Bản án số 1032/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1032/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1032/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1032/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập, sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1032/2026/DS-PT Bản án số 1032/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1032/2026/DS-PT Bản án số 1032/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1032/2026/DS-PT
Ngày: 17- 8 - 2026
V/v tranh chấp thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Mạc Thị Chiên
Hà Thị Phương Thanh
Lê Thị Minh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Khánh Linh Thư ký viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Hoàng
Ơn Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1003/2026/TLPT-DS ngày 03
tháng 7 năm 2026 về việc: “Tranh chấp thừa kế”.
Do Bản án dân ssơ thẩm số: 73/2026/DS-ST ngày 31 tháng 03 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1274/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 1104/2026/QĐ-
PT ngày 27 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1962. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn C, sinh năm 1972. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã T, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Hồ Quốc T,
thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. (có mặt)
Địa chỉ: Văn phòng L3, Số A ấp G, Xã V, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đặng Văn B, sinh năm 1953. (vắng mặt)
2
Địa chỉ: Ấp D, xã T, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1979. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố Cần Thơ.
3.Đặng Thị Cẩm L, sinh năm 1952. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố Cần Thơ.
4.Đặng Thị T1, sinh năm 1957. (có mt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
5.Đặng Thị T2, sinh năm 1962. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
6. Ông Đặng Hoàng L1, sinh năm 1968. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã T, thành phố Cần Thơ.
7.Đặng Thị P, sinh năm 1966. (có mặt)
Địa chỉ: Số G H, Khóm F, phường S, thành phố Cần Thơ.
4. Người kháng o: Nguyên đơn Đặng Thị H, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Đặng Thị T1, Đặng Thị P
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình tố tụng nguyên đơn bà H trình bày: Trước
đây tôi có làm đơn khởi kiện ông Đặng Văn C về việc chia thừa kế phần tài sản
do cha tôi ông Đặng Văn P1 để lại, nội dung tôi yêu cầu gồm: Hủy văn bản
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 08, quyển số 01 đã được Văn phòng C1
(nay là Văn phòng C2) chứng thực, hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
do ông Đặng Văn C, Đặng Văn B Đặng Hoàng L1 đứng tên theo văn bản thỏa
thuận và chia thừa kế phần đất có diện tích 19.989,4m
2
. Nay tôi có yêu cầu thay
đổi so với yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu phân chia tài sản thừa kế các phần
đất do ông Đặng Văn C đứng tên quyền sử dụng gồm các thửa 345, 198, 152, 206
tờ bản đồ số 21 tổng diện tích là 10.152,7m
2
, không có yêu cầu đối với tài
sản gắn liền với đất yêu cầu được chia kỷ phần bằng giá trị phần di sản trên.
Đối với các phần đất do ông L1, ông B đứng tên do cha tôicho khi còn sống
nhưng chưa sang tên thì tôi thống nhất và không yêu cầu đối với 02 phần đất
này.
Đối với kết quả thẩm định giá tài sản do Tòa án thực hiện trước đây tôi thống nhất
và không có yêu cầu phải thẩm định lại giá trị tài sản mà sử dụng kết quả trên để
giải quyết vụ án.
Đối với phần đất ông C đã chuyển nhượng cho ông Trịnh Quang Đ1 thuộc thửa
173, thì tôi có yêu cầu chia giá trị phần diện tích ông C đã chuyển nhượng với số
tiền là 1.200.000.000 đồng cho các đồng thừa kế theo quy định.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/9/2025, ông Đặng Văn C trình bày: Đối
với việc tranh chấp của H vchia thừa kế, Tòa án tỉnh hủy về xét xử lại thì
3
ông không có yêu cầu Tòa án phải đo đạc, định giá gì cả, không thể hòa giải được
nên yêu cầu Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì ông sẽ dự, còn các vấn đề khác ông s
không tham dự.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/9/2025, Đặng Thị T2 trình bày:
Đặng Thị H khởi kiện ông Đặng Văn C về việc chia thừa kế đã được Tòa án
cấp phúc thẩm hủy trả vxét xử lại, tại thời điểm Tòa án giải quyết làm đơn
yêu cầu độc lập để chia phần thừa kế theo quy định. Nay vẫn giữ yêu cầu được
chia thừa kế. Đối với ông B, ông L1, ông Đ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì thống nhất không yêu cầu chia. Phần đất còn lại do ông C
quản lý và có chuyển nhượng cho ông Đ1 hơn 4.000m
2
thì bà cũng không có yêu
cầu. chỉ yêu cầu chia phần đất thực tế còn lại khoảng 9.000m
2
yêu cầu được
nhận bằng giá trị tương đương, đồng ý sử dụng kết quả định giá của Tòa án
trước đây để làm cơ sở giải quyết, không yêu cầu đo đạc hay định giá lại và tiến
hành đưa vụ án ra xét xử không cần phải tổ chức hòa giải lại.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 12/11/2025, ông Đặng Văn Đ trình bày: Ông
là con của ông Đặng Văn P1 và bà Võ Thị H1, cha mẹ ông chung sống với nhau
từ năm 1978 và chỉ một người con ông. Năm 2002 cha ông chết, đến năm
2015 thì mẹ ông chết. Về phần đất bà H yêu cầu chia thừa kế ông ý kiến như
sau: phần đất mà ông đã được cha m cho cấp quyền sử dụng
trước đó thì yêu cầu ổn định cho ông tiếp tục sử dụng, phần đất còn lại theo quy
định pháp luật mà xác định của mẹ ông Thị H1 thì ông không yêu cầu
nhận và đồng ý đlại cho ông Đặng Văn C quản lý, sử dụng. Phần đất mà Tòa án
xác định là di sản thừa kế của cha ông để lại và phải chia thừa kế thì phần ông đã
được chia và không yêu cầu gì thêm, phần mẹ ông nếu được chia kỷ phần thừa
kế thì ông cũng không có yêu cầu được nhận. Ông yêu cầu Tòa án cho ông được
vắng mặt khi giải quyết vụ việc.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/9/2025 của bà Đặng Thị T1 có nội dung
đồng nhất với lời khai của Đặng Thị T2. Tại biên bản ghi lời khai ngày
18/7/2025 của bà Đặng Thị P có nội dung đồng nhất với ý kiến của bà Đặng Thị
H.
Ông Đặng Văn B, ông Đặng Văn L2 đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
xác định đã được nhận thừa kế phần đất của cha, mcho nên không yêu cầu
được chia thêm phần thừa kế nào khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đặng Thị H khai chỉ yêu cầu chia thừa kế phần đất thực tế còn lại theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông C đứng tên diện tích 10.152,7m
2
số tiền ông C đã chuyển nhượng đất cho ông Đ1 1.200.000.000 đồng cho
các đồng thừa kế. Bà Đặng Thị T1Đặng Thị P thống nhất chỉ yêu cầu chia
4
phần đất thực tế còn lại là 10.152,7m
2
. Ông Đặng Văn C yêu cầu xem xét giải
quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị H. Chấp nhận
yêu cầu độc lập của bà Đặng Thị P, Đặng Thị T1 đối với bị đơn Đặng Văn C
về việc chia thừa kế.
Chia thừa kế và giao cho ông Đặng Văn C được sử dụng toàn bộ phần đất
thuộc các thửa: 354(173) diện tích 5.029,4m
2
, loại đất LUA; 198(594) diện tích
2.977,1m
2
, loại đất LUA; thửa 152(593) diện tích 300m
2
, loại đất ODT; thửa
206(593) diện tích 1.846,2m
2
, loại đất CLN thuộc tờ bản đồ số 21, tọa lạc ấp D,
thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp D, T, Thành phố Cần Thơ) theo
các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00320, CH00319, CH00322,
CH00321 được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 03/4/2014
và toàn bộ công trình xây dựng trên đất, cây trồng trên đất.
Buộc ông Đặng Văn C phải hoàn lại số tiền cho bà Đặng Thị T1, Đặng Thị
P mỗi người là 191.674.000 đồng; H2 lại cho bà Đặng Thị H số tiền là
266.674.000 đồng. Dành cho Đặng Thị Cẩm L, Đặng Thị T2, ông Đặng
Văn Đ (thừa kế thế vị của cụ Thị H1) 01 kỷ phần thừa kế với số tiền
266.674.000 đồng, ông Đặng Văn C phải có nghĩa vụ hoàn lại số tiền này khi bà
Đặng Thị Cẩm L, bà Đặng Thị T2, ông Đặng Văn Đ (thừa kế thế vị của cụ
Thị H1) có yêu cầu.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể tngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi nh án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
2/ Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Đặng Thị T2 đối với ông Đặng Văn C
về việc yêu cầu chia thừa kế.
Ngoài ra bản án tuyên về quyền kháng cáo, chi phí thẩm định, tố tụng
và tiền án phí.
Ngày 13/4/2026, nguyên đơn Đặng Thị H người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Đặng Thị T1, Đặng Thị P kháng cáo đối với Bản án dân sự thẩm số
73/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14
Cần Thơ đề nghị cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án thẩm theo hướng cho
5
Đặng Thị T1, Đặng Thị P Đặng Thị H mỗi người nhận kỷ phần quyền sử
dụng đất diện tích tạm tính là 2.800 m
2
, không nhận giá trị thay thế bằng tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
- Nguyên đơn bà Đặng Thị H trình bày: H vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, không
đồng ý với bản án thẩm. yêu cầu chia di sản bằng hiện vật, cụ thể yêu
cầu được nhận 2.800 đất, không đồng ý nhận giá trị đất theo như Bản án
thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị T1Đặng Thị
P lời trình bày: T1 P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không
đồng ý nhận giá trị đất như Bản án sơ thẩm. Bà T1 và bà P yêu cầu chia di sản và
nhận bằng hiện vật.
- Bị đơn Đặng Văn C trình bày: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ
Đặng Văn P1 và cụ Nguyễn Thị B1. Sau khi cụ B1 chết, cụ P1 cụ Võ Thị H1
tiếp tục quản lý, canh tác ổn định không ai tranh chấp. Cụ P1 chết năm 2002,
sau đó cụ H1 chết năm 2015. Trước khi chết, cụ P1 chưa từng chia đất cho các
chị em. Ông được cụ P1 giao quản lý, sử dụng đất. Sau đó các anh chị em lập
giấy để ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tất cả anh chị em đều
tên đồng ý, trừ H bà P (do không có nhà). H1 cũng không tên
vào giấy này. Bà H, bà T1, bà P đều không đóng góp công sức vào việc quản lý,
canh tác phần đất tranh chấp. Bản thân ông C là người trực tiếp quản lý, sử dụng
đất và trồng cây trên đất từ trước đến nay. Vì vậy, ông không đồng ý với toàn bộ
kháng cáo của H, T1 P; đề nghị giữ nguyên bản án thẩm. Đồng
thời, ông không đồng ý chia thêm di sản hay hỗ trợ thêm bất kỳ khoản tiền khác.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị đơn Luật sư Hồ Quốc T trình bày ý
kiến như sau: Bản án thẩm đã xem xét đầy đủ nguồn gốc, hiện trạng sử dụng
quá trình quản đất. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định chính xác phần tài sản
của cụ H1 không phải di sản của cụ P1 để chia cho những người kháng cáo.
Cấp sơ thẩm cũng đã phân chia phần di sản của cụ P1 bằng giá trị tiền theo đúng
yêu cầu ban đầu của các đương sự tại cấp thẩm. Thực tế ông C người trực
tiếp quản lý, sử dụng đất tôn tạo, trồng cây trên đất. Bị đơn khẳng định việc
những người kháng cáo thay đổi yêu cầu từ nhận giá trị bằng tiền sang nhận đất
bằng hiện vật không căn cứ, đnghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bà H, T1, bà P và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Tại cấp sơ thẩm, bà H chỉ yêu cầu nhận giá trị kỷ phần bằng tiền
và không phản đối kết quả định giá tài sản. T1 bà P ở cấp thẩm cũng chỉ
6
yêu cầu chia đất ông C quản lý, hoàn toàn không yêu cầu xem xét phần đất đã
chuyển nhượng cho ông Đ1. Nhưng đến cấp phúc thẩm, những người kháng cáo
không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ mới đlàm thay đổi căn cứ giải
quyết của bản án thẩm. Phần đất hiện tại ông C quản sử dụng liên quan
đến cả cụ P1 cụ H1, nhưng phần quyền sử dụng đất của bà H1 không phải di
sản của cụ P1 nên không thể gộp vào để chia cho những người kháng cáo theo
diện thừa kế của cụ P1. Ông C người đang trực tiếp trồng cây, quản sử
dụng đất ổn định. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện nguồn gốc,
quá trình quản lý sử dụng đất, kết quả định giá thực tế để chia di sản của ông P1
bằng giá trị tiền căn cứ. vậy, xét thấy không căn cứ để chấp nhận
kháng cáo của bà H, T1 P, đề nghị Hội đồng xét xáp dụng khoản 1
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận các kháng cáo, giữ nguyên
Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, qua kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật về người kháng cáo, thời hạn
kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 271, 272,
273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem
xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng
Văn B, ông Đặng Văn Đ, Đặng Thị Cẩm L, Đặng Thị T2, ông Đặng Hoàng
L1 vắng mặt, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn những người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Đặng Thị T1, Đặng Thị P yêu cầu được chia thừa kế theo hiện
vật, không đồng ý chia giá trị đất: Tuy nhiên, theo lời trình bày của nguyên đơn
và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
độc lập và phiên tòa thẩm đều yêu cầu được chia giá trị theo kỷ phần, cấp
thẩm đã chia di sản theo kỷ phần bằng giá trị như yêu cầu của nguyên đơn và bà
T1, bà P. Do đó kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế bằng hiện
vật là quyền sử dụng đất với lý do số tiền chia được thấp hơn với bản án sơ thẩm
7
lần một đã tuyên. Việc yêu cầu chia kỷ phần bằng hiện vật trong khi đó phần đất
ông C đang sử dụng ổn định bản thân nguyên đơn những người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan không nhu cầu sử dụng nên không sđể Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[2.2] Tuy nhiên, khi xem xét chia theo kỷ phần Hội đồng xét xử cũng sẽ
xem xét xác định cho phù hợp với thực tế di sản để lại các đồng thừa kế yêu
cầu chia và không yêu cầu chia để chia cho phù hợp. Cấp sơ thẩm đã tính di sản
thừa kế của ông P1 để lại 1.533.393.850 đồng đối với phần đất ông C đang
quản 600.000.000 đồng là phần đất đã chuyển nhượng cho ông Đ1 phù
hợp. Tổng giá trị tài sản để chia thừa kế là 2.133.393.850 đồng.
[2.3] Xét hàng thừa kế của ông P1 tại thời điểm chia thừa kế gồm Đặng
Thị Cẩm L, Đặng Thị T1, Đặng Thị T2, Đặng Hoàng L1, Đặng Văn B, Đặng Văn
C, Đặng Thị H, Đặng Thị P, Đặng Văn Đ. Nhưng cấp sơ thẩm xác định có cụ
Thị H1 vợ của cụ P1 trong hàng thừa kế để chia là không đúng vì tại thời điểm
chia thừa kế, cụ H1 đã chết nên không thuộc trường hợp được chia thừa kế.
[2.4] Xét những người trong hàng thừa kế Đặng Thị Cẩm L từ khi
bắt đầu tranh chấp ở cấp sơ thẩm lần thứ nhất, L xác định phần đất của ông P1
để lại bà không yêu cầu chia mà giao cho ông C được hưởng. Ông Đặng Hoàng
L1, Đặng Văn B, Đặng Văn Đ đều khai thống nhất đã được c P1 cho đất khi còn
sống, phần còn lại không yêu cầu chia. Do đó, xác định những người này từ chối
nhận phần thừa kế còn lại. Đối với T2, người yêu cầu chia thừa kế, khi
xét xử Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng không đến, cấp sơ thẩm đình chỉ yêu
cầu độc lập của bà T2 là đúng. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm nhận định dù đình chỉ yêu
cầu độc lập nhưng bà T2 vẫn được chia thừa kế theo pháp luật là không phù hợp.
T2 có yêu cầu độc lập không đến Tòa án theo giấy triệu tập nghĩa là bà đã từ
bỏ yêu cầu của mình nên không được chia thừa kế tài sản của ông P1 để lại
mới đúng quy định.
[2.5] Do đó, cấp phúc thẩm xác định những người được chia thừa kế phần
tài sản của cụ P1 để lại gồm ông Đặng Văn C, bà Đặng Thị H, Đặng Thị Cẩm L,
Đặng Thị T1 và Đặng Thị P 05 kỷ phần. Ông C người quản di sản nên
được hưởng thêm 01 kỷ phần. Do đó phần di sản của cụ P1 để lại sẽ được chia
làm 06 kỷ phần, bà L nhường thừa kế cho ông C nên ông C sẽ được hưởng 03 kỷ
phần, 03 kỷ phần còn lại được chia cho H, bà P T1. Đối với phần đất
ông C đang quản lý có giá trị 1.533.393.850 đồng chia giá trị 06 kỷ phần, mi k
phần tương đương 255.565.600 đồng.
[2.6] Đối với phần 600.000.000 đồng, tại đơn yêu cầu độc lập bà P, T1
không yêu cầu chia phần giá trị này nên P, T1 snhận kỷ phần tương
đương 255.565.600 đồng, bà H được nhận kỷ phần là 355.565.600 đồng.
8
[3] Về án phí dân sự thẩm, do điều chỉnh giá trị chia thừa kế nên cũng
cần điều chỉnh án phí cho tương ứng. Ông C được chia kỷ phần tương đương số
tiền 1.266.696.925 đồng nên phải chịu án phí tương đương là 50.000.908 đồng.
Đặng Thị H, Đặng Thị T1, Đặng Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo yêu cầu chia di sản thừa kế bằng hiện vật của nguyên đơn và những người có
quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Đặng Thị T1 và bà Đặng Thị P .
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
căn cứ đúng một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận phần đề nghị phù hợp
với quan điểm của Hội đồng xét xử.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do là người cao tuổi thuộc trường hợp miễn nộp án
phí phúc thẩm nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lphí Tòa án. Sửa bản án thẩm số: 73/2026/DS-ST ngày 31
tháng 03 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnĐặng Thị
H. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Đặng Thị P, bà Đặng Thị T1 đối
với bị đơn Đặng Văn C về việc chia thừa kế.
1.1. Chia thừa kế giao cho ông Đặng Văn C được sử dụng toàn bộ phần
đất thuộc các thửa: 354(173) diện ch 5.029,4m
2
, loại đất LUA; 198(594) diện
tích 2.977,1m
2
, loại đất LUA; thửa 152(593) diện tích 300m
2
, loại đất ODT; thửa
206(593) diện tích 1.846,2m
2
, loại đất CLN thuộc tờ bản đồ số 21, tọa lạc ấp D,
thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp D, T, Thành phố Cần Thơ) theo
các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00320, CH00319, CH00322,
CH00321 được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 03/4/2014
và toàn bộ công trình xây dựng trên đất, cây trồng trên đất.
1.2. Buộc ông Đặng Văn C phải hoàn lại số tiền cho bà Đặng Thị T1, Đặng
Thị P mỗi người là 255.565.600 đồng; H2 lại cho Đặng Thị H số tiền
355.565.600 đồng
9
1.3. Ktừ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu
người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với số tiền phải
thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ yêu cầu độc lập của Đặng Thị T2 đối với ông Đặng Văn C
về việc yêu cầu chia thừa kế.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Đặng Văn C phải chịu 50.000.908
đồng; Bà Đặng Thị H, bà Đặng Thị T1, bà Đặng Thị P được miễn toàn bộ án p
dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định pháp luật; Hoàn
trả cho Đặng Thị P 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo
biên lai thu số 0004497 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (cũ) nay Thi hành án dân sự Thành phố Cần
Thơ.
Sung vào ngân sách nhà nước 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng
án phí Đặng Thị T2 đã nộp theo biên lai thu số 0004499 ngày 17/4/2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
4. Về chi phí tố tụng:
- Chi phí thẩm định giá tài sản: 27.620.000 đồng. Buộc ông Đặng Văn C
phải chịu 17.262.500 đồng, bà Đặng Thị H, bà Đặng Thị T1, bà Đặng Thị P mỗi
người phải chịu 3.452.500 đồng. Trong phần chi phí này bà Đặng Thị H đã nộp
tạm ứng trước toàn bộ nên được nhận lại số tiền khi ông C, bà P, bà T1 nộp.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7
36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
6. Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu
7. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Cần Thơ;
- TAND Khu vực 14 - Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 14
Cần Thơ
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã )
Mạc Thị Chiên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1032/2026/DS-PT Bản án số 1032/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1032/2026/DS-PT Bản án số 1032/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất