Bản án số 1026/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1026/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1026/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1026/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà A kiện tranh chấp thừa kế với bà M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1026/2026/DS-PT Bản án số 1026/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1026/2026/DS-PT Bản án số 1026/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
——————————
Bản án số: 1026/2026/DS-PT
Ngày: 17/8/2026
“V/v Tranh chấp thừa kế và
tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Bà Đào Thị Thủy
Thư phiên tòa: Trần Thị Kim Trang Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 17 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
378/2024/TLPT-DS ngày 06/11/2024 về việc: “Tranh chấp thừa kế và Hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất ”.
Do bản án Dân sự thẩm số 42/2024/DSST ngày 26/7/2024 của Tòa án
nhân dân huyện Phong Điền (nay Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ)
kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 482/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng
11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1972.
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Phan Nguyễn Hoa T (Giấy ủy
quyền ngày 16/12/2022), có mặt.
Địa chỉ: A T, phường T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Nguyễn Thị M, sinh năm 1961 (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1946 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: 44/14, khu tái định cư H, phường T, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1940 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần T.
3. Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1977 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ.
4. Bà Nguyễn Phạm Kim A1, sinh năm 1980, (Có mặt).
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ.
5. Bà Nguyễn Phạm Kiều D, sinh năm 1982, (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ.
6. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1956, (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ.
7. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958, (vắng mặt).
Địa chỉ: 4, khu vực Bình Thường A, phường L, thành phố Cần Thơ.
8. Bà Nguyễn Thị Bạch Y, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ.
9. Chị Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1992 (có mặt).
10. Anh Nguyễn Tuấn A2, sinh năm 1985 (có mặt).
11. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1958 (xin vắng mặt).
12. Chị Nguyễn Thị Diễm M1, sinh năm 1991 (xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần T.
Người kháng cáo: Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thị T2, Nguyễn
Thị C, ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị Bạch Y, Nguyễn Phạm Kim A1,
Nguyễn Phạm Kiều D và ông Nguyễn Hoàng T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Phan Nguyễn Hoa T trình bày:
Cha mẹ ruột của nguyên đơn cụ Nguyễn Văn C1, sinh năm 1917, chết ngày
22/11/2008 cụ Nguyễn Thị Y1, sinh năm 1924, chết ngày 03/11/2015 tạo
lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 3769m
2
thuộc thửa đất số
13, tờ bản đồ số 03 chiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO773582,
số vào sổ H01215 do UBND huyện P, thành phố Cần Thơ cấp ngày 26/02/2009.
Cụ Nguyễn Văn C1 cụ Nguyễn Thị Y1 chết không để lại di chúc (Cha
mẹ của hai cụ đều đã chết trước hai cụ).
3
Tại thời điểm mở thừa kế của cụ C1 và cụ Y1 có tất cả 08 người con, đồng
thời 08 người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất, mỗi người
được hưởng 1/8 tài sản trên, gồm có: Bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Văn N, ông
Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M,
Nguyễn Thị Bạch Y, bà Nguyễn Thị Kim A.
Ông Nguyễn Văn B chết năm 1996, không đlại di chúc. Những người
thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế của
ông B đối với kỷ phần 1/8 tài sản thừa kế nêu trên gồm 03 người con anh
Nguyễn Hoàng T1, chị Nguyễn Phạm Kim A1, chị Nguyễn Phạm Kiều D.
Lúc cha nguyên đơn cụ C1 còn sống thì Hợp đồng tặng cho nguyên
đơn Nguyễn Thị Kim A một phần quyền sử dụng đất diện tích 480m
2
(CLN) trong tổng diện tích đất 3769m
2
nêu trên, Hợp đồng cũng đã được UBND
xã M chứng thực vào ngày 05/09/2006. Vị trí phần đất tặng cho đã được xác định
bằng biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 26/8/2006 được UBND
M chứng thực. Mẹ nguyên đơn cụ Y1 biết và đồng ý việc tặng cho này. Các
anh chị em còn lại trong gia đình cũng biết việc tặng cho này không ai ý
kiến phản đối gì.
Sau khi được tặng cho 480m
2
đất thì nguyên đơn đã làm hàng rào quản
sử dụng ổn định, liên tục cho đến nay nhưng chưa được cấp giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất đối với phần đất này.
Sau khi cụ C1 cụ Y1 mất được một thời gian thì các anh em trong gia
đình đã họp mặt để thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đối với phần diện tích đất
còn lại 3289m
2
không yêu cầu chia đối với phần đất 480m
2
(CLN) mà cha
mẹ đã cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A.
Nhưng bà Nguyễn Thị M thì không đồng ý chia đều cho các anh em mà bà
M đòi nhận 50% phần đất diện tích 3289m
2
. Các anh chị em trong gia đình cũng
đã nhiều lần thương lượng với phía bà M nhưng không thể hòa giải được.
Do Nguyễn Thị T4 đã tuyên bố từ chối nhận phần di sản thừa kế của cha
mẹ để lại, để di sản này được chia đều cho các anh em còn lại.
Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế theo bản trích đo số 726/TTKTTNMT ngày
20/7/2023 của Trung Tâm K thì phần diện tích cụ C1 tặng cho Nguyễn Thị
Kim A tại vị tA diện tích 499,9m
2
(có 50m
2
HLLG), loại đất CLN, tăng so
với hợp đồng tặng cho là 19,7m
2
. Tổng di sản thừa kế là 3.612,9m
2
( trừ 17,8 m
2
đất còn đang tranh chấp ranh) với 300m
2
ONT, 3.312,9 m
2
CLN.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện yêu cầu công nhận phần diện tích
499.7m2 CLN thuộc thửa đất s13, tờ bản đồ số 03 tại vtrí A bản trích đo địa
chính số 726/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên
môi trường thành phố K cho nguyên đơn theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất được Ủy ban nhân dân M chứng thực ngày 05/9/2006, số 440, quyển số
01TP/CC-SCT/HĐGD giữa cụ Nguyễn Văn C1 Nguyễn Thị Kim A.
Nguyên đơn đồng ý trả giá trị 19.7m
2
CLN. Đồng thời yêu cầu được chia thừa kế
4
theo pháp luật với kphần thừa kế được hưởng là 1/8 phần đất sau khi trừ 17,8m
2
tại vị trí B chưa xác định ranh với ông Nguyễn Văn S và đồng ý trừ phần diện tích
đất mộ trước khi chia thừa kế, nhưng phần mộ không nêu diện tích trong biên bản
định giá tùy Hội đồng xét xử quyết định. Nguyên đơn không yêu cầu chia phần
nhà thờ, xin nhận đất CLN tiếp theo phía sau vtrí A tại bản trích đo, xin nhận g
trị phần đất thổ cư và không đồng ý trả giá trị cây cho phía bị đơn.
Ý kiến trình bày của bị đơn bà Nguyễn ThM: Cha mẹ ruột cụ Nguyễn
Văn C1, sinh năm 1917, chết ngày 22/11/2008 cụ Nguyễn Thị Y1, sinh năm
1924, chết ngày 03/11/2015 có tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất
diện tích 3769m
2
thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 03, Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AO773582, số vào sổ H01215 do UBND huyện P, thành phố Cần
Thơ cấp ngày 26/02/2009. Qua đo đạc thực tế theo bản trích đo số
726/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung Tâm K thì phần diện tích cụ C1 tặng
cho Nguyễn Thị Kim A tại vtrí A diện tích 499,9m
2
, loại đất CLN, tăng so
với hợp đồng tặng cho 19,7m
2
. Tổng di sản thừa kế 3.612,9m
2
( trừ 17,8m
2
đất còn đang tranh chấp ranh) với 300m
2
ONT, 3.312,9m
2
CLN.
Bà M thống nhất về hàng thừa kế. Lúc cụ C1 còn sống thì có ký Hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị Kim A một phần quyền sử dụng
đất có diện tích là 480m
2
(CLN) trong tổng diện tích đất là 3769m
2
nêu trên, Hợp
đồng cũng đã được UBND M chứng thực vào ngày 05/09/2006. Phần này
đồng ý tách cho bà A và phần diện tích tăng cũng đồng ý chia giá trị và không
ý kiến gì. Hiện nay đang sử dụng phần này và A không xây dựng hàng
rào như đại diện nguyên đơn trình bày. Hiện tại bà đang canh tác sử dụng hết
phần đất mà các bên yêu cầu chia thừa kế.
Phần còn lại diện tích 300m
2
ONT 2.813,2m
2
CLN (trừ 17,8 m
2
đất
còn đang tranh chấp ranh) đất hương quả, cha mẹ bà di nguyện không chia
để lại cho người con nào chăm sóc, phụng dưỡng lúc tuổi già thờ cúng tổ
tiên. Khi cha mẹ tuổi già người trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng thờ cúng
ông bà từ khi cha mchết đến nay nên yêu cầu được nhận phần di sản do cha m
bà để lại.
Ý kiến trình bày của bà Nguyễn Thị T4: T4 văn bản từ chối nhận di
sản thừa kế theo pháp luật ngày 04/5/2023.
Ý kiến trình bày của Nguyễn Văn N: Yêu cầu hưởng 1/7 phần di sản thừa
kế. Đồng ý tách vị trí A theo bản trích đo địa chính cho nguyên đơn bà A.
Ý kiến trình bày của ông Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Phạm Kim A1
Nguyễn Phạm Kiều D, Nguyễn Thị Bạch Y, Nguyễn Thị C: Các ông
đều thống nhất theo ý kiến của nguyên đơn, bị đơn về hàng thừa kế và di sản cha
mẹ để lại. Các ông bà yêu cầu hưởng 1/7 phần di sản thừa kế theo quy định pháp
luật. Đồng ých vị trí A theo bản trích đo địa chính cho nguyên đơn và nhận giá
trị phần diện tích 19.7m
2
tăng thêm. Không đồng ý trả giá trị cây cho bị đơn
biên bản thẩm định chưa được kiểm tra thực tế, chỉ đồng ý khi thẩm định lại
5
yêu cầu thẩm định phải phải kiểm tra, phân loại cây nào còn tươi tốt, còn sử
dụng được, cá nuôi còn giá trị sử dụng mới xem xét trả giá trị hay không.
C, bà Y Nguyễn Phạm Kim A1 xin nhận đất cây lâu năm xin
nhận giá trị đất ở nông thôn vì đã dính phần nthờ. Không yêu cầu chia nhà thờ.
Đồng ý trừ phần mộ ra trước khi chia thừa kế.
Ý kiến trình bày của Nguyễn Thị T2: Yêu cầu hưởng 1/7 phần di sản thừa
kế. Đồng ý tách vị trí A theo bản trích đo địa chính cho nguyên đơnA1. T2
yêu cầu chia 22,23m đất mặt tiền thành 05 phần cho 5 người là bà, ông N, C,
M và Y. Yêu cầu chia đất thổ cư là 300/7=42.8m
2
. Đồng ý trừ phần mộ trước
khi chia thừa kế. Không đồng ý trả giá trị cây trồng trên đất.
Ý kiến trình bày của anh Nguyễn Tuấn A2 và chị Nguyễn Thị Kim N1:
anh A2 là người trồng cây, nuôi cá tại đất tranh chấp nhưng giao cho M nhận
giá trị cây vật nuôi nếu chia thừa kế cho người khác. ChN1 thống nhất ý kiến
của anh A2.
Do hòa không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại Bản án số 42/2024/DSST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Phong Điền đã tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
Kim A.
Công nhận cho nguyên đơn Nguyễn ThKim A phần đất diện tích
499.7m
2
, loại đất CLN, một phần thửa số 13, tờ bản đồ 03, đất toạ lạc tại ấp M,
M, huyện P, thành phố Cần Thơ. Đất thuộc vị trí A bản trích đo địa chính s
726/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi
trường thành phố K.
Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim A được nhận 01 kỷ phần di sản nhưng
nhận giá trị là 76.069.200 đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A nghĩa vụ trả giá trị cây trồng trên đất
tại vị trí A bản trích đo địa chính số 726/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung
tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố K với số tiền 42.143.000 đồng
cho bà Nguyễn Thị M.
Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim A nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn
N, con ông Nguyễn Văn B (anh Nguyễn Hoàng T1, chNguyễn Phạm Kim A1
chị Nguyễn Phạm Kiều D), Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị C Nguyễn
Thị Bạch Y mỗi người số tiền 413.700 đồng và bà Nguyễn Thị M 827.400 đồng
giá trị phần đất hơn hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân
dân xã M chứng thực ngày 05/9/2006, số 440, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD
giữa ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị Kim A.
2/ Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N, con ông
Nguyễn Văn B (anh Nguyễn Hoàng T1, chị Nguyễn Phạm Kim A1 chị Nguyễn
Phạm Kiều D), bà Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị Bạch Y.
6
Ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị C Nguyễn
Thị Bạch Y mi người được nhận 01 kỷ phần di sản nhưng nhận giá trị là
76.069.200 đồng.
Anh Nguyễn Hoàng T1, chị Nguyễn Phạm Kim A1 chị Nguyễn Phạm
Kiều D được nhận 01 kỷ phần di sản nhưng nhận giá trị là 76.069.200 đồng.
3/ Bị đơn Nguyễn Thị M trả giá trị di sản thừa kế cho Nguyễn Thị
Kim A, ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị C Nguyễn Thị
Bạch T4 mỗi người số tiền 76.069.200 đồng.
Bị đơn Nguyễn Thị M trả giá trị di sản thừa kế cho con ông Nguyễn Văn
B bà Nguyễn Phạm Kim A1, ông Nguyễn Văn T5 và bà Nguyễn Phạm Kiều D
số tiền 76.069.200 đồng.
Nguyễn Thị M được nhận di sản thừa kế 3612.9-499.7=3113.2 m
2
,
trong đó 300m
2
ONT 2813.2m
2
CLN (bao gồm 48m
2
phần nhà mộ nhà thờ),
thửa đất số 13, tờ bản đồ 03, đất toạ lạc tại ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần
Thơ. Đất thuộc bản trích đo địa chính số 726/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của
Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố K.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để
thực hiện thủ tục tách thửa đất, sang tên, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định.
4/ Đối với diện tích 17,8m
2
đất CLN tại vị tB do chưa thống nhất ranh
với ông Nguyễn Văn S nên sẽ tách thành vụ án khác.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự thẩm, cho phí đo đạc
thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên
xử các đương sự đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn Phan
Nguyễn Hoa T trình bày: Nguyên đơn yêu cầu được nhận vị trí A theo hợp đồng
tặng cho và cùng ông N nhận vị trí C. Nguyên đơn không đồng ý trả giá trị phần
cây trồng cho ông Nguyễn Tuấn A2. Phần đất thổ cư thì đề nghị chia đều cho các
kỉ phần.
Nguyễn Thị T2 các con ông B Nguyễn Phạm Kim A1,
Nguyễn Phạm Kiều D yêu cầu được nhận vị trí E. Đất thổ cư đề nghị chia giá trị.
Phần cây trồng không đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Tuấn A2.
Nguyễn Thị M đồng ý nhận hai suất thừa kế. Phần đất thổ bà yêu cầu
được nhận, bà không đồng ý chia phần đất thổ cư.
Ông Nguyễn Tuấn A2 yêu cầu được nhận phần giá trị cây trồng tại các vị
trí đất. Yêu cầu các đồng thừa kế khác trả giá trị làm tăng giá trị quyền sử dụng
đất mỗi 1m
2
là 150.000 đồng.
7
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ giải
quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư thực hiện đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng Dân sự.
Về nội dung kháng cáo: căn cứ các chứng cứ trong hồ vụ án và lời
khai của các đương sự thể hiện các đương sự đều thống nhất di sản thừa kế là của
cụ Nguyễn Văn C1 cụ Nguyễn Thị Y1 chết để lại, các đương sự đều thống nhất
phần đất cụ C1 tặng cho Kim A1 hàng thừa kế của cụ C1 cụ Y1 08
người. Tuy nhiên phần của bà Nguyễn Thị T4 văn bản từ chối nhận di sản thừa
kế (theo văn bản ngày 04/5/2023) nên xác hàng thừa kế của cụ C1 cụ Y1 là 07
người. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định phần của
bà M là người có công sức tôn tạo, bảo quản di sản và là người có công chăm sóc
cha mẹ khi còn sống và là người thờ cúng cha mẹ hiện nay nên chia cho bà M 02
kỷ phần là phù hợp.
Tuy nhiên, việc Tòa án cấp thẩm chia cho các đồng thừa kế mỗi người
được một kỷ phần tương đương 383,15m
2
với giá trị 76.069.200 đồng chưa
phù hợp. Bởi lẽ, các đương sđều nhu cầu nhận quyền sdụng đất nếu
không đủ điều kiện tách thửa theo Quyết định số 20/2024/QĐ-UBND ngày
11/10/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố C nhưng các đương sự đều thống nhất
đứng tên đồng shữu như T2, C, ông N phần của Kim A1 cũng đủ
điều kiện tách thửa nếu được chia quyền sử dụng đất. Như vậy việc Tòa án cấp
thẩm chia giá trị mỗi kỷ phần làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp
của các đương sự chưa phù hợp theo khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự năm
2015.
Đối vi giá tr tha kế ca mi k phn, Tòa án cấp thẩm căn cứ theo
biên bản định giá ngày 25/4/2023 xác định giá đất ODT 480.000 đồng cây
lâu năm 168.000 đồng giá nhà nước quy định để chia cho các đng tha kế
chưa phù hợp theo Căn cứ khoản 1 Điều 158 , việc định giá đất phi bảo đảm các
nguyên tắc sau đây: Phương pháp định giá đất theo nguyên tc th trường, nhưng
Tòa án cấp thẩm không định giá theo giá th trường lấy giá nhà ớc để
chia là làm thit thòi quyn lợi cho các đương sự.
Ngoài ra, đối vi phn cây trng vt nuôi Tòa án cấp thẩm xác đnh
giá tr bng m
2
(cá sc rn (03 tháng) 540m
2
x 200.000 đồng/m
2
= 108.000.000
đồng để buộc các đồng tha kế tr li giá tr cho b đơn là không th thi hành,
không phù hp vi thc tế. Tuy nhiên, các vi phạm y đã được cp phúc thm
khc phc bằng đồ đo đạc hin trng thửa đt ngày 24/4/2026 Biên bn
định giá ngày 21/7/2026 nên đề ngh Hội đồng xét x rút kinh nghiệm chung đi
vi Tòa án nhân dân khu vc 3 Cần Thơ.
Đối vi vic chia tha kế các đương sự thng nht Sơ đồ đo đạc hin trng
thửa đất ngày 24/4/2026 làm căn c gii quyết v án. Theo đó phn v trí A
din tích 480m
2
(CLN) cho bà Kim A1, phn v trí B din tích 819,2m
2
(141,5m
2
ODT), phn v trí C din tích 771,3m
2
(114,3m
2
ODT) giao cho bfa Kim A1
ông N; v trí D din tích 771,3m
2
(có 44,2m
2
ODT) giao cho bà C và bà Y, phn
8
còn li v trí E din tích 771,3m
2
(CLN) giao cho bà T2 các con ca ông B. Các
đương sự thng nht phần đất ODT chia đều cho các đồng tha kế ai nhiều hơn
s có trách nhim thi lại cho các đồng tha kế khác. Xét đây là sự t tha thun
của các đương sự phù hợp theo quy đnh ca pháp luật nên đề ngh Hội đồng
xét x ghi nhn.
Đối vi cây trng trên đt: xét thy nguyên đơn và ngưi liên quan không
đồng ý thi giá tr li cho b đơn và người liên quan là chưa phù hợp. Bi l, theo
Biên bn xem xét thẩm đnh ti ch Biên bản định giá th hin trên phần đất
các đương sự yêu cu chia tha kế đều có cây trng ca b đơn nên cn buc các
đồng tha kế, ai nhn v trí nào s trách nhim tr li giá tr cây trng cho
M theo Biên bản đnh giá tài sn ngày 21/7/2026.
Từ những phân tích như trên, đề nghị hội đồng xét xử sửa bản án thẩm
theo hướng chấp nhận một phần đơn kháng cáo của nguyên đơn người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đề xuất áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa
bản án dân sự thẩm s42/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân
huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ (nay Tòa án nhân dân khu vực 3 Cần
Thơ).
Phần án phí chi phí thẩm định: các đương sự phải nộp theo quy định
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ ván được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hpháp luật thì đây là vụ kiện:
"Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đấtthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ và giải quyết
đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn những người quyền và
nghĩa vụ liên quan trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các
đương sự là đúng quy định pháp luật. Người quyền và nghĩa vụ liên quan vắng
mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ
luật Tố tụng Dân sự 2015 xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hàng thừa kế: Căn cứ tờ khai htịch ngày 16/12/2022 thì cụ
Nguyễn Văn C1, sinh năm 1917, chết ngày 22/11/2008 cụ Nguyễn Thị Y1,
sinh năm 1924, chết ngày 03/11/2015 có tất cả là 08 người gồm:
1./ Bà Nguyễn Thị Tuyết .
2./ Ông Nguyễn Văn N.
9
3./ Ông Nguyễn Văn B (chết 2016, vợ Phạm Thị Bạch V, con là
Nguyễn Hoàng T1, bà Nguyễn Phạm Kim A1, bà Nguyễn Phạm Kiều D).
4./ Bà Nguyễn Thị T2.
5./ Bà Nguyễn Thị C.
6./ Bà Nguyễn Thị M.
7./Bà Nguyễn Thị Bạch Y.
8./ Bà Nguyễn Thị Kim A.
Hai cụ không con riêng hay con nuôi. Cha mhai cđã mất trước hai cụ
nên 08 người con kể trên thuộc hàng thừa kế nhất. Bà Nguyễn Thị T4 đã từ chối
hưởng di sản thừa kế nên di sản chỉ chia cho 07 người.
[2.2] Xét về thời hiệu chia thừa kế: Thời hiệu chia thừa kế vẫn còn theo
Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
[2.3] Xét về di sản thừa kế:
Di sản của hai cụ để lại là 3.612.9 m
2
(trừ 17.8 m
2
đất còn đang tranh chấp
ranh) với 300 m
2
ONT, 3.312.9 m
2
CLN, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AO773582, số vào sổ H01215 do UBND huyện P, thành phố Cần Thơ cấp ngày
26/02/2009. Bản trích đo địa chính s 726/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của
Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên môi trường thành phố K ghi nhận diên tích thửa
đất số 13, tờ bản đồ 03 có diện tích đo đạc là 3630.7m
2
(có 17.8m
2
loại CLN chưa
thống nhất ranh với ông Nguyễn Văn S).
[2.4] Xét tờ di chúc:
Hội đồng xét xử xét thấy di chúc ngày 21/01/1994 do cụ Nguyễn Văn C1
cụ Nguyễn Thị Y1 lập, về hình thức bằng văn bản, về nội dung không ghi
thửa đất, diện tích đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào, ghi nhận sự phân
chia di sản thừa kế cho 07 người con gồm ông B, bà M, bà A, ông N, bà C, bà Y
T2. Di chúc không ghi nhận diện tích thửa đất. Căn cứ Điều 13 Pháp lệnh
44 ngày 10/9/1990 về pháp lệnh thừa kế thì di chúc này không ghi địa chỉ của
người hưởng di sản và tài sản, di sản là gì và địa chỉ của tài sản... nên về mặt hình
thức và nội dung không hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không căn cứ
vào di chúc trên để chia thừa kế là phù hợp.
[3] Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với Nguyễn Thị Kim
A:
[3.1] Xét về hình thức:
Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân M
chứng thực ngày 05/9/2006, số 440, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD giữa ông
Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị Kim A về hình thức thì văn bản được Ủy ban
nhân dân xã M chứng thực nên hợp lệ về mặt hình thức.
10
[3.2] Xét về nội dung: Cụ C1 tặng cho Nguyễn Thị Kim A thửa 13 tờ
bản đồ số 03 diện tích 480m
2
đất cây lâu năm đất tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện P,
thành phố Cần Thơ (nay thuộc ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ).
Xét thấy, năm 2006 cụ Y1 còn sống nhưng hợp đồng tặng cho này chỉ do
cụ C1 ký. Mặc dù đây là tài sản chung của cụ C1 và cụ Y1 nhưng quyền sử dụng
đất hơn 3000m
2
đất nên cụ C1 hoàn toàn có quyền tặng cho bà A 480m
2
đất cây
lâu năm. A chưa tiến hành thủ tục tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định nhưng đã tiến hành đo đạc và đã có bản trích đo.
Căn cứ lời trình bày của bị đơn M yêu cầu độc lập của ông N, ông
T1, bà Nguyễn Phạm Kim A1, D, T2, bà C bà Y đều thống nhất công
nhận cho nguyên đơn 480m
2
đất cây lâu năm theo hợp đồng tặng cho quyền được
UBND M chứng thực vào ngày 05/09/2006 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối
với diện tích đo đạc thực tế dư ra với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
499.7- 480 =19.7m
2
cây lâu năm, nguyên đơn xin trả giá trị và bà M, bà T2, bà C
và bà Nguyễn Phạm Kim A1 đồng ý nên ghi nhận ở Tòa án cấp sơ thẩm.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm và qua các lần đo đạc, thẩm định thì bà
Nguyễn Thị Kim A đồng ý nhận diện tích tặng cho là 480m
2
loại đất CLN, tại vị
trí A theo bản trích đo ngày 24/4/2026 (ít hơn diện tích được tặng cho), đủ din
tích tách thửa theo quy định nên Hội đồng xét xử công nhận theo diện tích này
cho bà A.
[4] Xét yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn và những người có quyền và
nghĩa vụ liên quan:
Hội đồng xét xử nhận thấy do di chúc ngày 21/01/1994 do cụ C1 và cụ Y1
lập không có gtrị như đã phân tích trên nên chia tài sản theo quy định pháp luật.
Căn cứ theo Sơ đồ đo đạc ngày 24/4/2026 thay thế Sơ đồ đo đạc hiện trạng
thửa đất 282/VPĐK.DV, ngày 29/12/2025:
Tổng diện tích đất 3.630,7m
2
trong đó thể hiện:
Vị trí A có diện tích 480m
2
đất CLN.
Vị trí B có diện tích 819,2m
2
. (trong đó có 141,5m
2
đất ODT).
Vị trí C có diện tích 771,3m
2
(trong đó có 114,3m
2
đất ODT).
Vị trí D có diện tích 771,2m
2
(Có 44,2m
2
đất ODT).
Vị F diện tích 17,8m
2
tranh chấp giữa M ông Nguyễn Văn
S.
Căn cứ biên bản định giá tài sản ngày 25/4/2023 thì trên đất tranh chấp
02 mộ đất (không ghi diện tích), 02 mộ bê tông cốt thép (không ghi diện tích) và
nhà mdiện tích 48m
2
phần diện tích này phải trừ ra trước khi chia thừa kế.
Nguyên đơn, T2, C, Nguyễn Phạm Kim A1 đồng ý trừ phần mộ trước
khi chia thừa kế. M tự nguyện nhận phần đất mộ và đồng ý tính vào kỷ phần
thừa kế bà được nhận.
11
Đối với nhà thờ diện tích 84m
2
các bên không yêu cầu chia nhưng sẽ
giao lại cho người thờ cúng ông bà. Tuy nhiên, phần nhà thờ đã xuống cấp, dột
nát nếu trừ phần nhà thờ ra thì diện tích đất chia bị manh mún, phần mặt tiền sẽ
không đảm bảo lối đi vào các bất động sản nếu kỷ phần được chia. Vì vậy, không
trừ ra phần diện tích đất nhà thờ. Người nào nhận thì quản lý luôn phần nhà thờ.
Về giá đất: Các đương sự thống nhất g đất như sau: Giá đất ODT
2.000.000 đồng/1m
2
. Đất CLN: 500.000 đồng/1m
2
. Do đó, căn cứ vào mức g
trên để tính giá trị thối hoàn .
Qua xem xét yêu cầu của các đương sự nhận thấy: Căn cứ theo Bản trích
đo ngày 24/4/2026 thì các nguyên đơn yêu cầu được nhận các vị trí như sau phù
hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận như sau:
Vị trí A diện tích 480m
2
đất CLN là phần đất của Nguyễn Thị Kim
A được nhận tặng cho nên giao cho bà A vị trí này.
Vị trí B diện tích 819,2m
2
(trong đó có 141,5m
2
đất ODT) tn vị trí này
căn ncủa M và 02 khu mộ, bà M được hưởng 02 kỷ phần nên giao cho
M vị trí này. M được hưởng 75m
2
đất thổ (Do nhận nhiều đất thổ hơn)
nên bà M nên bà M thối lại cho các đồng thừa kế còn lại là 133.000.000 đồng.
Vị tC diện tích 771,3m
2
(trong đó 114,3m
2
đất ODT). Phần này
giao cho Nguyễn Thị Kim A ông Nguyễn Văn N là đồng sở hữu. Trong vị
trí nàyphần nthờ ông N và bà A quản lý. Ông N và bà A thối tiền giá trị đất
thổ (do nhận nhiều hơn 39,3m
2
) nên thối lại cho các đồng thừa kế khác
78.600.000 đồng.
Vị tD diện tích 771,2m
2
(Có 44,2m
2
đất ODT) phần vị trí này giao
cho Nguyễn Thị C Nguyễn Thị Bạch Y. Trong vị trí này một phần
nhà thờ diện tích 44,2m
2
nên các đồng thừa kế thối hoàn giá trị đất thổ cư cho bà
C và bà Y là 61.600.000 đồng.
Vị tE diện tích 771,2m
2
(không đất ODT) giao cho cho T2
các con ông Nguyễn Văn B (Ông T1, A, D thừa kế thế vị ông B) nên các
đồng thừa kế khác thối hoàn giá trị đất thổ cho T2 các con ông B
150.000.000 đồng.
Về cây trồng: Các nguyên đơn, bị đơn những người quyền nghĩa
vụ liên quan đều thừa nhận cây trồng là do con của bà M là anh Nguyễn Tuấn A2
trồng.
Căn cứ theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/7/2026 của Tòa
án nhân dân thành phố Cần Thơ nhận thấy:
Về phần cây trồng trên đất, các đương sđều thừa nhận do con của bà M
là anh Nguyễn Tuấn A2 trồng vì vậy các đương sự phải có nghĩa vụ trả phần giá
trị cây trồng trên cho anh Nguyễn Tuấn A2 là phù hợp cụ thể như sau:
Tổng giá trị cây trồng tại vị trí A 52.369.000 đồng Nguyễn Thị Kim
A nhận tại vị trí này nên bà A có trách nhiệm trả.
12
Tổng giá trị cây trồng tại vị tC 56.671.000 đồng Nguyễn Thị Kim
A ông Nguyễn Văn N nhận vị trí này nên A ông N trách nhiệm trả.
Mỗi người trả 28.335.500 đồng.
Tổng giá trị cây trồng tại vị trí D 115.595.000 đồng tại vị trí này chia cho
Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị Bạch Y nên bà C và bà Y có trách nhiệm trả
giá trị này. Mỗi người trả 57.595.000 đồng.
Tổng giá trị cây trồng tại vị trí E là 92.990.000 đồng. Vị trí này chia cho
Nguyễn Thị T2 các con ông Nguyễn Văn B nên bà T2 các con ông B
trách nhiệm trả giá trị này. Mỗi người trả 46.495.000 đồng.
Đối với vị trí B, do tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đồng ý giao cho
bà M tương đương hai kỉ phần. Phần cây do bà M và các con của bà M trồng nên
không định giá.
Xét Bản án sơ thẩm đối với phần cây trồng và vật nuôi Tòa án cấp sơ thẩm
xác định giá trị bằng m
2
(cá sặc rằn (03 tháng) 540m
2
x 200.000đồng/m
2
=
108.000.000 đồng để buộc các đồng thừa kế trả lại giá trị cho bị đơn là không thể
thi hành, không phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, các vi phạm này đã được cấp
phúc thẩm khắc phục bằng đ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 24/4/2026
Biên bản định giá ngày 21/7/2026 nên đnghị Hội đồng xét xử rút kinh nghiệm
chung đối với Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ.
[5] Xét yêu cầu của anh Nguyễn Tuấn A2:
Ti phiên tòa phúc thm: Anh Nguyn Tun A2 (con ca M) cho rng
anh ci to toàn b diện tích đất mới được hin trạng như ngày nay nên yêu
cầu được xem xét công sức đóng góp để tăng giá trị tài sn. Anh yêu cầu các đồng
tha kế phi tr cho anh s tin 3612,7m
2
x 150.000 đồng/m
2
= 541.905.000
đồng.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Yêu cầu của anh A2 chưa đủ
sđể chấp nhận vì: Anh không yêu cầu phiên tòa thẩm. Tại phiên tòa phúc
thẩm anh mới đặt ra yêu cầu này. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem
xét nếu có đủ cơ sở anh khởi kiện thành vụ kiện khác.
[6] Xét yêu cầu của anh Nguyễn Tuấn A2 yêu cầu các đồng thừa kế phải
trả anh số tiền 8.000.000 đồng tiền bơm cát để nâng cao phần đất. Số tiền này anh
A2 không yêu cầu ở giai đoạn sơ thẩm nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác
khi anh có đơn yêu cầu.
[7] Xét yêu cầu về số lượng và ốc nuôi trong ao của anh Nguyễn Tuấn
A2: Do số lượng cá nuôi ốc nuôi không định giá được. Hơn nữa, từ phiên tòa
thẩm đến nay đã anh A2 đã bán xong. Tuy nhiên, theo anh A2 thừa nhận vẫn
còn một số lượng thủy sản nuôi chưa bán. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm cho
phép anh A2 trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm phải xuất bán
lượng thủy sản nuôi trên để trả lại phần đất ao cho những người được nhận thừa
kế.
13
[8] Xét yêu cầu của M: Tại phiên tòa phúc thẩm cho rằng: Ngoài diện
tích đất tranh chấp thừa kế ra thì bà còn một diện tích giáp ranh với phần đất thừa
kế nên bà yêu cầu được chia cho bà diện tích đất giáp ranh với khu đất của bà để
thuận tiện cho việc đi lại sau này.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ phiên tòa thẩm M không yêu cầu. Tòa
án cấp phúc thẩm đã đo đạc, thẩm định lại khu đất tranh chấp rất nhiều lần nhưng
M không có ý kiến hay có văn bản yêu cầu. Đến khi ra phiên tòa phúc thẩm thì
bà M mới yêu cầu.
Xét thấy: Do yêu cầu của M chưa được cấp thẩm xem xét. M
không có đơn yêu cầu tại các lần đo đạc. Hơn nữa yêu cầu đòi lối đi qua bất động
sản liền kề nằm ngoài yêu cầu chia thừa kế. Vì vậy, nếu sau này có tranh chấp lối
đi qua bất động sản liền kề thì tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
[9] Xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị T2, Nguyễn
Thị C, con ông Nguyễn Văn B (ông Nguyễn Văn T5, Nguyễn Phạm Kim A1
và bà Nguyễn Phạm Kiều D) nhận thấy:
Các đương sthống nhất nhận kỷ phần thừa kế phần đất nhưng không đồng
ý thối hoàn giá trị cây trồng và vật nuôi trong ao:
Xét yêu cầu này của các đương sự Hội đồng xét xử nhận thấy là không phù
hợp anh A2 đã trồng cây nhưng các đồng thừa kế không ngăn cản hay ý kiến
phản đối. Theo biên bản thẩm định của Tòa án cấp sơ thẩm là trên 600 triệu đồng
nhưng do thời gian và anh A2 không chăm sóc nên cấp phúc thẩm thẩm định lại
thì giá trị giảm còn trên 300 triệu đồng. Vì vậy, để tránh gây thiệt hại cho anh A2
và phần nào đền bù đắp công sức cho anh A2 nên cần buộc những người nhận di
sản thừa kế trả theo giá thẩm định cấp phúc thẩm định lại phù hợp. Phần
cây trồng anh A2 nhận giá trị, các đương sự được nhận phần cây trồng trên từng
vị trí (kèm theo biên bản thẩm định). Phần thủy sản nuôi trong ao anh A2 tự thu
hoạch. Các đồng thừa kế không phải trả giá trị.
Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn
Thị T2, Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị Bạch Y, Nguyễn
Phạm Kim A1, bà Nguyễn Phạm Kiều D và ông Nguyễn Hoàng T1:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Các đương sự kháng cáo yêu cầu nhận kỉ phần
thừa kế quyền sử dụng đất căn cứ như đã nhận định. Tuy nhiên, đối với
phần giá trị cây trồng các đương sự không đồng ý trả giá trị cho anh Nguyễn Tuấn
A2 không có căn cứ nhận định trên nên chấp nhận một phần kháng cáo của các
nguyên đơn.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn N,
Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị C được miễn án phí do người cao tuổi. Các
đương sự còn lại phải chịu án phí theo quy định Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
14
[11] Chi phí đo đạc, định giá cấp sơ thẩm các đương sự được hưởng di sản
phải chịu theo quy định pháp luật.
[12] Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
[13] Về chi phí đo đạc cấp phúc thẩm: Các đương sự chịu theo quy định
pháp luật.
[14] Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân
sự 2015.
Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613; Điều 620, Điều 623; Điều 649;
Điều 650, Điều 651, Điều 652 B luật dân sự 2015 BLDS năm 2015;
Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị
Kim A, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị
Bạch Y, Nguyễn Phạm Kim A1, Nguyễn Phạm Kiều D ông Nguyễn
Hoàng T1.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
Kim A.
Công nhận cho nguyên đơn Nguyễn Thị Kim A phần đất diện tích
480m
2
, loại đất CLN, một phần thửa số 13, tờ bản đồ 03, đất toạ lạc tại ấp M, xã
M, huyện P, thành phố Cần Thơ (nay thuộc ấp M, phường A, thành phố Cần Thơ).
Đất thuộc vị trí A bản trích đo địa chính số 228/VPĐK.DV ngày 24/4/2026 của
Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C.
2./ Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị
Kim A và các đương sự như sau:
Nguyễn Thị Kim Aông Nguyễn Văn N được hưởng vị trí C có diện
tích 771,3m
2
(trong đó 114,3m
2
đất ODT). Phần này giao cho Nguyễn Thị
Kim A ông Nguyễn Văn N đồng sở hữu. Trong vị trí này phần nhà thờ
ông N và bà A quản lý. Ông N và bà A thối tiền giá trị đất thổ cư (do nhận nhiều
hơn 39,3m
2
) nên thối lại cho các đồng thừa kế khác là 78.600.000 đồng.
15
Nguyễn Thị M được hưởng vị trí B diện tích 819,2m
2
(trong đó
141,5m
2
đất ODT) trên vị trí này căn ncủa bà M 02 khu mộ. bà M
được hưởng 02 kỷ phần. Buộc M thối lại cho các đồng thừa kế khác tiền đất
thổ cư là 133.000.000 đồng.
Nguyễn Thị C Nguyễn Thị Bạch Y được hưởng vị trí D diện
tích 771,2m
2
(Có 44,2m
2
đất ODT). Phần này C Y đồng sở hữu. Trong
vị trí này một phần nhà thờ diện tích 44,2m
2
. C, Y được nhận thêm
61.600.000 đồng tiền thổ cư.
Nguyễn Thị T2các con ông Nguyễn Văn B (ông Nguyễn Hoàng T1,
Nguyễn Phạm Kim A1, Nguyễn Phạm Kiều D hàng thừa kế thế vị của
ông B) được hưởng vị trí E diện tích 771,2m
2
(không đất ODT) các đồng
thừa kế khác thối hoàn giá trị đất thổ cho T2 và các con ông B 150.000.000
đồng.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để
thực hiện thủ tục tách thửa đất, sang tên, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định.
Về phần cây trồng trên đất:
Buộc Nguyễn Thị Kim A trả giá trị cây trồng tại vị trí A là 52.369.000
đồng cho anh Nguyễn Tuấn A2.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim A và ông Nguyễn Văn N trách nhiệm trả giá
trị cây trồng tại vị trí C là 56.671.000 đồng cho anh Nguyễn Tuấn A2. (mỗi người
trả 28.335.500 đồng).
Buộc bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị Bạch Y có trách nhiệm trả giá trị
cây trồng tại vị trí D là 115.595.000 đồng cho anh Nguyễn Tuấn A2. (mỗi người
trả 57.595.000 đồng).
Buộc Nguyễn Thị T2 các con ông Nguyễn Văn B (ông Nguyễn Hoàng
T1, bà Nguyễn Phạm Kim A1, bà Nguyễn Phạm Kiều D) trả giá trị cây trồng tại
vị trí E 92.990.000 đồng. (bà T2 trả 46.495.000 đồng các con ông B trả
46.495.000 đồng).
Các đương sự được hưởng phần giá trị cây trồng trên từng vị tđất được
giao.
Buộc anh Nguyễn Tuấn A2 phải có nghĩa vụ thu hoạch thủy sản trong các
ao trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để giao lại phần đất ao cho
các đồng thừa kế.
Đối với diện tích 17,8m
2
đất CLN tại vị trí B do chưa thống nhất ranh với
ông Nguyễn Văn S nên sẽ tách thành vụ án khác.
(Kèm theo bản trích đo địa chính và biên bản định giá tài sản).
Về án phí dân sự thẩm: Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn N,
Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị C được miễn án phí do là người cao tuổi.
16
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A phải nộp 18.054.812 đồng, khấu trừ
3.940.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007731 ngày 02/02/2023
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Nguyễn Thị Kim A còn phải nộp thêm 14.114.812 đồng.
Nguyễn Phạm Kim A1, ông Nguyễn Văn T5 và bà Nguyễn Phạm Kiều
D phải nộp 14.927.652 đồng, khấu trừ 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo
biên lai s0001563 ngày 07/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong
Điền, thành phố Cần Thơ. A1, ông T5 bà D còn phải nộp 11.614.812 đồng.
Nguyễn Thị Bạch Y phải nộp số tiền 15.482.652 đồng, khấu trừ
2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001565 ngày 08/8/2023 của
Chi cục Thi hành án dân shuyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Y còn
phải nộp thêm 12.982.562 đồng.
Chi phí đo đạc, thẩm định sơ thẩm: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Nguyên đã nộp xong. Nguyên đơn chịu 2.500.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn N phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim A 1.250.000 đồng.
Các con ông Nguyễn Văn B (ông Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Phạm Kim
A1, bà Nguyễn Phạm Kiều D) trả cho Nguyễn Thị Kim A số tiền 1.250.000
đồng.
Nguyễn Thị T2 phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim A 1.250.000 đồng.
Nguyễn Thị C phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim A 1.250.000 đồng.
Nguyễn Thị Bạch Y phải trả cho Nguyễn Thị Kim A 1.250.000 đồng.
Nguyễn Thị M phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim A 2.500.000 đồng.
Chi phí đo đạc thẩm định cấp phúc thẩm (03 lần): 6.000.000 đồng.
Nguyễn Thị T2 nộp 3.000.000 đồng Nguyễn Thị Kim A nộp 3.000.000
đồng.
Vì vậy, bà Nguyễn Thị M phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim A 1.333.000
đồng. Ông Nguyễn Văn N phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim A 666.000 đồng.
Nguyễn Thị B1, bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Bạch Y mi người trả cho bà
Nguyễn Thị T2 là 666.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền tthỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
17
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 3-Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 3-Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đã ký
Nguyễn Văn Hải
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1026/2026/DS-PT Bản án số 1026/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1026/2026/DS-PT Bản án số 1026/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất