Bản án số 740/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 740/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 740/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 740/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền thừa kế giữa nguyên đơn bà Tăng Ngọc H với bị đơn bà Trần Thị N, ông Tăng Minh K
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 740/2026/DS-PT Bản án số 740/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 740/2026/DS-PT Bản án số 740/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
V/v: Tranh chấp quyền thừa kế.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ánh Bình
Các Thẩm phán: Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc
Bà Lê Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Bích Liễu- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Trần Thị Pho - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thsố: 528/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng
11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền thừa kế”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 14 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 569/2026/QĐ-PT
ngày 10 tháng 6 năm 2026, giữa:
- Nguyên đơn: Tăng Ngọc H, sinh năm 1985.CCCD số ************.
Địa chỉ: khóm C, phường D, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lâm Khắc S, sinh năm
1977. Địa chỉ: số C K, Khóm A, phường N, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).
- Bị đơn:
+Bà Trần Thị N, sinh năm 1962.CCCD số ************. Địa chỉ: khóm
A, phường D, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).
+Ông Tăng Minh K, sinh năm 1984. CCCD s************. Địa chỉ:
khóm A, phường D, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).
Người đại diện hợp pháp của Trần Thị N ông Tăng Minh K ông
Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1975. Địa chỉ: số B P, khóm B, phường N, tỉnh
Vĩnh Long (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Tăng Minh K1, sinh năm 2003. Địa chỉ: khóm A, phường D, tỉnh
Vĩnh Long ( có mặt).
Người kháng cáo: Trần Thị N ông Tăng Minh K bị đơn; anh
Tăng Minh K1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 740/2026/DS-PT
Ngày: 19/8/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 11/7/2023 của nguyên đơn Tăng Ngọc H
tại phiên tòa thẩm, ông Lâm Khắc S người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn trình bày:
Tăng Hồng D, sinh năm 1982 (chết ngày 10/6/2022) chị ruột của
nguyên đơn Tăng Ngọc H, trước khi chết bà D lập di chúc để lại di sản cho bà H
gồm nhà, đất khóm A, Phường A, thị D, tỉnh Trà Vinh; Hiệu tiệm kinh
doanh vàng bạc Hồng D 01 xe ô hiệu Toyota Yaris, biển kiểm soát 84C-
039.90, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 010321 do Công an tỉnh T cấp ngày
29/8/2018 cho Tăng Hồng D. Sau khi D chết thì trong gia đình phát sinh
mâu thuẫn nên H đã khởi kiện yêu cầu đòi lại các di sản của D để lại theo
di chúc số công chứng 5828, quyển số 05/DC lập ngày 07/12/2021 tại Văn
phòng C. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa
án nhân dân thị Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã tuyên buộc ông Tăng Minh K
phải trả lại cho bà H 01 (một) xe ô tô, nhãn hiệu TOYOTA,loại xe ô tô con, màu
sơn đỏ, số máy:2NR5247635,số khung: MR2K23F32J1137256, số loại (nhãn
hiệu): YARIS; năm sản xuất: 2018, biển số 84A-039.90. Sau khi xét xử thẩm
thì ông K đã lập thủ tục chuyển quyền sở hữu chiếc xe này cho con trai
Tăng Minh K1 nên tại Bản án dân sự phúc thẩm số 98/2025/DS-PT ngày
24/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tuyên hủy Bản án thẩm số 27
của Tòa án nhân dân thị Duyên Hải để xét xử thẩm lại, đưa anh K1 vào
tham gia tố tụng. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì H yêu cầu ông K
phải trả lại xe ô tô, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án sau khi thụ lý sơ thẩm
lại thì H ý kiến nhận bằng giá trị, sau thời gian dài xe đã xuống cấp,
không biết có hư hỏng gì bên trong hay không. Do đó bà H yêu cầu anh Lê Tăng
Minh K1 hiện nay chủ xe phải trả lại giá trị của xe ô cho H bằng
300.000.000 đồng ( Ba trăm triệu đồng).
Bị đơn Trần Thị N, ông Tăng Minh K ông Nguyễn Thanh H1
người đại diện hợp pháp trình bày:
Chiếc xe ô tô đang tranh chấp thực tế là tài sản của vợ chồng bà N với ông
Tăng Văn T mua, nhưng đcho D đứng tên chứ ông T N không phải
tặng cho luôn chiếc xe này cho D, nên D không quyền để lại di chúc
cho bà H. Di chúc không hợp pháp vì không được lập tại trụ sở Văn phòng công
chứng mà do nhân viên của văn phòng đến nhà bà D để lấy chữ ký, trong khi đó
bà D lại không thuộc các trường như người già yếu, không thể đi lại được, người
đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt hoặc do chính đáng
khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, việc nhân viên
của Văn phòng công chứng đến nhà bà D lấy chữ ký cũng không đúng quy định,
theo Luật công chứng thì người yêu cầu công chứng phải hoặc điểm ch
trước mặt công chứng viên. N ông K không đồng ý yêu cầu khởi kiện của
H, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Tăng Minh K1 trình bày:
Anh K1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì xe ô tô
3
của nội anh Trần Thị N, chiếc xe này được cha Minh K2 chuyển
tên cho anh, nhưng quyền định đoạt và quản lý đều do bà N quyết định.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 14 - Vĩnh Long đã quyết định:
Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn bà Tăng Ngọc H v việc đòi
li di sn tha kế xe ô nhãn hiu Toyota Yaris, bin s đăng 84A-
128.55, s máy 2NR5247635, s khung MR2K23F32J1137256.
Buc anh Tăng Minh K1 phi tr cho bà Tăng Ngọc H s tin
300.000.000 đồng là giá tr ca xe ô tô nêu trên.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên vnghĩa vụ chậm thi hành án, án p
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025, bị đơn Trần Thị N, ông Tăng Minh K
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Tăng Minh K1 kháng cáo toàn bộ
bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng
bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Thanh H1 người đại diện hợp pháp của Trần Thị N
ông Tăng Minh K trình bày kháng cáo: các bị đơn vẫn giữ nguyên đơn kháng
cáo, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Anh Lê Tăng Minh K1 trình bày vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.
Ông Lâm Khắc S là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không đồng
ý kháng cáo của các bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị
giữ nguyên bản án thẩm. Tuy nhiên nếu HĐXX xem xét về người thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung di chúc của bà D thì nguyên đơn đồng ý xem t
phần thừa kế của ông Tăng Văn T, đối với phần thừa kế của Trần Thị N
không đồng ý xem xét lại, N đã thống nhất làm chứng việc D lập di
chúc để lại chiếc xe ô tô cho bà H.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và
nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án cấp thẩm chuyển hồ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm không
đúng quy định
Về nội dung vụ án: căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự,
hủy toàn bộ bản án dân sự thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 Vĩnh Long để giải quyết lại theo thủ tục
sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: các đương sự không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
4
[1] Đơn kháng o của Trần Thị N, ông Tăng Minh K anh Lê Tăng
Minh K1 làm trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân
sự quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Xét đơn kháng cáo của bà Trần Thị N và ông ng Minh K:
Xét thấy, bà Tăng Hồng D đưc Phòng C1 Công an tnh T ( nay tnh
Vĩnh Long) cấp chng nhận đăng ký xe, loi xe ô tô con, nhãn hiu Toyota, bin
s đăng 84A-039.90, s máy 2NR5247635, s khung 3F32J1137256, cp
ngày 29/8/2018. Như vy xe ô nêu trên tài sn ca Tăng Hồng D. Ngày
07/12/2021 Tăng Hồng D lập di chúc để li tài sn ca bà D cho em rut
Tăng Ngọc H được hưởng tha kế, trong đó chiếc xe ô nêu trên. Di
chúc người làm chng Trn Th N ông Lâm Khc S. N m rut
ca D làm chng di chúc vi phm khoản 1 Điều 632 B lut dân s 2015,
nhưng khi D lp di chúc với ý chí đ li xe ô cho H tha kế thì N
đồng ý không khiếu ni tranh chấp. Hơn nữa khi lp di chúc D minh
mn, sáng sut, không b la di, ép buc di chúc được Văn phòng C chng
nhận. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chp nhn yêu cu ca bà H v việc hưởng tha
kế chiếc xe ô tô là có căn cứ.
Tuy nhiên khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm không xem xét quy
định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào
nội dung của di chúc, cụ thể là ông Tăng Văn TTrần Thị N cha mẹ ruột
của D vẫn được hưởng di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế
theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật.
[3] Tăng Hồng D không chồng, không con, hàng thừa kế thứ
nhất của bà D ông Tăng Văn T Trần Thị N, như vậy N ông T sẽ
được hưởng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Chiếc xe ô
nêu trên các bên thống nhất thỏa thuận giá trị 300.000.000đ ( ba trăm
triệu đồng) : 2 suất = 150.000.000đ/suất, như vậy N, ông T mỗi người được
hưởng 2/3 suất = 100.000.000đ/1người.
Tuy nhiên sau khi D chết, ngày 21/3/2023 ông Tăng Văn T, Trần
Thị N lập văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế văn bản phân chia tài sản thừa
kế, theo đó ông T, N thỏa thuận thống nhất giao cho anh Tăng Minh K được
toàn quyền quản lý, sử dụng chiếc xe ô nêu trên nên anh K được Công an thị
D cấp giấy chứng nhận đăng xe ngày 22/3/2023. Việc ông T1, N lập
thủ tục thừa kế giao chiếc xe ô nêu trên cho anh K không đúng quy định
của pháp luật, lúc này D đã chết và bà D để lại di chúc cho H hưởng
chiếc xe ô tô. Tuy nhiên như đã phân tích trên N ông T người được
hưởng thừa kế không phụ thuộc vào di chúc và tại phiên tòa phúc thẩm bà N xác
định vẫn đồng ý giao phần thừa kế của được hưởng giá trị
100.000.000đ và phần của được hưởng thừa kế của ông Tăng Văn T cho ông
Tăng Minh K được hưởng nên công nhận sự tự nguyện này của bà N.
Như vậy phần thừa kế của ông Tăng Văn T được hưởng đối với chiếc xe ô
nêu trên (không phụ thuộc vào nội dung di chúc) 100.000.000đ, do ông T
chết năm 2024 nên phần của ông T sẽ được chia cho hàng thừa kế thứ nhất gồm
5
N, ông K và H là 03 kỷ phần, mỗi người được hưởng 33.333.333đ ( làm
tròn 33.333.000đ).
Như vậy ông K được hưởng 166.666.000đ (của N 133.333.000đ,
ông K 33.333.000đ), Tăng Ngọc H được hưởng 133.333.000đ ( phần của bà
H hưởng theo di chúc 100.000.000đ và thừa kế của ông T 33.333.000đ).
[4] Xét vào ngày 12/8/2024 ông Tăng Minh K lập hợp đồng mua bán xe ô
với anh Tăng Minh K1, theo đó ông K bán cho anh K1 chiếc xe ô nhãn
hiu Toyota, s loại YARIS, màu sơn đỏ, bin s đăng 84A-039.90, s máy
2NR5247635, s khung MR2K23F32J1137256, cp ngày 22/3/2023 vi s tin
100.000.000đ. Anh K1 đưc Công An th xã D cp chng nhận đăng ký xe ô
vào ngày 21/8/2024 và hin nay anh K1 đang qun lý chiếc xe ô tô nêu trên. Tuy
nhiên ti phiên tòa phúc thm ông K anh K1 đều tha nhn mc hp
đồng mua bán xe, nhưng thực tế là ông K sang tên xe cho anh K1 con ruột đ
tin vic ch bà N đi lại, gia ông K anh K1 không giao nhn s tin
100.000.000đ.Tại phiên tòa phúc thm anh K1 đồng ý sang tên li chiếc xe ô
nêu trên cho ông K đứng tên s hu, ông K cũng đồng ý nhn lại xe. Do đó Hội
đồng xét x công nhn s t nguyn ca anh K1 ông K, giao chiếc xe ô
nêu trên cho ông K đưc quyền đăng s hu. Buc ông Tăng Minh K
nghĩa vụ thanh toán cho bà Tăng Ngọc H giá tr k phn tha kế chiếc xe ô tô là
100.000.000đ phn tha kế ca ông Tăng Văn T 33.333.000đ, tổng cng
133.333.000đ.
[5] Xét thy quá trình gii quyết v án, Tòa án cấp sơ thẩm không thu
thập hồ sơ đăng ký sở hữu xe ô tô từ bà Tăng Hồng D sang ông Tăng Minh K
từ ông K sang anh Lê Tăng Minh K1 là thiếu sót, dẫn đến giải quyết không đúng
về nội dung, tuy nhiên Tòa án cấp phúc thẩm đã thu thập được tài liệu, chứng
cứ, khắc phục được những thiếu sót của Tòa án cấp thẩm và các đương sự đã
được đưa vào tham gia tố tụng đầy đủ nên không cần thiết phải hủy toàn bộ bản
án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[6] T nhng nhận định trên, Hội đồng xét x chp nhn mt phn yêu
cu kháng o ca Trn Th N, ông Tăng Minh K anh Tăng Minh K1.
Sa bn án dân s thm s 20/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 ca Tòa án nhân
dân khu vc 14 –Vĩnh Long. Buộc ông Tăng Minh K có nghĩa vụ thanh toán giá
tr tha kế chiếc xe ô cho Tăng Ngc H vi s tiền 133.333.000đ. Ông
Tăng Minh K có quyền, nghĩa vụ đăng ký sở hu xe ô tô nói trên.
[7] V án phí: căn cứ Điều 147, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
khoản 7 Điều 27, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-Án phí dân s thẩm: do sa án nên sa lại án phí thm, buộc
Tăng Ngọc H phải chịu án phí đối với phần tài sản được nhận 133.333.000đ x
5% = 6.666.650đ ( làm tròn 6.666.000đ).
-Án phí dân sự phúc thẩm: do sửa án nên Trần Thị N, ông Tăng Minh K
anh Lê Tăng Minh K1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng
dân sự;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị đơn Trần Thị N,
ông Tăng Minh K người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tăng Minh
K1.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 14 - Vĩnh Long.
Căn cứ các Điu 609, 610, 611, 612, 613, 624, 625, 626, 643 644 ca
B lut dân s năm 2015; khoản 7 Điều 27, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chp nhn mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn Tăng Ngọc
H;
2. Công nhn s t nguyn gia anh Lê Tăng Minh K1ông Tăng Minh
K. Anh Tăng Minh K1 có nghĩa vụ giao tr li cho ông Tăng Minh K mt xe
ô nhãn hiu TOYOTA, loi xe ô con, s loại YARIS, màu sơn đỏ, bin s
đăng 84A-128.55, s máy 2NR5247635, s khung MR2K23F32J1137256
(cp cho anh K1 ngày 21/8/2024).Ông Tăng Minh K có quyền, nghĩa vụ đăng ký
đứng tên s hu xe ô tô nêu trên.
Buc ông Tăng Minh K nghĩa vụ thanh toán giá tr k phn tha kế
chiếc xe ô nêu trên cho Tăng Ngc H vi s tiền 133.333.000đ (mt
trăm ba mươi ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
-Buộc Tăng Ngọc H phải chịu 6.666.000đ, nhưng được tr vào s tin
tm ứng án phí đã nộp 61.450.00theo biên lai số 0019585 ngày 01 tháng 11
năm 2023 của Chi cc thi hành án dân s th Duyên Hi, tnh Trà Vinh ( nay
là Phòng thi hành án dân s khu vc 14 Vĩnh Long). Hoàn trảTăng Ngọc H
s tiền 54.784.000đ (Năm mươi bốn triu bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
3. Về án phí dân sphúc thẩm: Hoàn trả ông Tăng Minh K và anh
Tăng Minh K1 mỗi người 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm theo các biên lai thu số 0002694 0002701, cùng ngày 12/9/2025
của Thi hành án dân tỉnh Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
7
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34,
36, 71 và 72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- TAND Khu vực 14 - Vĩnh Long; (Đã ký)
- Phòng THADS Khu vực 14 - VL;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Thị Ánh Bình
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 740/2026/DS-PT Bản án số 740/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 740/2026/DS-PT Bản án số 740/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất