Bản án số 791/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 791/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 791/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 791/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 791/2026/DS-PT Bản án số 791/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 791/2026/DS-PT Bản án số 791/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 791/2026/DS-PT
Ngày: 04 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng
đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tnh Trung
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Trang
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư phiên tòa: Huỳnh Thị Hồng Nhả, Thẩm tra viên Tòa án nhân n
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Thị
Hồng Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 462/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng
7 năm 2026 về việc "Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất".
Do Bản án dân sự thẩm s79/2026/DS-ST ngày 29/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 730 /2026/QĐ-PT ngày
30 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1964; CCCD: ************.
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ông N ông M: Luật Thị Thanh
N1, Đoàn luật sư tỉnh V;
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1966;
2. Ông Nguyễn Văn Hữu N2, sinh năm: 1994; CCCD: ***********
Người đại diện theo ủy quyền của ông N2: Ông Phạm Kim C, sinh năm: 1972;
địa chỉ: ấp P, xã M, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản y quyền ngày 17/8/2026).
3. Bà Nguyễn Thị Bé N3, sinh năm: 1996;
Cùng địa chỉ: 5 ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1942;
Địa chỉ: ấp P, xã N, tỉnh Vĩnh Long;
2. Bà Lê Thị R, sinh năm: 1955;
Địa chỉ: ấp G, xã N, tỉnh Vĩnh Long;
3. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1950;
Địa chỉ: 1 ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long;
4. Bà Nguyễn Thị N4, sinh năm: 1961;
Địa chỉ: 5 ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long;
5. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm: 1962;
Địa chỉ: 8 ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long;
6. Bà Nguyễn Thị Hồng Đ2, sinh năm: 1969;
Địa chỉ: 2 ấp P, xã V, tỉnh Vĩnh Long;
7. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1966;
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long (Thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn B1);
8. Bà Nguyễn Thị Đ3, sinh năm: 1968;
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long (Thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn B1);
9. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1972;
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long (Thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn B1);
10. Bà Nguyễn Thị T (Nguyễn Thị L), sinh năm: 1980 (1974);
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long (Thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn B1);
11. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1976;
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long (Thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn B1);
12. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long (Thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn T2);
13. Bà Phan Th N5, sinh năm: 1959;
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N Người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung các bản tự khai trong quá trình
giải quyết v án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Thị Minh T3)
trình bày:
Cha mẹ của ông Nguyễn Văn N là cụ Nguyễn Văn Đ4 (chết năm 1988) và cụ
Trần Thị Đ5 (chết năm 2003). Lúc sinh thời, hai cụ sinh được 11 người con gồm:
Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn B1 (chết năm 1985), ông Nguyễn Văn G (chết,
không có vợ con), ông Nguyễn Văn M, Thị R (tên gọi khác: Nguyễn Thị R1),
ông Nguyễn Văn T2 (chết năm 1982), Nguyễn Thị N4, Nguyễn Thị Đ1, ông
3
Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị Hồng Đ2 ông Nguyễn Văn Đ6 (chết năm 2022;
vợ Nguyễn Thị Q và 02 con là ông Nguyễn Văn Hữu N2, bà Nguyễn Thị
Bé N3).
Nguồn gốc tài sản: Cụ Đ4 cụ Đ5 tạo lập được diện tích đất khoảng 20.000m²
đất tại ấp T, H, tỉnh Vĩnh Long. Trong đó, khoảng 11.000m² đã được phân chia
xong cho các con. Phần còn lại có diện tích 7.029,8m² thuộc tờ bản đồ số 12, xã H,
gồm 04 thửa đất:
- Thửa số 114 (diện tích 862,6m², do bà N3 đứng tên);
- Thửa số 152 (diện tích 288,3m², do ông N2 đứng tên);
- Thửa số 188 (diện tích 3.646,8m², do ông N2 đứng tên);
- Thửa số 190 (diện tích 2.232,1m², do ông N2 đứng tên).
Nguyên đơn cho rằng cụ Đ4 và cụ Đ5 chết không để lại di chúc nhưng ông Đ6
Q đã tự ý khai đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi
ông Đ6 chết, bà Q, ông N2bà N3 quản lý đất và sang tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông N2 và bà N3.
Nay nguyên đơn yêu cầu: Hủy văn bản nhận thừa kế từ cụ Trần Thị Đ5 sang
ông Nguyễn Văn Đ6 bà Nguyễn Thị Q đối với các thửa đất số 114, 188, 190; kiến
nghị thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trả lại cho cụ Trần Thị
Đ5 đứng tên đchia thừa kế theo pháp luật thành 10 kỷ phần bằng nhau (mỗi kỷ
phần 674,15m²); ông N xin nhận thửa 114 và hoàn trả giá trị chênh lệch (188,45m²).
Đối với thửa 152, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đã rút yêu cầu chia thừa kế.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (ông Phạm Kim C) trình bày:
Thống nhất về hàng thừa kế nguồn gốc đất do hai cụ Đ4, Đây tạo lập. Tuy
nhiên, vào khoảng năm 1982, khi cĐ4 và cụ Đ5 còn sống đã phân chia đất cho 04
người con trai: Ông B1 2,5 công, ông M 2,5 công, ông T2 2,5 công, riêng ông N
được chia 3,5 công. Các ông đều đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất riêng. Phần đất n lại khoảng 9,0 công, các cụ định hướng chia cho 05
người con gái (bà Đ, R1, N4, Đ1, bà Đ2) mỗi người 01 công, chừa 300m²
đất thổ m, còn lại khoảng 3,7 công chia cho ông Đ6 (do ông Đời S chung phụng
dưỡng cụ Đ5).
Khoảng năm 1995–1996, các con gái không nhận đất nên ông Đ6 đã thanh toán
cho mi người 02 chỉ vàng 24k để mua lại (riêng N4 giữ lại 1.000m² sử dụng).
Năm 1997, hộ cụ Trần Thị Đ5 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau
khi cĐ5 chết, ông Đ6 làm thủ tục khai nhận thừa kế theo quy định. Khi đo đạc xác
định ranh giới đất năm 2003, chính ông N ông M đã tên xác nhận ranh giới
giáp ranh, không ai tranh chấp. Do đó, bđơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người liên quan.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M trình bày: Thống
nhất với nguyên đơn, yêu cầu hủy văn bản nhận thừa kế, thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất chia thừa kế các thửa 114, 188, 190 thành 10 phần; ông M yêu
cầu nhận 533,2m² thuộc thửa 190 và nhận/trả phần giá trị chênh lệch.
Các người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Đ, R1, Đ2, Đ1, N4,
N5, T1) trình bày: Thống nhất xác nhận cha mẹ đã phân chia xong toàn bộ
diện tích đất cho các con tnăm 1982 1995. Các con trai đã nhận đủ phần đất.
4
Các con gái đã nhận 02 chỉ vàng/người từ vợ chồng ông Đ6 để giao lại đất cho ông
Đ6 quản sử dụng. Khẳng định cụ Đ4 cụ Đ5 không còn di sản thừa kế, không
đồng ý yêu cầu của ông N và ông M. Trường hợp Tòa án chia thừa kế thì các bà từ
chối nhận và giao phần đó cho ông N2, bà N3.
Các con của ông B1 (ông B, Đ3, ông H, T, C1): văn bản tchối
nhận di sản của cụ Đ5, không tranh chấp và xin vắng mặt.
Tại Bản án dân sự thẩm số 79/2026/DS-ST ngày 29/05/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 6 - Vĩnh Long đã quyết định:
1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế
đối với thửa đất số 152 (diện tích 288,3m²).
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông Nguyễn
Văn N) và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan (ông Nguyễn
Văn M) về việc hủy văn bản nhận thừa kế, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất chia thừa kế đối với các thửa đất số 114, 188, 190 thuộc tờ bản đồ số 12,
H.
3. Ngoài ra, án sơ thẩm n quyết định về chi ptố tụng, án pvà quyền kháng
cáo của các đương sự.
Ngày 10/06/2026, ông Nguyễn Văn N ông Nguyễn Văn M nộp đơn kháng
cáo yêu cầu sửa bản án thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện yêu cầu
độc lập.
Tại phiên tòa phúc thm:
Nguyên đơn ông M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập nội
dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án.
Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N ông M: Cho
rằng ông M ông N không tên trong văn bản phân chia thừa kế để lại đất cho
ông Đ6; phía bị đơn không cung cấp được văn bản phân chia thừa kế. Do đó, các
thửa đất 114, 188, 190 là di sản thừa kế chưa chia của cụ Đ5, đề nghị Hội đồng xét
xử chấp nhận kháng cáo, chia thừa kế theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân th đúng
quy định của B luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ chứng cứ, đánh giá
khách quan nguồn gốc đất quá trình sử dụng. Đất tranh chấp đã được các cụ phân
chia định đoạt xong lúc còn sống, ông N và ông M đã nhận đủ phần tài sản của
mình. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông N ông M,
giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 79/2026/DS-ST.
Về án phí phúc thẩm: Miễn án pcho ông Nguyễn Văn N ông Nguyễn Văn
M do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm tra
công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự
và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
5
[1] Về thủ tục t tụng:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Nông Nguyễn Văn M được nộp trong
thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên hợp lệ.
Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giải quyết vắng mặt, Tòa án
tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
[2] Xét nguồn gốc đất tranh chấp thuộc các thửa 114, 188, 190 tờ bản đồ số 12
tại H, các đương sự đều thống nhất do cụ Nguyễn Văn Đ4 (chết năm 1988) và cụ
Trần Thị Đ5 (chết năm 2003) tạo lập.
Căn cứ lời khai đồng nhất của hầu hết các con trong gia đình (gồm bà Đ, R1,
N4, bà Đ1, bà Đ2, bà N5 - vợ ông T2) cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được,
có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng năm 1982, khi cụ Đ4 và cụ Đ5 còn sống, hai c
đã phân chia phần diện tích khoảng 11.000m² cho 04 người con trai (ông B1 2,5
công, ông M 2,5 công, ông T2 2,5 công ông N 2,5 công). Tất cả 04 người con trai
này đã nhận đất, khai, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng quản
lý, sử dụng ổn định từ đó đến nay.
Đối với phần diện tích còn lại (sau khi Nhà nước thu hồi khoảng 1.600m² năm
2012 để xây dựng trường học, hiện còn 7.029,8m² thuộc các thửa 114, 152, 188,
190), lúc còn sống hai cụ định hướng chia cho 05 người con gái mỗi người 01 công,
chừa đất thổ mộ, phần còn lại giao cho ông Đ6 (người con trai út trực tiếp sống
chung phụng dưỡng cha mẹ). Quá trình sử dụng, các con gái không nhận đất canh
tác nên đã thỏa thuận nhận từ vợ chồng ông Đ6 mi người 02 chỉ vàng 24k để giao
lại phần đất cho ông Đ6 quản lý, sử dụng. Việc thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện,
đã hoàn thành tnhững năm 1995–1996 các con gái không tranh chấp hay yêu
cầu chia thừa kế.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn N cung cấp 03 "Tờ tường trình"
của Đ, Đ1 và R1. Hội đồng xét xử xét thấy: Cả 03 tờ tường trình này
hình thức, nội dung đánh máy trùng khớp từng dòng, từng chữ, không phản ánh đúng
ý chí tkhai của từng người. Mặt khác, tại bản tự khai biên bản ghi lời khai
do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập, bà Đ, bà Đ1 và bà R1 đều khai thống nhất với phía
bị đơn, mâu thuẫn hoàn toàn với nội dung tường trình do nguyên đơn nộp. Do đó,
các văn bản này không giá trị pháp để làm căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng
cáo.
[4] Xét tính chất, nội dung tranh chấp các tình tiết thực tế của vụ án, Hội
đồng xét xử nhận thấy vụ án có sự tương đng hoàn toàn với Án lệ số 24/2028/AL
về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất. Cụ thể:
Nhà đất do cha mẹ tạo lập, lúc còn sống cha mẹ đã phân chia cho các con và
các con đã nhận phần đất của mình, kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất và sử dng
ổn định qua nhiều năm. Nguyên đơn (ông N) người liên quan (ông M) đã nhận
đủ (và nhiều hơn) phần tài sản do cha mẹ phân chia từ năm 1982.
Quá trình ông Đ6 khai, làm thủ tục nhận thừa kế được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (kèm Biên bản xác định ranh giới thửa đất ngày 05/8/2003
hồ sơ đo đạc năm 2003), chính ông Nông M đã ký tên xác nhận ranh giới giáp
ranh. Việc xác nhận ranh giới thể hiện ông N ông M đã biết, thừa nhận việc
6
định đoạt, quản lý, sdụng đất của ông Đ6 và không hề có thắc mắc, tranh chấp nào
trong suốt hơn 20 năm qua.
Theo tinh thần Án lệ số 24/2018/AL: Khi nhà đất là tài sản của cha mẹ, lúc còn
sống cha mẹ đã chia cho các con và các con đã nhận, quản lý, sử dụng ổn định thời
gian dài, đã thực hiện kê khai đăng ký đất đai thì quyền sdụng đất đó không còn
di sản thừa kế chưa chia của cha mẹ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông N và ông M
về việc hủy văn bản nhận thừa kế, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để
chia thừa kế lại là không có căn cứ pháp lý.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy toàn bộ diện
tích đất thuộc các thửa 114, 188, 190 không còn di sản thừa kế chưa chia của cụ
Nguyễn Văn Đ4 và cụ Trần Thị Đ5. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bác toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người liên quan là đúng pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm không phát sinh tình tiết mới, nên giữ nguyên Bản án thẩm
như đề nghị ca đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Nông Nguyễn Văn M
người cao tuổi đơn xin miễn án phí, nên được miễn theo quy định tại điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 609, 610, 611, 612, 618, 623, 649, 650, 651 Bộ luật Dân sự
2015;
Căn cứ Luật Đất đai 2013 và Luật Đất đai 2024;
Căn cứ án lệ số 24/2018/AL;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 79/2026/DS-ST ngày 29 tháng 5
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
N yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn M về việc hủy văn bản nhận thừa kế,
thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chia thừa kế đối với các thửa đất s
114, 188, 190 tờ bản đồ số 12, xã H, tỉnh Vĩnh Long.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn N và ông
Nguyễn Văn M
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về đình chỉ một phần yêu cầu
khởi kiện (đối với thửa 152), chi phí tố tụng án phí dân sự thẩm không
kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án
7
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vc 6 Vĩnh Long;
- Phòng THDS khu vc 6 Vĩnh Long;
- Các đương sự (theo địa ch);
- Lưu, hồ sơ v án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Lê Thành Trung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 791/2026/DS-PT Bản án số 791/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 791/2026/DS-PT Bản án số 791/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất