Bản án số 399/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 399/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 399/2026/DS-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 399/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 399/2026/DS-PT Bản án số 399/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 399/2026/DS-PT Bản án số 399/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 399/2026/DS-PT
Ngày 21 8 2026.
V/v: Tranh chấp di sản thừa kế
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường
Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Phương; Ông Y Phi Kbuôr.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Minh Hiền, Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trương Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 171/2026/TLPT-DS ngày 15/6/2026 về
việc “Tranh chấp di sản thừa kế”. Do bản án dân sự thẩm số 19/2026/DS-ST
ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 374/2026/QĐ-PT ngày 31/7/2026,
giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:ơng Thị L, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn V, xã H, tỉnh
Đắk Lắk; có mặt.
Người đại din theo y quyn ca nguyên đơn: Ông Nguyễn Tâm H, sinh năm
1973; địa ch: A T, phường T, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
* B đơn có yêu cầu phản tố: Ông Lê Trùng D, sinh năm 1955; địa ch: Khu
phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông D: Ông Nguyễn Hương Q,
Luật sư Công ty L4 -–Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên; địa chỉ: Số C đường M, phường
T, tỉnh Đắk Lắk.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị P, sinh năm
1959; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Thị
X, sinh năm 1962; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk; đơn xin vắng
mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Trùng D.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 13/7/2020, và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà
Lương Thị L cùng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn
Tâm H trình bày:
Cha mẹ ơng Thị L là cụ Lương B (liệt sĩ) cụ Nguyễn Thị L1 (chết
năm 2016). Sau khi cụ L2 Bân hy sinh, cụ Nguyễn Thị L1 chung sống với ông K
(đã chết) sinh được 02 người con ông Trùng D, Thị X. Năm 2009, cụ
Nguyễn Thị L1 khởi kiện ông Lê Trùng D, bà Nguyễn Thị P tranh chấp nhà đất mà
cụ Nguyễn Thị L1 tạo lập. n cứ Quyết định số 70/2009/QĐST-DS ngày
10/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa (nay thị Đ) về việc “Công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự” thì cụ Nguyễn Thị L1 được quyền sử dụng
phần diện tích đất 275m² (trong đó 170m² đất (ONT) 105m² đất cây lâu năm
(CLN) thuộc một phần thửa 181, tờ bản đồ 69-C, tọa lạc tại khu phố P, phường H,
thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H00276 ngày 31/12/2007 do ông Trùng D, Nguyễn Thị P đứng tên; trên đất
nhà cấp 4 diện tích 37,26m², giới cận: phía Bắc giáp đường đi liên thôn dài
9,7m, phía Nam giáp đất vợ chồng ông D dài 9,3m, phía Tây giáp nhà đất ông
Trung P1 dài 25,6m, phía Đông giáp nhà đất ông D cạnh dài 18,8m, kéo về hướng
Tây cạnh dài 3,1m, kéo về hướng Nam cạnh dài 7,2m”. Cụ Nguyễn Thị L1 không
còn tài sản nào khác. Sau khi cụ Nguyễn Thị L1 chết, ông Lê Trùng D đã tự ý tháo
dỡ nhà cấp 4 xây lấn qua phần đất này. Khi cụ Nguyễn Thị L1 mất thì ông
Trùng D đứng ra tổ chức mai táng, tiền mai táng do Nhà nước cấp cụ L1 vợ liệt
sĩ. Khi cụ L1 còn sống thì cụ sống với bà Lương Thị L từ năm 1965 đến năm 2015,
chỉ về nhà sống với ông Trùng D từ năm 2015 đến 2016 thì cụ L1 mất. Cụ Nguyễn
Thị L1 chết không để lại di chúc. Do đó, bà Lương Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án
chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1 để lại là diện tích 275m² theo Quyết định
số 70/2009/QĐST-DS ngày 10/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa (nay
thị xã Đ). Bà ơng Thị L không yêu cầu Tòa án tính công sức chăm sóc mẹ.
* Bị đơn ông Lê Trùng D trình bày:
Mẹ ông Trùng D (cụ Nguyễn Thị L1) hai đời chồng, đời thứ nhất ông
ơng B (liệt sĩ) có con chung là bà Lương Thị L. Ông DThị X con đời
chồng sau, cha ông cụ K (chết). Việc Tòa án thụ hồ tranh chấp di sản
thừa kế của mẹ ông (cụ Nguyễn Thị L1) nhưng cụ L1 không tài sản riêng nào đối
với thửa đất mà nguyên đơn bà Lương Thị L đang tranh chấp. Vì từ năm 1990 đến
nay, ông đã sdụng và đóng thuế đất ntn phần đất đang tranh chấp, được Nhà
nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00276 cấp ngày 31/12/2007 cho
ông Lê Trùng D, Nguyễn Thị P đứng tên. Trước khi làm Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, ông D, bà P xin ý kiến của cụ Nguyễn Thị L1 được cụ L1 đồng ý
cho ông D, bà P làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 181, tbản đồ 69-
3
C. Đến tháng 11/2009, cụ L1 khởi kiện ông D yêu cầu tách thửa phần diện tích 275m²
đất của cụ L1 ra riêng. Vì muốn cụ L1 sống vui vẻ trong quãng đời còn lại nên ông
D đã đồng ý Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa ra Quyết định số 70/2009/QDST-
DS ngày 10/11/2009 công nhận sthỏa thuận của các đương sự. Kể tkhi Quyết
định số 70/2009/QĐST-DS ngày 10/11/2009 cho đến khi cụ L1 (chết ngày
19/12/2016) là trên 7 năm, cụ Nguyễn Thị L1 vẫn không yêu cầu thi hành án Quyết
định số 70/2009/QĐST-DS ngày 10/11/2009 không tách thửa phần diện tích
275m² đất đã thỏa thuận, vì cụ L1 đã tặng cho toàn bộ diện tích 275m
2
đất cho các
con của ông D (chỉ tặng cho bằng miệng) nên cụ L1 đã giao phần diện tích đất trên
cho gia đình ông D sử dụng. Căn cứ Điều 30 Luật thi hành án dân sự, tính đến thời
điểm năm 2015 đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, xem như cụ Nguyễn Thị L1 từ
bỏ quyền yêu cầu thi hành án của mình, không nhận tài sản nên quyền sử dụng đất
phần diện tích đất 275m
2
đất tại Quyết định số 70/2009/QĐST-DS ngày 10/11/2009
của cụ Nguyễn Thị L1 vẫn thuộc quyền s dụng của ông D, P theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số H00276 cấp ngày 31/12/2007 nên L không có quyền
đòi phân chia tài sản của cụ Nguyễn Thị L1 theo Quyết định số 70. Ông D yêu cầu
hủy Quyết định số 70/2009/QĐST-DS ngày 10/11/2009 của Tòa án nhân dân thị xã
Đông Hòa và yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Diện tích 234m
2
đất½ diện tích đất của cha cụ K ½ diện tích đất
của mẹ cụ Nguyễn Thị L1 nên chỉ chia thừa kế đối với diện tích đất của cụ Nguyễn
Thị L1;
- Yêu cầu Lương Thị L trả số tiền 19.100.000 đồng 0,5 chỉ vàng y đã
lấy của cụ Nguyễn Thị L1 để chia thừa kế;
- Yêu cầu bà Lương Thị L khi nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1 phải
có trách nhiệm thanh toán lại tiền công sức nuôi dưỡng và chi phí mai táng cho ông
Lê Trùng D tương ứng với kỷ phần được nhận; tổng số tiền công sức nuôi dưỡng
chi phí mai táng 146.900.000 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu chín trăm nghìn
đồng). Không yêu cầu Thị X thanh toán lại số tiền này khi nhận di sản thừa
kế.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị P trình bày: Thống
nhất theo lời trình bày của ông Lê Trùng D.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị X trình bày:
Thị X thống nhất về diện, hàng thừa kế như ông Trùng D đã trình
bày. X không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị L do Lương
Thị L không có trách nhiệm chăm lo, nuôi dưỡng, mai táng, thờ cúng cụ L1. Bà Lê
Thị X đồng ý với yêu cầu của ông Lê Trùng D và đề nghị Tòa án giải quyết:
4
- Diện tích 234m
2
đất½ diện tích đất của cha cụ K ½ diện tích đất
của mẹ cụ Nguyễn ThL1 nên chỉ chia thừa kế đối với diện tích đất của cụ Nguyễn
Thị L1;
- Yêu cầu Lương Thị L trả số tiền 19.100.000 đồng 0,5 chỉ vàng y đã
lấy của cụ Nguyễn Thị L1 để chia thừa kế;
Phần di sản thừa kế bà Lê Thị X được hưởng thì X tự nguyện cho ông
Trùng D.
* Người làm chứng ông Huỳnh Tấn Q1 trình bày:
Ông Huỳnh Tấn Q1 không quan hệ họ hàng với ông Trùng D, ông
Huỳnh Tấn Q1 không ở gần nhà ông Trùng D nhưng ông Q1ông D trước đây
có phục vụ trong quân ngũ nên tình cảm gắn bó, thường xuyên qua lại. Khoảng m
2013, Lương Thị L ông Trùng D lời qua tiếng lại về việc nuôi cụ Nguyễn
Thị L1 nên ông Trùng D đón cụ L1 về sống chung, nuôi dưỡng, chăm sóc đến
khi cụ L1 mất.
* Người làm chứng ông Lê Trung N trình bày: Ông Lê Trung N có quan h
họ hàng với ông Lê Trùng D (con chú bác họ), ông N gọi ông D là anh. Trước năm
2013, cụ Nguyễn Thị L1 mông Lê Trùng D sống tại căn nhà của cụ L1 trên thửa
đất tranh chấp, cạnh nhà ông Lê Trùng D. Khoảng đầu năm 2013, cụ L1 vì tuổi cao
nên sức khỏe yếu dần, ông Trùng D đón cụ L1 về sống chung, nuôi dưỡng, chăm
sóc đến khi cụ L1 mất.
* Người m chứng ông Trung P1 trình bày: Ông Trung P1 quan
hệ họ hàng với ông Trùng D, ông P1 gọi cha ông Trùng D bác. Ông P1 sống
cạnh nhà ông D từ năm 1975 đến nay. Khoảng năm 2014 (không nhớ tháng cụ thể),
cụ L1 vì tuổi cao nên sức khỏe yếu dần, ông Lê Trùng D đón cụ L1 về sống chung,
nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cụ L1 mất vào năm 2016.
* Người làm chứng ông Trương Tấn L3 trình bày: Mẹ ông Trương Tấn L3
cụ Nguyễn Thị M (đã chết) chị ruột của cụ Nguyễn Thị L1. Ông Trương Tấn L3
biết L từ trước năm 1975 đã đi làm thuê gửi tiền để chăm lo cho gia đình
cụ L1 nhưng không biết bà L gửi tiền nuôi cụ L1 và các em trong gia đình đến thời
điểm nào ng như không biết ông Trùng D đón cụ L1 về sống chung, nuôi
dưỡng, chăm sóc từ khi nào đến khi cụ L1 mất.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk quyết định:
Áp dụng các điều 160, 221, 649, 650, 651, 660, 688 Bộ luật Dân sự; các điều
92, 157, 165, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và gia đình;
điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp và quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
5
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Thị L về yêu cầu
chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1 đối với thửa đất diện tích 275m
2
(đo
đạc thực tế 234,1m
2
; trong đó: 170m
2
đất (ONT) 64,1m
2
đất cây lâu năm (CLN))
thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 69-C, tọa lạc tại khu phố P, phường H, thị xã Đ,
tỉnh Phú Yên (nay là phường H, tỉnh Đắk Lắk) một phần yêu cầu phản tố của bị
đơn ông Lê Trùng D, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Thị X về yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1 đối với stiền
5.000.000 đồng, 0,5 chỉ vàng 99.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Trùng D về
việc chia di sản thừa kế đối với diện tích 234m
2
đất, trong đó: ½ diện tích đất của
cha ông K ½ diện tích đất của mẹ bà Nguyễn Thị L1, thanh toán
138.100.000 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu một trăm nghìn đồng) chi phí chăm
sóc, nuôi dưỡng cụ Nguyễn Thị L1 và yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Trùng D,
yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị X về yêu cầu
chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1 đối với số tiền 14.500.000 đồng (Mười
bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
1. Giao cho ơng Thị L được toàn quyền quản lý, sdụng diện tích 90m
2
đất (4m x 22,5m), trong đó: 50m
2
đất ở (ONT), 40m
2
đất cây lâu năm (CLN); có t
cận: phía Đông giáp phần diện tích đất còn lại đã công nhận cho cụ L1 theo Quyết
định số 70, hiện ông D đang quản lý, sử dụng, chiều dài cạnh 22,5m; phía Tây giáp
nhà đất ông Trung P1, chiều dài cạnh 22,5m; phía Nam giáp phần diện tích đất
còn lại đã công nhận cho cụ L1 theo Quyết định số 70, chiều dài cạnh 4m; phía Bắc
giáp đường bê tông, chiều dài cạnh 4m; giới hạn bởi các điểm 4-A1-A2-A3-A4-3-4
(Có bản vẽ kèm theo).
Lương Thị L được nhận toàn bộ cây trồng công trình xây dựng trên diện
tích đt nêu trên; cụ thể: 13 cây mai, 02 cây cau cảnh, 01 cây sữa lớn, 12 cây đinh
lăng, 05 cây sắc máu, 01 bụi trúc, 01 cây sổ bông, 01 cây sung, 01 giếng bọng đất,
01 nhà tắm, hồ nước gạch xây, nền láng xi măng, tường rào lưới B40, móng đá 04
lớp dài 4m.
2. Buộc bà Lương Thị L phải thanh toán lại giá trị tài sản trên đất cho ông
Trùng D và Nguyễn Thị P số tiền tổng cộng là 11.013.000 đồng (Mười một triệu
không trăm mười ba nghìn đồng).
3. Giao cho ông Trùng D được toàn quyền quản lý, sdụng diện tích
144,1m
2
đt, trong đó: 120m
2
đất ở (ONT), 24,1m
2
đất cây lâu năm (CLN); có giới
cận: phía Đông giáp phần diện tích nhà đất của ông Lê Trùng D, Nguyễn Thị P
đang quản lý, sdụng; phía Tây giáp phần diện tích đất di sản thừa kế của c
Nguyễn Thị L1, đã giao cho Lương Thị L phần diện tích đất ông Trung P1;
6
phía Nam giáp phần diện tích nhà đất ông Trung P1; phía Bắc giáp đường
tông; giới hạn bởi các điểm A4-2-1-8-7-6-5’-5-A1-A3-A4 (Có bản vẽ kèm theo).
4. Buộc ông Trùng D, Nguyễn Thị P phải di dời hàng rào lưới B40 ra
khỏi phần diện tích đất di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1, đã giao cho
Lương Thị L.
5. Buộc Lương Thị L phải thanh toán cho ông Trùng D số tiền 1.923.166
đồng (Một triệu chín trăm hai ơi ba nghìn một trăm sáu ơi sáu đồng) - giá trị
kỷ phần thừa kế chênh lệch 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) -
mai táng phí mà ông Lê Trùng D đã thanh toán.
Lương Thị L ông Trùng D quyền và nghĩa vụ liên hệ với quan
có thẩm quyền để thực hiện trình tự, thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định đối với diện tích đất được chia di sản thừa kế.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về án phí, các chi phí tố tụng khác, nghĩa vụ
chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/4/2026, bị đơn ông Trùng D kháng cáo toàn bộ bản án thẩm,
đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bản án thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã
thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ, tài liệu được thu thập có
trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát cho rằng
yêu cầu chia thừa kế của Lương Thị L đối với diện tích đo đạc thực tế 234,1m
2
đất thuộc một phần thửa đất số 181, tờ bản đồ số 69-C là có căn cứ. Tuy nhiên, ông
D đã thời gian dài quản lý di sản, tạo lập tài sản trên đất nên đề nghị chia cho ông
D một phần công sức tôn tạo, quản lý di sản. Đồng thời, X đã tự nguyện tặng cho
phần di sản được hưởng cho ông D nhưng cấp thẩm vẫn buộc X chịu khoản
chi phí tố tụng là không đúng, phần chi phí tố tụng này ông D phải chịu mới đúng
quy định. Đề nghị XX chấp nhn một phần kháng cáo của bị đơn ông Lê Trùng
D. Sửa bản án thẩm như đề nghị nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Lương Thị L vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Trùng D vẫn giữ nguyên nội dung
kháng cáo nhưng lại đưa ra phương án để ông D được nhận toàn bộ thửa đất và chia
cho bà L nhận di sản thừa kế bằng giá trị nhưng bà L không đồng ý. Xét kháng cáo
của bị đơn Lê Trùng D, Hội đồng xét xử xét thấy:
7
[1.1] Đối với thửa đất có diện tích đo đạc thực tế là 234,1m
2
, thuộc một phần
thửa đất số 181, tờ bản đồ số 69-C tọa lạc tại Khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk:
Ông Trùng D Thị X cho rằng diện tích đất này có nguồn gốc
của bố mẹ (cụ Lê K và cụ Nguyễn Thị L1) để lại nên ½ diện tích là của cLê K, ½
diện tích là của cụ Nguyễn Thị L1. Tuy nhiên, căn cứ biên bản thỏa thuận nhờ Tòa
án ghi nhận” xác nhận của UBND xã H Quyết định công nhận sự thỏa thuận
số 70/2009/QĐST-DS ngày 10/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa thì
vào năm 2009, cụ Nguyễn Thị L1 đã có đơn khởi kiện đối với ông Lê Trùng D (BL
150, 850, 851) để yêu cầu vợ chồng ông D phải trả lại diện tích gần 500m
2
đất của
vợ chồng cụ L1. Quá trình hòa giải, Tòa án đã công nhận cụ Nguyễn Thị L1 được
quyền sử dụng diện tích 275m
2
đất (nay đo đạc thực tế là 234,1m
2
, trong đó: 170m
2
đất và 64,1m
2
đất cây lâu năm) thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 69-C, còn lại
143m
2
đất của ông D. Như vậy, đối với diện tích đất ông D, X cho rằng của
cha mẹ để lại thì đã được Tòa án giải quyết chia một phần cho cụ L1. Ông D cho
rằng sau khi Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa ban hành Quyết định công nhận sự
thỏa thuận số 70/2009/QĐST-DS ngày 10/11/2009, cụ Nguyễn Thị L1 không yêu
cầu Thi hành án là từ bỏ quyền lợi của mình. Lập luận của ông D là không phù hợp
quy định của pháp luật bởi tranh chấp quyền sử dụng đất đã được giải quyết bằng
Quyết định của Tòa án đã hiệu lực pháp luật nên theo Luật đất đai thì cụ L1
người quyền sử dụng đất hợp pháp. Việc cụ L1 không thực hiện thủ tục tách thửa
chỉ là vi phạm thủ tục hành chính về đất đai, không tước quyền sử dụng đất của cụ
L1.
Do đó, cấp thẩm xác định diện tích 234,1m
2
đất (trong đó: 170m
2
đất
(ONT) và 64,1m
2
đất cây lâu năm (CLN)) thuộc thửa đất số 181, tờ bản đồ số 69-C,
tọa lạc tại khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (naykhu phố P, phường
H, tỉnh Đắk Lắk) là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1 để lại là có căn cứ.
Các đương sự đều thừa nhận: hàng thừa kế thứ nhất của cụ L1 gồm 03 người
là bà Lương Thị L, ông Lê Trùng D và bà Lê Thị X. Cụ Nguyễn Thị L1 chết không
để lại di chúc nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị L và chia di sản
thừa kế của cL1 theo pháp luật là đảm bảo.
Căn cứ Biên bản định giá tài sản thì thửa đất tranh chấp trị giá: (170m
2
đất
ONT x 1.500.000 đ/m
2
) + (64,1m
2
đất CLN x 95.000 đ/m
2
) = 261.089.500
đồng. Giá trị phần di sản mỗi người được nhận là 87.000.000 (đã làm tròn).
Quá trình giải quyết vụ án, Lương Thị L yêu cầu được nhận hiện vật là
phần diện tích đất 90m
2
(trong đó: 50m
2
đất ở và 40m
2
đất CLN) để đất xây dựng
nhà nơi thờ cúng liệt sĩ. Cấp thẩm đã thẩm định, xác minh được
quan có thẩm quyền cung cấp: diện tích đất nêu trên đủ điều kiện tách thửa nên chia
cho bà Lương Thị L được nhận phần đất có diện tích 90m
2
(4m x 22,5m), trong đó:
8
50m
2
đất ở (ONT), 40m
2
đất cây lâu năm (CLN) có giá trị 78.800.000 đồng là thỏa
đáng.
Người bảo vệ quyền lợi của bị đơn cho rằng phần đất chia cho ông D chiều
rộng mặt đường 2.03m bất lợi và hạn chế quyền sử dụng của bị đơn. Tuy nhiên,
phần đất chia cho ông D có vị trí liền kề với đất ông D đang ở nên có thể nhập thửa,
không ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của ông D. Mặt khác, tại Quyết định Giám
đốc thẩm số 46 ngày 16/11/2023 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Đà Nẵng
đã nêu “Bà L con duy nhất của Liệt sỹ, có nguyện vọng nhận thừa kế bằng hiện
vật để nơi thờ cúng, việc Tòa án cấp phúc thẩm quyết định giao toàn bdi sản
thừa kế bằng hiện vật cho ông D là không đảm bảo quyền lợi đương sự, không đáp
ứng được nguyện vọng thờ cúng Liệt sỹ”. Do đó, không có sở chia toàn bộ hiện
vật cho ông D sử dụng.
Tài sản trên đất chia cho L (theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
22/9/2025) hiện còn: 13 cây mai, 02 cây cau cảnh, 01 cây sữa lớn, 12 cây đinh
lăng, 05 cây sắc máu, 01 bụi trúc, 01 cây sbông, 01 cây sung, 01 nhà tắm, hồ nước
gạch xây, nền láng xi măng, do ông D, bà P trồng và xây dựng. Cấp sơ thẩm tuyên
buộc bà Lương Thị L hoàn trả giá trị tài sản trên đất nêu trên cho vợ chồng ông D,
P đảm bảo quyền lợi của vợ chồng ông D. Đối với hàng rào lưới B40, cấp
thẩm tuyên buộc ông D, P di dời phù hợp nội dung quyết định CNSTT s70
ngày 10/11/2009. Đối với 01 cây sung: tại phiên tòa sơ thẩm, vợ chồng ông D, bà P
không yêu cầu bà Lương ThL phải hoàn trả lại giá trị nên Bản án cấp sơ thẩm ghi
nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông D, bà L là có cơ sở.
[1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị X tặng cho kỷ phần thừa kế
X được hưởng cho ông Trùng D nên cấp thẩm chia cho ông D được
quyền sdụng, quản phần diện tích đất còn lại 144,1m
2
, trong đó: 120m
2
đất
(ONT), 24,1m
2
đất y lâu năm (CLN). Kỷ phần thừa kế ông Lê Trùng D được nhận
giá trị 182.289.500 đồng nên cấp sơ thẩm buộc ông Trùng D nghĩa vụ hoàn
trả cho Lương Thị L giá trị kỷ phần thừa kế chênh lệch 8.123.500 đồng
căn cứ.
[1.3] Đối với số tiền 19.100.000 đồng và 0,5 chỉ vàng 99. Theo trình bày của
ông D bao gồm 8.000.000 đồng cụ L1 gửi tại Thánh thất C; 3.500.000 đồng và 0,5
chỉ vàng 99 cụ L1 gửi K1; 5.000.000 đồng chồng L mượn cụ L1; 1.000.000
đồng bà L lấy của cụ L1 schứng kiến của X, 1.600.000 đồng tiền trợ cấp
tháng 4/2015 của cụ L1 nhưng bà L đã nhận) bị đơn cho rằng do L cất giữ của cụ
Nguyễn Thị L1 nên yêu cầu chia, đồng thời xem xét khấu trừ khoản tiền chi phí mai
táng do ông D đã bỏ ra. Xét thấy:
Các đương sự thống nhất chi phí mai táng của cụ L1 34.500.000 đồng do
ông Trùng D chi trả. Ông D thừa nhận đã nhận stiền 12.000.000 đồng nhà nước
9
hỗ trợ cụ L1 người công cách mạng số tiền 20.000.000 đồng tiền cúng
dường. Tổng cộng là 32.000.000 đồng. Còn lại 2.500.000 đồng do ông D chi.
Tại Bản di chúc lập ngày 09 tháng 4 năm 2009 của cụ Nguyễn Thị L1, có xác
nhận của UBND H thể hiện nội dung: “... Hiện nay tôi (cụ L1) một số tiền năm
triệu đồng do con i tôi Lương Thị L cất giữ lo mai táng, mồ mả, cúng giỗ cho
tôi. Ngoài số tiền này tôi không vàng bạc hay khoản tiền nào khác... Những tài
sản tôi không nói trong di chúc này sphân chia theo pháp luật”. L thừa nhận
giữ của cụ L1 số tiền 5.000.000 đồng và 0,5 ch vàng y. Số tiền còn lại
(14.100.000 đồng) không chứng cứ chứng minh L giữ của cụ L1 để chi tiêu
riêng. Tại biên bản xác minh việc nhận trợ cấp người cao tuổi (BL 755, 756) thể
hiện: “Năm 2015 2016, cụ L1 được hưởng trợ cấp người cao tuổi với mức
180.000 đ/ tháng, ông Trung M1 (con ông D) và bà Nguyễn Thị P (vợ ông D) là
người trực tiếp nhận số tiền trên”. Đối với khoản tiền tuất vì cL1 là vợ Liệt sỹ thì
năm 2008 cụ L1 ủy quyền cho L nhận xác nhận của chính quyền địa phương
(BL 852). Do đó, cấp sơ thẩm bác yêu cầu bà L trả số tiền 14.100.000 đồng để chia
thừa kế là có căn cứ.
Trong số tiền 5.000.000 đồng mà bà L giữ, di nguyện của cụ L1 là để lo mai
táng nên L phải nghĩa vụ thanh toán cho ông D 2.500.000 đồng chi phí mai
táng mà ông D đã chi.
Trên phần đất chia cho L 01 giếng bọng đất trị giá 4.570.000 đồng
từ khi cụ L1 được chia đất, ngoài ra không còn tài sản nào khác của cụ L1. Như vậy,
gtrị di sản do L còn quản bao gồm: số tiền 2.500.000 đồng, 01 giếng bọng
đất giá trị 4.570.000 đồng 0,5 chỉ vàng 99 giá trị 8.000.000 đồng (theo
giá vàng niêm yết của Hệ thống vàng Phú Q ngày 20/3/2026 16.000.000
đồng/01), tổng cộng 15.070.000 đồng. Phần di sản này cấp thẩm chia đều cho ông
D, bà L, bà X mỗi người được nhận 5.023.333 đồng là đảm bảo.
Đối với phần của bà X được hưởng thì X đã tự nguyện cho ông D nên tổng
số tiền bà L phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông D là: 2.500.000 đồng (chi phí mai
táng) + (5.023.333 đồng x 2 phần thừa kế) = 12.546.000 đồng (đã làm tròn).
[1.4] Sau khi đối trừ nghĩa vụ của các bên, cụ thể: 12.546.000 đồng (số tiền
L có nghĩa vụ trả ông D) - 8.123.500 đồng (số tiền ông D có nghĩa vụ trả bà L).
Cấp thẩm xác định Lương Thị L còn phải thanh toán cho ông Trùng D tổng
số tiền 4.423.000 đồng là có căn cứ.
[1.5] Đối với nội dung ông D yêu cầu các đồng thừa kế phải thanh toán số tiền
138.100.000 đồng ông D đã chi khi chăm sóc, nuôi dưỡng cụ Nguyễn Thị L1 trong
thời gian 03 năm 09 tháng 16 ngày: Đây là nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ. Cụ
L1 không để lại di chúc tước quyền thừa kế của L nên án thẩm không chấp
10
nhận yêu cầu này của ông Trùng D là phù hợp quy định của pháp luật Dân sự
cũng như Luật Hôn nhân và gia đình.
[1.6] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn và quan điểm của Đại diện Viện
kiểm sát đề nghị cấp phúc thẩm xem xét chia thêm cho ông D phần chi phí tôn tạo,
quản lý tài sản. Xét thấy:
Tại Quyết định CNSTT số 70 ngày 10/11/2009 ghi nhận nội dung: Nguyên
L1 được ông S, Trần Thị T cho diện tích đất khoảng 500m
2
, L1 xây
dựng căn nhà cấp 4 để ở. Năm 1982, L1 cho con là vợ chồng Trùng D xây căn
nhà cấp 4 liền kề... Qua hòa giải, các đương sự thống nhất chia cho bà L1 diện tích
275m
2
, trên đất nhà cấp 4 và một số công trình kiến trúc của L1. Vợ chồng
ông D được sử dụng diện tích 143m
2
đất, trên đất có nhà cấp 4 của vợ chồng ông D.
Như vậy trên thực tế, cụ L1 vẫn trên đất tranh chấp, đến khi già yếu khoảng
năm 2013-2014 thì được vchồng ông D đón về chăm sóc và mất vào năm 2016.
Do đó, ông D chỉ quản lý di sản trong thời gian ngắn. Bà Lương Thị L người thừa
kế hợp pháp của cụ L1 nhưng phải khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế kéo dài từ
năm 2020 đến nay. Việc quản lý, sử dụng đất của ông D không được đương sự khác
đồng ý. Các loại cây vật kiến trúc ông D tạo lập đã được giải quyết buộc bà L
thanh toán giá trị. Do đó không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của b
đơn.
[1.7] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị sửa chi phí ttụng
theo hướng buộc ông D chịu phần chi phí tố tụng của bà X, xét thấy: Khi cấp
thẩm buộc bà X chịu 1/3 chi phí tố tụng, bà X không kháng cáo. Trường hợp ông D
tự nguyện chịu thay bà X thì vẫn có thể thực hiện trong giai đoạn thi hành án.
[2] Từ những phân tích nêu trên, HĐXX phúc thẩm xét thấy cấp thẩm đã
giải quyết vụ án căn cứ, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, nên kháng cáo của
bị đơn không được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông Lê Trùng D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông D người cao
tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Trùng D. Giữ nguyên Bản án
dân sự thẩm số 19/2026/DS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12
- Đắk Lắk.
[2] Về án phí n sự phúc thẩm:
11
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho
ông Lê Trùng D.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị,
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ II - TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 12 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 12;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã )
Lưu Thị Thu Hường
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 399/2026/DS-PT Bản án số 399/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 399/2026/DS-PT Bản án số 399/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất