tỉnh Đắk
Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền của Trần Thị T, ông Trần Quốc T2,
Trần Thị Kim N, ông Trần Văn P, ông Trần NP1 ông Trần Văn Ả:
Chử Thị Mỹ H1 sinh năm 1998; CCCD số ************; Địa chỉ: Tổ H, khu
B, phường N, tỉnh Phú Th (có mặt).
3.9. Cụ Phùng Thị N1 sinh năm 1945; Địa chỉ: Đ, thôn B, xã V, tỉnh Phú
Thọ (đã chết ngày 01/6/2025).
- Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Phùng Thị N1: Ông
Trần Như P1, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu T, L, tỉnh Phú Thọ ông Trần
Văn Ả, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk;
- Người đại diện theo u quyền của ông Trần Như P1 và ông Trần Văn :
Chử Thị Mỹ H1 sinh năm 1998; CCCD số ************; Địa chỉ: tổ H, khu
B, phường N, tỉnh Phú Th (có mặt)
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị C1 - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Trong đơn khởi kiện đngày 15 tháng 11 năm 2024 lời khai tiếp theo
tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
CTrần n P2 (chết năm 2001) cụ Thị T3 (chết năm 1976)
sinh được 06 người con gồm: (1) Trần Thị T sinh năm 1955, (2) ông Trần
Đình Đ sinh năm 1958 (chết năm 2011), (3) ông Trần Đăng K sinh năm 1961 (bị
đơn), (4) ông Trần Văn P sinh năm 1963, (5) ông Trần Quốc T2 sinh năm 1966
(6) bà Trần Thị Kim N sinh năm 1968. Ông Đ vợ Nguyễn Thị C1
sinh năm 1960 hai con Trần Nhật D sinh năm 1990 (con nuôi) Trần
Diệu L1 sinh năm 1999 (con đẻ);
Sau khi cụ T3 chết năm 1976, đến năm 1978 cụ P2 lấy vợ hai cụ
Phùng Thị N1 sinh năm 1945 và có 02 người con chung là: (1) ông Trần Như P1
sinh năm 1979 (2) ông Trần Văn sinh năm 1982; đến năm 2025 cụ Phùng
Thị N1 chết.
Gia đình ông K tài sản thửa đất số 241a, diện tích 216m
2
(theo sổ
mục kê 299) địa chỉ: Đ, thôn B, L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nay V,
tỉnh Phú Thọ (gọi chung thửa đất 241a) tài sản trên thửa đất gồm có: nhà cấp
bốn mái ngói 5 gian, nhà ngang 3 gian, giếng nước, bể nước, sân gạch các
công trình phụ trợ khác. Nguồn gốc thửa đất là của các cụ tổ tiên gia đình ông K
để lại. Sau khi cụ T3 chết, cụ P2 người trực tiếp sdụng đất cho đến năm
2001 lúc cụ P2 chết. Khi cụ P2 chết không để lại di chúc và các anh chị em gia
đình ông K cũng chưa tiến hành phân chia di sản thừa kế do cụ P2 để lại. Tuy
nhiên, đầu năm 2024, ông K mới biết ông Trần Đình Đ đã làm thủ tục
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) đối với thửa đất trên do bố
mẹ ông K để lại. Cụ thể ông Đ đã được cấp GCN số W 202481 đối với thửa đất
số 37, tờ bản đồ số 03, diện tích 258,2m
2
, số Quyết định 1579/UBND cấp ngày
26/12/2002. Sau khi ông Đ chết thì C1 (vợ ông Đ) các con đã làm thtục
phân chia di sản thừa kế của ông Đại Đ1 lại cấp đổi GCN từ thửa đất số 37,
tờ bản đồ số 03, diện tích 258,2m
2
thành 02 thửa đất số 1046 1047, tờ bản đồ
06 đứng tên bà Nguyễn Thị C1 chị Trần Diệu L1. Sau đó, bà Nguyễn Thị C1
đã tự ý phá dỡ một gian nhà lớn, 3 gian nhà ngang để san phẳng chuyển
nhượng một phần diện tích cho bà Thị S sinh năm 1955, địa chỉ: Đ, thôn B,
V, tỉnh Phú Thọ; việc làm của C1 đã xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi
ích hợp pháp của ông K những người được hưởng thừa kế di sản bố mẹ
ông K để lại.
Căn cứ vào quy định pháp luật thì những người thuộc hàng thừa kế thứ
nhất của cụ Trần Văn P2 là: (1) Phùng Thị N1; (2) bà Trần Thị T; (3) ông
4
Trần Văn P, (4) ông Trần Quốc T2, (5) Trần Thị Kim N, (6) ông Trần Như
P1, (7) ông Trần Văn (8) ông Trần Đình Đ (người hưởng suất thừa kế của
ông Đ do ông Đ đã chết gồm Nguyễn Thị C1, cháu Trần Nhật D và cháu
Trần Diệu L1). Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất này sẽ được hưởng
một phần di sản bằng nhau.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/11/2024, ông Trần Đăng K đề nghị Tòa án
nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ xem xét, giải quyết các yêu cầu:
1. Huỷ GCN đã được cấp đối với diện tích đất thuộc thửa đất nêu trên cho
bà Nguyễn Thị Chà .
2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
Nguyễn Thị C1 với Thị S hiệu; Huỷ GCN đã được cấp đối với diện
tích đất thuộc thửa đất nêu trên cho bà Lê Thị San .1
3. Đề nghị Toà án giải quyết chia di sản thừa kế mà bố mông K để lại
thửa đất số 241a, diện tích 216m
2
(nay là thửa đất số 1046 và 1047, tờ bản đồ
06) với tổng diện tích là 258,2m
2
, địa chỉ: Đ, thôn B, V, tỉnh Phú Thọ các
tài sản trên đất theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của ông K đề nghị Toà án giải
quyết các yêu cầu sau:
1. Huỷ GCN đã cấp đối với thửa đất số 241a, diện tích 216m
2
(nay là thửa
đất số 1046 1047, tbản đồ 06) với tổng diện tích 258,2m
2
, địa chỉ: Đ,
thôn B, xã V, tỉnh Phú Thọ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên
ông Trần Đình Đ; Huỷ GCN đã cấp đứng tên Nguyễn Thị C1 và chị Trần
Diệu L1,
2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn
Thị C1 với Thị S hiệu, huỷ GCN đã cấp đứng tên Thị S, buộc
C1 S phải trả lại thửa đất nói trên cho những người thuộc hàng thừa kế
thứ nhất của cụ Trần Văn P2.
3. Xác nhận di sản thừa kế của ông Trần Văn P2 chia thừa kế theo
quy định pháp luật. Toàn bộ phần thừa kế mà nguyên đơn được hưởng tgiao
lại cho ông Trần Văn P đứng tên và sử dụng, ông P không phải thanh toán giá trị
phần thừa kế được hưởng.
- Bị đơn là bà Nguyễn Thị C1 trình bày: Về quan hệ gia đình như phía ông
K (nguyên đơn) trình bày đúng. Khi còn sống, cụ P2 cụ T3 tạo dựng
được tài sản gồm: Thửa đất s37, tờ bản đồ số 03, diện tích 258m
2
, trên đất
01 nhà cấp bốn mái ngói 5 gian 03 gian công trình phụ. Sau khi cụ T3 chết
không để lại di chúc, cụ P2 (bố chồng bà) quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản. Năm
5
1982 bà kết hôn với ông Trần Đình Đ, sau khi kết hôn bà về chung sống cùng cụ
N1 trên thửa đất nói trên; còn ông Đ (chồng bà) L sống cùng cụ P2 các em
đến năm 1986 thì ông Đ về chung sống cùng bà L nay V. Cụ P2 sống
cùng con trai L - Phú Thọ đến năm 1990 thì về ở cùng vợ chồng bà. Quá trình
chung sống do vợ chồng bà có mâu thuẫn với cụ N1 nên cụ P2 nói với vợ chồng
mua cho cụ N1 thửa đất riêng để vợ chồng bà sử dụng toàn bộ thửa đất nói
trên. Vì vậy, năm 1986 vợ chồng đã bỏ tiền ra để mua 01 thửa đất thổ của
các ông Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn P3 và cụ Phùng Thị N2 (thể hiện trong
giấy biên nhận ngày 15/8/1986). Sau đó vợ chồng bà đã làm nhà cấp bốn để cho
cụ N1 02 con trên thửa đất vợ chồng bà đã mua. Đến năm 1999 cụ P3
sợ xảy ra tranh chấp đất đai nên đã yêu cầu vợ chồng sang tên thửa đất trên
cho cụ N1, sau đó sẽ sang tên cho vợ chồng thửa đất của hai cụ (thửa đất
đang tranh chấp). Khoảng năm 2000 - 2001 (ngày tháng không nhớ), cụ
Trần Văn P2 đã làm đơn đề nghị UBND L (cũ) nay V làm thủ tục sang
tên đất cho chồng ông Trần Đình Đ đứng tên, ngày 26/12/2002 chồng
đã được cấp GCN đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 03 diện tích 258.2m
2
đứng tên hộ ông Trần Đình Đ. Tại thời điểm m 2002 hộ gia đình ông Trần
Đình Đ chvợ chồng con gái Trần Diệu L1 sinh m 1999. Khi cụ
P2 và ông Đ (chồng bà) còn sống thì cụ P2 cho vợ chồng bà thửa đất nói trên lúc
này các anh chị em đều biết không ai ý kiến gì, đến nay sau khi cụ P2
ông Đ (chồng chết) thì các anh chị em lại thắc mắc về đất đai. Năm 2016
bà được cấp GCN đối với thửa đất số 829, tờ bản đồ số 6 diện tích 252,2m
2
.
Năm 2012 khi ông Trần Đình Đ chết thì đến năm 2015 đã làm thủ tục
phân chia di sản thừa kế tài sản của ông Đại để lại được cấp GCN đứng tên
mẹ con bà là Nguyễn Thị C1 Trần Diệu L1. Năm 2024 do khó khăn, cần tiền
nên bà đã cắt một phần diện tích đất 89,2m
2
để chuyển nhượng cho Thị S,
sau đó S đã được cấp GCN xây dựng công trình kiên cố trên đất để ở.
Ngày 31/7/2024 được cấp GCN đối với phần diện tích đất còn lại là 163m
2
thửa số 1047, tờ bản đồ số 06 (VN B) đứng tên Nguyễn Thị C1 Trần Diệu
L1.
Nay ông Trần Đăng K khởi kiện yêu cầu hủy GCN, trả lại tài sản là quyền
sử dụng đất chia di sản thừa kế quyền s dụng đất thì quan điểm của
không đồng ý với lý do:
Thứ nhất: Mặc thửa đất nguồn gốc của cụ P2 cụ T3 để lại nhưng
sau khi cụ T3 chết thì cụ P2 đã làm đơn đề nghị cấp GCN cho chồng đứng
tên; việc cho chồng thửa đất trên xuất phát từ việc vợ chồng đã mua thửa
6
đất khác để đổi cho cụ N1 ra riêng, cả gia đình đều biết sự việc đó, khi cấp
đất đứng tên ông Đ không ai có ý kiến gì; việc cấp GCN đứng tên ông Đ (chồng
bà) là hoàn toàn đúng quy định pháp luật nên không nhất trí yêu cầu Hủy
GCN và phân chia di sản thừa kế đối với tài sản nói trên.
Thứ hai, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa mẹ con bà với
Thị S đã được thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Hiện nay S đã
được cấp GCN và xây dựng công trình kiên cố để ở do vậy bà không đồng ý với
yêu cầu Hủy giấy GCN đối với thửa đất số 1046 tờ bản đồ s6 đứng tên
Thị San .1
Ngoài ra, khi cụ P2 còn sống thì chồng L với cụ P2 nên yêu cầu
chia tài sản của cụ P2 L theo quy định pháp luật. Cụ thể tài sản gồm những
thì bà không biết. Quá trình giải quyết vụ án cho đến tại phiên toà, C1 cũng
không cung cấp các tài liệu chứng cứ gì để chứng minh các tài sản của cụ P2 L
mà bà yêu cầu chia thừa kế.
Bị đơn Thị S đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần đều vắng
mặt. Qúa trình giải quyết vụ án, anh Văn S1 (là con rể của Thị S) đến
Toà án làm việc và cho biết: Toà án có thông báo cho bà S (mẹ vợ anh) đến Toà
để tham gia h giải phiên toà S tuổi cao, sức khoẻ yếu không thể đến
Toà án làm việc theo thông báo được. S (mẹ vanh) nói lại đã nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với mẹ con Chà đúng thực tế mẹ vợ
anh đang sử dụng đất không tranh chấp gì với mẹ con C1; hiện nay S
đã được cấp GCN đối với diện tích đất nói trên và đã xây dựng nhà ổn định
nên đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bao gồm: bà T, ông T2, N, ông P, ông P1 và ông : Chử Thị Mỹ H1
trình bày: Về quan điểm giải quyết vụ án, các ông hoàn toàn nhất trí với ý
kiến trình bày của ông K (nguyên đơn) và đề nghị Toà án giải quyết các yêu cầu
nói trên. Trường hợp chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 241a,
diện tích 216m
2
naythửa đất số 1046 và 1047, tờ bản đồ 06 với tổng diện tích
258,2m
2
thì các ông đề nghị giao cho ông Trần Văn P quản lý, sử dụng
không yêu cầu thanh toán giá trị tài sản thừa kế được chia.
Tại phiên toà người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Diệu L1
anh Trần Nhật D vắng mặt. Tại Biên bản làm việc ngày 26/01/2026 đối với
chị L1 Biên bản làm việc ngày 27/01/2026 đối với anh D thể hiện nội dung
chị L1 anh D đều trình bày: Chị L1 con gái đẻ và anh D là con nuôi của bà
Nguyễn Thị C1 ông Trần Đình Đ, về quan điểm như C1 đã trình bày tại
7
Toà án, chị L1 và anh D đều nhất trí toàn bộ theo như ý kiến của C1 đã trình
bày, không bổ sung thêm. Hiện nay chL1, C1 đang cùng với vợ chồng
anh D tại nhà đất riêng đứng tên bà C1, không liên quan gì đến thửa đất đang
tranh chấp. Khi C1 bán đất cho Thị S thì anh D chị L1 cũng đồng ý
bán đất nên việc mua bán hợp pháp, không ai ý kiến gì. Nay ông Trần
Đăng K đơn khởi kiện C1 thì quan điểm chị L1, anh D không đồng ý
nhất trí toàn bộ như lời khai của Nguyễn Thị Chà . Nếu việc chia di sản
thừa kế phần thừa kế của ông Đ được chia (là bố của các anh chị) thì chị L1
và anh D đều nhất trí giao lại cho bà C1 toàn quyền quản lý sử dụng, không có ý
kiến thắc mắc gì.
Tài liệu xác minh tại UBND V ngày 05/11/2025 thể hiện nội dung: Về
nguồn gốc thửa đất số thửa 241a, diện tích 216m
2
(theo sổ mục kê 299) ở đội D,
thôn B, L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nay V, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ theo Sổ
mục kê đất lập năm 2011 thể hiện: Thửa số 37 tờ bản đồ số 03 diện tích 258,2m
2
trong đó 200m
2
đất 58,2m
2
đất vườn đứng tên ông Trần Đình Đ; Căn cứ
vào sổ cấp GCN thể hiện số thứ tự cấp giấy số 00287 tên chủ sử dụng Trần Đình
Đ - Thôn B diện tích cấp 258,2m
2
, quyết định cấp giấy số 1577/QĐUB ngày
26/12/2002. Theo Bản đồ 299 thể hiện thửa số 37, tờ bản đồ 03 diện tích
258,2m
2
. Theo bản đồ VN 2000 thể hiện thửa số 829, tờ bản đồ số 06 diện tích
252,2m
2
. Năm 2016 gia đình bà Nguyễn Thị C1 đã làm thủ tục cấp GCN theo hệ
tọa độ VN thửa số 829, tờ bản đồ số 06 diện tích 252,2m
2
đứng tên Nguyễn
Thị C1, tuy nhiên không thể hiện trong sổ cấp GCN lưu tại UBND V. Năm
2024 Nguyễn Thị Chà L2 thủ tục tách thửa số 829, tờ bản đồ số 06 diện tích
252,2m
2
thành 02 thửa gồm: (1) thửa số 1046 diện tích 89,2m
2
đã được cấp
GCN đứng tên Trần Diệu L1 (con gái bà Nguyễn Thị C1) ngày 31/7/2024 và (2)
thửa số 1047 diện tích 163m
2
đã được cấp GCN đứng tên Nguyễn Thị C1 ngày
31/7/2024. Thủ tục cấp GCN của mẹ con bà C1 được làm tại văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất chi nhánh V nên UBND V không lưu trữ thông tin. Ngày
23/8/2024 Nguyễn Thị Chà L3 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
với Thị S tại Văn phòng C2, hai bên thỏa thuận Nguyễn Thị C1 chị
Trần Diệu L1 chuyển nhượng cho bà Lê Thị S thửa đất số 1046 diện tích 89,2m
2
đã được cấp GCN đứng tên chị Trần Diệu L1, do vậy hiện nay thửa đất số 1046
đã được cấp đổi sang tên Thị S ngày 19/9/2024; việc chuyển nhượng do
các bên thực hiện thông qua văn phòng công chứng, không làm thủ tục qua
UBND nên địa phương không nắm được. Qua kiểm tra đồ hiện trạng thửa
đất ngày 18/6/2025 do Công ty Đ2 cung cấp thể hiện thửa đất đứng tên
8
Thị S diện tích 89,6m
2
thửa đứng tên Nguyễn Thị Chà L4 162,1m
2
(có đồ chi tiết kèm theo biên bản thẩm định ngày 18/6/2025 của Tòa án).
Trên đất các công trình nhà xây cấp bốn đã các công trình phụ, toàn
bộ tài sản trên đất. do diện tích đất thực tế đo đạc so với diện tích đất được
cấp GCN diện tích đất theo VN2000 sự thay đổi không đáng kể do sai
số đo đạc. Sự việc tranh chấp giữa ông Trần Đăng K Nguyễn Thị C1 đã
được gửi đến UBND L (cũ) ngày 19/5/2024, UBND đã tiến hành hòa giải
vào ngày 04/6/2024 không thành nên các bên đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án
nhân dân huyện Vĩnh Tường nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ giải
quyết. Nay ông Trần Đăng K khởi kiện bà Nguyễn Thị C1 về việc tranh chấp đất
quan điểm địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Ngày 18/6/2025 Toà án tiến hành xem xét thẩm định định giá đối với
hai thửa đất tranh chấp số liệu cụ thể như sau:
Thửa đất số 1047, tờ bản đồ số 06 diện tích 163m
2
, địa chỉ thôn B,
V, tỉnh Phú Thọ đã được cấp GCN đứng tên Nguyễn Thị C1, đo đạc tại thực
địa diện tích 162,1m
2
trị giá đất 7.500.000đ/m
2
đất 1.500.000đ/m
2
đất vườn (trồng cây lâu năm); trên đất các công trình xây dựng (nhà xây cấp
bốn lợp Ploxi măng, tường bao loan, sân đổ tông) đã không còn giá trị sử
dụng nên không tiến hành định giá; 01 cây cau ăn quả trị giá 500.000đ; 01 cây
hồng xiêm trị giá 550.000đ. Thửa đất s 1046, tờ bản đồ số 6 diện tích
89,2m
2
, địa chỉ thôn B, V, tỉnh Phú Thọ đã được cấp GCN đứng tên
Thị S, đo đạc tại thực địa thửa đất diện tích 89,6m
2
, trên đất các công
trình xây dựng bao gồm: Nhà chính 01 tầng khép kín lợp tôn 02 lớp và sân gạch
đỏ (tài sản của bà Lê Thị S).
Căn cứ vào Công văn số 122/TTLTLSVP-HCTH ngày 27/11/2025 của
Trung tâm L5 cung cấp hồ cấp GCN đối với thửa số 37, tờ bản đồ số 03 diện
tích 258,2m
2
đứng tên hộ ông Trần Đình Đ bao gồm các tài liệu: Quyết định của
UBND L về việc thành lập Hội đồng đăng đất đai lập ngày 12/06/2002,
Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng đất đai L lập ngày 02/12/2002,
Danh sách đủ điều kiện cấp GCN thổ cư. Các tài liệu thể hiện ông Trần Đình Đ
đã nộp đơn xin đăng quyền sử dụng đất cho hộ gia đình do ông đứng đại
diện.
Vi nội dung trên, ti Bản án dân s thẩm s: 25/2026/DS-ST ngày 21
tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ đã quyết đnh:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165,
Điều 227, Điều 228 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 609, Điều
9
610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 649, Điều 650, Điều 651,
Điều 660, Điều 623, Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 Điều 167
Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đăng K về việc
“Tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất”.
Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Văn P2 để lại là 1/2 tài sản tương ứng
diện tích đất là 125,85m
2
(Trong đó 100m
2
đất 25,85m
2
đất vườn) và tài
sản trên đất.
Giao cho ông Trần Văn P được quyền quản sử dụng thửa đất số
1047 tờ bản đồ s03 diện ch 163m
2
(trong đó 110,8m
2
đất 52,2m
2
đất
vườn) theo GCN đứng tên Nguyễn Thị Chà S2 GCN DP 181430 chị Trần
Diệu L1 số GCN DP 181429 đều cấp ngày 31/7/2024, diện tích đất thực đo đạc
thực tế là 162,1m
2
(Trong đó 110,8m
2
đất ở và 51,3m
2
đất vườn) ở thôn B, xã V,
tỉnh Phú Thọ. (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Buộc ông Trần Văn P nghĩa vụ thanh toán trả Nguyễn Thị Chà kỷ
P4 thừa kế được hưởng bằng tiền là 205.000.000đ.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đăng K về việc:
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Thị C1
và bà Lê Thị S là vô hiệu;
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đăng K về việc Hủy
GCN đã cấp cho bà Lê Thị S đối với thửa đất số 1046, tờ bản đồ số 06.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về quyền yêu cầu thi hành
án; về chi phí tố tụng, ván phí tuyên quyền kháng cáo cho các đương s
theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 04 tháng 5 năm 2026 Nguyễn Thị C1
kháng cáo nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án thẩm để giải
quyết lại với do: Bản án thu thập chứng cứ không đầy đủ, xem xét đánh giá
chứng cứ không khách quan dẫn đến phán quyết không đúng làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của bị đơn. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm tại phiên tòa phúc
thẩm, phía ông Trần Đăng K nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
phía Nguyễn Thị C1 thay đổi bsung nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng
xét xử sửa bản án thẩm trích công sức quản lý, trông nom duy trì tài sản trị
giá bằng 01 suất thừa kế.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không
10
chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị C1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
số: 25/2026/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10
- Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị C1 trong thời hạn
luật định, đơn hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết ván, Tòa án đã triệu tập các
đương sự đến tham dự phiên tòa và các đương sự đã nhận được văn bản của Tòa
án hợp lệ. Tuy nhiên một số đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc đã ủy quyền
cho người khác tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy Tòa án
đưa vụ án ra xét xử vắng mặt là phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Đăng K
đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
hiệu, hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất, trả lại tài sản chia di sản thừa
kế quyền sử dụng đất. Do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định
Tranh chấp vgiao dịch dân sự thừa kế tài sản theo quy định tại khoản 3,
khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trú tài sản
tranh chấp bất động sản tại V, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ theo quy định tại các
Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đăng K và nội dung kháng cáo
của bà Nguyễn Thị C1:
[4.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Căn cứ lời khai của các đương strong quá trình giải quyết vụ án các
tài liệu chứng cứ có đủ cơ sở xác định tài sản tranh chấp là thửa số 37, tờ bản đồ
số 03 diện tích 258,2m
2
(theo bản đồ 299) tức thửa số 829, tờ bản đồ 06 diện
tích 252,2m
2
(theo bản đồ VN2000); còn diện tích đất đo thực tế 251,7m
2
nguồn gốc tài sản chung của cụ Trần Văn P2 cụ Thị T3 (bố mđẻ
nguyên đơn). Cthể đó là: bản tự khai ngày 06/5/2025 của cụ Phùng Thị N1
(BL86- 87): Cụ P2 cụ T3 tài sản thửa đất số 241a, diện tích
216m
2
…..”; bản t khai ngày 28/02/2025 của bà Nguyễn Thị C1 (BL59) xác
nhận Trong quá trình chung sống, cụ P2, cụ T3 tạo dựng được tài sản
11
thửa đất vợ chồng con cái tôi đã sinh sống….”; Biên bản xác minh ngày
13/4/2026 tại UBND V, nguyên cán bộ địa chính của UBND L (cũ) cho
biết: Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 03, diện tích 258,2m
2
đã được cấp giấy chứng
nhận ngày 26/12/2002 đứng tên hộ ông Trần Đình Đ của cụ Trần Văn P2
cụ T3 (vợ cả ông P2) từ trước, sau khi cụ T3 chết, cụ P2 kết hôn với cụ N1,
sau đó cụ N1 ra riêng trên nhà đất khác, không liên quan đến thửa đất đang
tranh chấp. Từ đó có đủ căn cứ xác định thửa đất trên là tài sản của cụ Trần Văn
P2 cụ Thị T3, điều này nghĩa quan điểm của phía ông Trần Đăng K
cho rằng thửa đất trên là tài sản của riêng cụ Trần Văn P2 là không có cơ sở.
Về thời hiệu chia thừa kế của cụ Trần Văn P2 và cụ Vũ Thị T3:
Tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản 30 năm đối với bất
động sản……., kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hiệu này thì di sản thuộc về
người thừa kế đang quản lý di sản đó.”
Căn cứ vào quy định trên thì cụ Thị T3 chết năm 1976, tính đến thời
điểm khởi kiện năm 2024 đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế theo quy
định của pháp luật. Hiện Nguyễn Thị C1 (là bị đơn) yêu cầu Toà án xem
xét thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với di sản của cụ T3 để lại. Xét thấy, hộ
ông Trần Đình Đ, Nguyễn Thị Chà L4 người trực tiếp quản lý, sử dụng phần
diện tích đất do cụ T3 để lại ổn định, công khai, liên tục thửa đất, hàng năm vợ
chồng ông Đ, Chà người nộp thuế đất; đã được quan nhà nước thẩm
quyền cấp GCN; các đồng thừa kế khác không có tranh chấp trong thời gian dài.
Do đó, di sản thừa kế đối với phần tài sản của cụ Thị T3 theo quy định tại
Điều 623 Bộ luật Dân sự đã hết thời hiệu, khi hết thời hiệu thì di sản thuộc về
người đang chiếm hữu gia đình ông Đ, C1. vậy, căn cứ xác định i
sản thuộc quyền của cụ Thị T3 tương ứng diện tích đất 125,85m
2
(trong
đó 100m
2
đất 25,85m
2
đất vườn) tài sản trên đất thuộc quyền sdụng
của hộ ông Trần Đình Đ, nay do ông Đ đã chết nên được giao cho các con của
ông Đ Chà L4 chị Trần Diệu L1 anh Trần Nhật D. Do anh Nhật D
chị Trần Diệu L1 đều tự nguyện cho C1 nên Nguyễn Thị C1 được sử
dụng.
[4.2] Về việc cấp GCN và chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Căn cứ biên
bản xác minh ngày 13/4/2026 tại UBND xã V thể hiện: Năm 2002 thực hiện chủ
trương cấp GCN, theo thủ tục là cấp GCN đứng tên người đang trực tiếp quản lý
sử dụng đất, khi đó gia đình cụ P2 chỉ có vợ chồng ông Đ ăn ở trên thửa đất nên
ông Trần Đình Đ (con trai cụ P2) đã làm đơn đăng ký kê khai và được cấp GCN,
12
thực tế gia đình không việc phân chia di sản thừa kế của cụ P2 cụ T3. Tại
thời điểm đó gia đình cụ P2 không tranh chấp về quyền sử dụng đất. Như
vậy, ông Trần Đình Đ được cấp GCN đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 03
diện tích 258,2m
2
ngày 26/12/2002 là chưa phù hợp với các quy định pháp luật.
Năm 2011 ông Đ chết, đến năm 2014 bà C1 các con đã làm thủ tục phân chia
thừa kế tài sản của ông Đ nên bà C1 được cấp GCN ngày 24/3/2016 đối với thửa
đất số 829, tờ bản đồ 06 diện tích 252,2m
2
(theo bản đồ VN2000) đứng tên
Nguyễn Thị C1 (do nhận thừa kế quyền sử dụng đất của ông Trần Đình Đ).
Ngày 31/7/2024 bà Nguyễn Thị C1 và chị Trần Diệu L1 đã làm thủ tục tách thửa
đất nói trên làm 02 thửa đất là thửa số 1046, tờ bản đồ số 03, diện tích 89,2m
2
thửa số 1047, tờ bản đồ số 03 diện tích 163m
2
đều được cấp GCN đồng sử dụng
bà Nguyễn Thị C1 chị Trần Diệu L1; Ngày 23/8/2024 Nguyễn Thị C1
và chị Trần Diệu L1 đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số
1046 tờ bản đồ số 03 diện tích 89,2m
2
cho Nguyễn Thị San .2 Việc lập Hợp
đồng chuyển nhượng được lập tại Văn phòng C2, đã đăng ký sang tên và bà S đã
nhận đất, xây dựng nhà từ năm 2024 đến nay. Tại thời điểm giao dịch,
Thị S không biết không thể biết quyền sdụng đất tranh chấp, do GCN
đứng tên bên chuyển nhượng Nguyễn Thị Chà . Căn cứ vào quy định tại Điều
133 15 giao dịch này được pháp luật bảo vệ Lê Thị S người thứ ba ngay
tình. Mặt khác, việc C1, chị L1 chuyển nhượng cho S phần diện tích đất
nằm trong phạm vi tài sản được hưởng của cụ Thị T3 do thời hiệu khởi kiện
đã hết. Do vậy cần giữ nguyên hiện trạng quyền sdụng đất của Thị S,
điều đó nghĩa là yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đăng K về việc Tuyên bố
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chuyển nhượng
C1, chị L1 với người nhận chuyển nhượng Thị S hiệu yêu cầu Huỷ
GCN đứng tên bà Lê Thị S không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.3] Về yêu cầu chia di sản thừa kế:
Như đã viện dẫn, phân tích trên, di sản thừa kế của cụ Thị T3 và cụ
Trần Văn P2 đlại: Thửa đất số 37, tbản đồ số 03 diện tích 258,2m
2
đã được
cấp đổi theo hệ toạ độ VN2000 và được sử dụng trên thực tế, các hộ sử dụng đất
xung quanh không tranh chấp gì về ranh giới đất nên được xác định diện tích
đất theo hiện trạng đo đạc 251,7m
2
, trong đó 200m
2
đất theo định giá
7.500.000đ/m
2
x 200m
2
= 1.500.000.000đ 51,7m
2
đất vườn theo định giá
1.5000.00đ/m
2
x 51,7m
2
= 77.550.000đ; 01 cây cau ăn quả trị giá 500.000đ, 01
cây hồng xiêm trị giá 550.000đ. Do vậy, tổng tài sản trị giá
1.578.600.000đ.
13
Do thời hiệu thừa kế của cụ Thị T3 đã hết nên xác định tài sản thuộc
quyền sử dụng của cụ Vũ Thị T3 tương ứng diện tích đất là 125,85m
2
(Trong đó
có 100m
2
đất và 25,85m
2
đất vườn) và tài sản trên đất, tổng giá trị
789.300.000đ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị Chà .
Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Văn P2: Cụ Trần Văn P2 chết năm
2001, tính đến thời điểm khởi kiện vẫn còn thời hiệu yêu cầu chia di sản theo
quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự; còn phần di sản của cụ P2 được xác định
tài sản tương ứng diện tích đất 125,85m
2
(trong đó 100m
2
đất
25,85m
2
đất vườn) tài sản trên đất theo định giá là 789.300.000đ. Trước khi
chết cụ Trần Văn P2 không để lại di chúc định đoạt di sản này, do vậy di sản của
cụ P2 được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất
của cụ P2 theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự. Do vậy yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế được Hội đồng xét xử chấp nhận một
phần đối với di sản thừa kế của cụ Trần Văn P2 để lại.
Về hàng thừa kế thứ nhất của cụ P2 bao gồm: Cụ Trần Văn P2 có vợ là cụ
N1 8 người con gồm: (1) Trần Thị T, (2) ông Trần Đình Đ, (3) ông Trần
Đăng K, (4) ông Trần Văn P, (5) ông Trần Quốc T2, (6) bà Trần Thị Kim N, (7)
ông Trần Như P1, (8) ông Trần Văn Ả. Ông Trần Đình Đ chết năm 2011 (chết
sau cụ P2), ông Đ vNguyễn Thị C1 hai người con Trần Nhật
D (con nuôi) Trần Diệu L1 (con đẻ); cụ N1 chết ngày 01/6/2025 nên người
thừa kế của cụ N1 là ông Trần Như P1 ông Trần Văn Ả. Như vậy di sản thừa
kế của cụ P2 để lại được chia đều làm 09 phần thừa kế (gồm 08 con của cụ P2
và cụ N1), mỗi phần thừa kế được hưởng có trị giá là 87.700.000đ. Hiện nay các
đồng thừa kế T, ông K, ông T2, N, ông P1 ông tự nguyện tặng
phần thừa kế được hưởng cho ông Trần Văn P không yêu cầu thanh toán giá
trị được hưởng nên ông P được hưởng 08 phần thừa kế. Đối với C1, chị L1
anh D được hưởng 01 phần thừa kế của ông Đ, tuy nhiên chị L1 anh D
đều nhất trí cho C1 được hưởng phần thừa kế của ông Đ không yêu cầu
thanh toán giá trị tài sản được chia. Xét thấy yêu cầu của các bên tự nguyện
nên cần được chấp nhận.
Vì diện tích đất cụ thể được chia cho các đồng thửa kế không đủ điều kiện
để làm thtục tách thửa các đồng thừa kế ông K, T, N, ông P1, ông
T2, ông đều tự nguyện tặng ông P phần thừa kế được chia nên Hội đồng xét
xử xem xét giao cho ông Trần Văn P được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất
còn lại. Hiện nay bà C1, chị L1 đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho bà
Thị S sdụng 89,6m
2
đất thổ nên được trừ vào diện tích đất chị L1
14
anh D được hưởng của cụ T3 để lại (khi chuyển nhượng anh D biết
không ý kiến gì); phía chị L1 và anh D n được hưởng phần di sản hết thời
hiệu của cT3 để lại [125,85m
2
(Trong đó 100m
2
đất 25,85m
2
đất
vườn) trừ đi 89,6m
2
đất (đã chuyển nhượng cho S)] còn lại 36,25m
2
đất
(trong đó 10,4m
2
đất trị giá 7.500.000đ/m
2
x 10,4m
2
= 78.000.000 đồng
25,85m
2
đất vườn trị giá 1.500.000đ/m
2
x 25,28m
2
= 38.775.000đ) 1/2 giá trị
tài sản trên đất trị giá 525.000đ, tổng cộng là 117.300.000đ. Hiện nay chị L1
anh D tặng cho C1 nên C1 được hưởng tài sản trên trị giá 117.300.000đ.
Ngoài ra C1, anh D chL1 còn 01 kỷ phần thừa kế của cụ P2 để lại trị giá
87.700.000đ. Như vậy Nguyễn Thị C1 được chia thừa kế tổng trị giá tài sản
là 205.000.000đ.
[4.4]. Về nội dung liên quan:
- Về nội dung Nguyễn Thị C1 cho rằng: Năm 1986 vợ chồng đã
mua 01 thửa đất thổ của c ông Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn P3 cụ
Phùng Thị N2 (thể hiện trong giấy biên nhận ngày 15/8/1986), vợ chồng đã
làm nhà cấp bốn để cho cụ N1 và 02 con ở trên thửa đất mà vợ chồng bà đã mua
để vợ chồng được sử dụng toàn bộ phần đất của cP3. vậy, sau đó cụ
Trần Văn P2 đã làm đơn đề nghị UBND L (cũ) làm thủ tục sang tên đất cho
ông Trần Đình Đ đứng tên đối với thửa đất đang tranh chấp đhoán đổi diện
tích đất vợ chồng đã mua cho cụ N1 sử dụng. Căn cứ vào chứng cứ do C1
cung cấp thể hiện: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
15/8/1986 có xác nhận của UBND xã L (cũ) thể hiện người chuyển nhượng là bà
Phùng Thị N2 các con, bên nhận chuyển nhượng đất cụ Phùng Thị N1.;
Nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/1986 thể hiện
bên chuyển nhượng đúng như C1 trình bày N3 các con, còn bên
nhận chuyển nhượng cụ N1 không nội dung liên quan đến C1 hay
ông Đ (chồng bà C1) và không có tài liệu gì dùng làm cơ sở xác định gia đình bà
Chà người nhận chuyển nhượng hay người trả tiền đối với thửa đất do cụ
N1 sử dụng nên việc C1 cho rằng thửa đất này gia đình mua để hoán đổi
thửa đất hiện đang tranh chấp không căn cứ; còn về việc ông Trần Đình Đ
được cấp GCN năm 2002 là do tự đăng khai cấp đất lần đầu, không tài
liệu, chứng cứ thể hiện việc cụ Trần Văn P2 đồng ý tặng cho ông Đ thửa đất
nói trên nên yêu cầu của C1 không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nội dung Nguyễn Thị C1 yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ
Trần Văn P2 L nhưng C1 không biết trước khi chết cụ P2 những tài sản
để lại và không cung cấp được tài liệu chứng minh nên Tòa án cấp thẩm
15
không xem xét.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/3/2026 C1 cho biết: Năm 2004 vợ
chồng bà cùng các con ăn riêng trên nhà đất do vợ chồng tạo lập được,
không liên quan đến đất tranh chấp, còn đất tranh chấp hiện nay người
cầm chìa khoá, trông nom, quản nhà đất của các cụ để lại. Toàn bộ tài sản
nhà đất đều giữ nguyên hiện trạng do các cụ đlại, năm 2018 đã sửa chữa
một phần nhà hết chi phí khoảng hơn 20 triệu đồng. Ngoài ra, vợ chồng bà chăm
sóc, nuôi dưỡng bchồng là cụ P2 từ năm 1990 cho đến khi cụ P2 chết, vợ
chồng đứng ra lo mai táng cải táng, xây mồ mả các cụ, các anh em ông K
đóng góp một phần nhưng không yêu cầu công sức. Xét thấy yêu cầu của
bà Chà là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xem xét về nhu cầu sử dụng đất của các bên, thấy rằng: Các đồng thừa
kế hiện nay đều nơi ăn khác, thửa đất đang tranh chấp hiện nay đang để
không, tài sản trên đất nhà cấp bốn đang bị hỏng xuống cấp, không sử dụng
đất nên cần giao cho người sử dụng đất để trông nom, thờ cúng. Căn cứ vào diện
tích đất thc tế s dng, diện tích đất được phân chia thừa kế cũng như nhu cầu
s dụng đất của các bên, Tòa án cấp thẩm đã giao cho ông Trần Văn P đưc
quyn quản lý, s dụng toàn bộ diện tích thửa đất s 1047 tờ bản đồ 03 diện tích
163m
2
(trong đó 110,8m
2
đất 52,2m
2
đất vườn) theo GCN đứng tên
Nguyễn Thị C1 (số GCN DP 181430) và chị Trần Diệu L1 (số GCN DP
181429) đều cấp ngày 31/7/2024, diện tích đất thực đo đạc thực tế 162,1m
2
(Trong đó 110,8m
2
đất 51,3m
2
đất vườn) thôn B, V, tỉnh Phú Th.
Buộc ông Trần Văn P nghĩa vụ thanh toán tr Nguyn Th Chà k P4 tha
kế được hưởng là 205.000.000đ là phù hợp.
- V việc phía Nguyn Th C1 yêu cầu tính công sức duy trì, quản lý di
sn bng 01 sut tha kế, thy rng: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự (bao
gồm: nguyên đơn, bị đơn và người liên quan) đều tha nhn thửa đt do c P2
để lại đã có ranh giới rõ ràng với các hộ lin kề, lúc còn sống c P2 đã xây
ờng rào ngăn cách, khi cụ P2 chết thì gia đình C1 đến quản lý, sử dng vì
gia đình bà C1 đã có nhà ở nơi khác nên không thường xuyên sinh sống trên đất.
Quá trình sử dụng gia đình bà C1 không tôn tạo hoặc có việc làm tăng giá trị ca
đất ch quản lý, sử dụng đơn thuần trong lúc các anh em con ca trong gia
đình vng mt tại địa phương. Mặt khác, việc quản lý, s dng thửa đất ca gia
đình bà Nguyn Th C1 đối vi thửa đất đã được hưởng phn di sn hết thi hiu
ca c Thị T3 nên việc gia đình C1 đề ngh tính công sức quản di sn
bng 01 sut tha kế là không phù hợp. Do vậy yêu cầu tính công sức quản lý di
16
sản là không có căn cứ.
- Ti phn tranh luận, phía người đi din theo y quyn của Nguyn
Th C1 cho rằng Tòa án cấp thẩm vi phạm th tc t tụng để đề ngh Hy
bản án thẩm nhưng không đưa ra được tài liệu chng minh. Do vậy, yêu
cu hy bản án thẩm đ gii quyết li theo th tc chung của phía Nguyn
Th Chà L4 không có căn cứ nên không được chp nhn.
Từ những viện dẫn, phân tích như trên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy
rằng: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án
được thu thập khách quan, đúng pháp luật kết hợp với việc xét hỏi công khai tại
phiên tòa để quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần
Đăng K; giao cho ông Trần Văn P quản di sản thừa kế do cụ Trần Văn P2 để
lại và buộc ông Trần Văn P2 thanh toán giá trị thừa kế bằng tiền cho bà Nguyễn
Thị Chà L4 có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy kháng cáo của bà
Nguyễn Thị Chà L4 không căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[5]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị C1;
giữ nguyên Bản án dân sự thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 10 Phú Thọ
là có căn cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6]. Về án phí: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên Nguyễn
Thị C1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do Nguyễn Thị C1 thuộc đối
tượng được miễn án phí nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị C1; Ginguyên Bản án
dân sự thẩm số: 25/2026/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 10 - Phú Thọ.
Căn cứ vào Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân snăm
2015; Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 649,
Điều 650, Điều 651, Điều 660, Điều 623, Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 166, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đăng K về việc
17
“Tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất”.
- Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Văn P2 để lại tài sản tương ứng
diện tích đất 125,85m
2
(trong đó 100m
2
đất 25,85m
2
đất vườn) tài
sản trên đất.
- Giao cho ông Trần Văn P được quyền quản sử dụng thửa đất số
1047 tờ bản đồ s03 diện ch 163m
2
(trong đó 110,8m
2
đất 52,2m
2
đất
vườn) theo GCN đứng tên Nguyễn Thị C1 (số GCN DP 181430) GCN
đứng tên chị Trần Diệu L1 (số GCN DP 181429) đều cấp ngày 31/7/2024, diện
tích đất thực đo đạc thực tế 162,1m
2
(trong đó 110,8m
2
đất 51,3m
2
đất
trồng cây lâu năm) tại thôn B, xã V, tỉnh Phú Thọ (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Buộc ông Trần Văn P có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Chà P4
thừa kế được hưởng bằng tiền là 205.000.000đ.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đăng K về việc:
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị C1
với bà Lê Thị S vô hiệu;
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đăng K về việc Hủy
GCN đã cấp cho bà Lê Thị S đối với thửa đất số 1046, tờ bản đồ số 06.
Ông Trần Văn P có quyền liên hệ với cơ quan thẩm quyền cấp GCN để
điều chỉnh, đăng biến động quyền sử dụng đất khi Bản án hiệu lực pháp
luật.
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật, Nguyễn Thị C1 đơn yêu
cầu thi hành án, nếu ông Trần Văn P chậm trả tiền cho bà Nguyễn Thị C1 thì
ông Trần Văn P còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian
chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của
các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468
Bộ luật dân sự; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị C1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và
9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
18
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Văn Nghĩa Nguyễn Xuân Trọng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Sơn
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Duy Sơn
19
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Duy Sơn
20
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 232/2026/DS-PT Bản án số 232/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 232/2026/DS-PT Bản án số 232/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất