Bản án số 1061A/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1061A/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1061A/2026/DS-PT ngày 19/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1061A/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Cao Bé N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1061A/2026/DS-PT Bản án số 1061A/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1061A/2026/DS-PT Bản án số 1061A/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1061A/2026/DS-PT
Ngày: 19 - 8 - 2026
V/v Tranh chấp yêu cầu chia
thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Lê Thị Minh Trang
Mạc Thị Chiên
Hà Thị Phương Thanh
- Thư phiên tòa: Quỳnh Anh Thư viên Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Nguyễn Văn
Phi Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 17 & 19 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự th số 994/2026/TBTL-DS
ngày 03 tháng 07 năm 2026 về việc: “Tranh chấp yêu cầu chia thừa kế”.
Do Bản án dân sự thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 17/03/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s1201/2026/-PT ngày
06 tháng 07 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cao Hoàng M, sinh năm 1969. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Hoài T, sinh năm
1957 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Cao Bé N, sinh năm 1973. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Huỳnh Thành Y, sinh năm
1970 (Có mặt). Theo giấy ủy quyền ngày 02/4/2026.Địa chỉ: ấp P, xã T, thành phố
Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Cao Văn S, sinh năm 1955. (Có mặt)
2. Ông Cao Văn Đ, sinh năm: 1965. (Vắng mặt)
3. Ông Cao Văn H, sinh năm: 1970. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.
4. Bà Cao Thị Thu P, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, đường P, phường B, thành phố Cần Thơ.
5. Bà Cao Thị Thu T1, sinh năm 1975. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.
6. Bà Cao Thị Tuyết M1; sinh năm: 1958. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ.
7. Bà Cao Thị N1; sinh năm: 1966. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã T, thành phố Cần Thơ
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Hoàng M; sinh năm: 1969. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
8. Bà Nguyễn Thanh T2; sinh năm: 1972. (Vắng mặt)
9. Bà Cao Ngọc N2; sinh năm: 1999. (Vắng mặt)
10. Ông Cao Ngọc T3; sinh năm: 2002. (Vắng mặt)
11. Bà Nguyễn Hồng T4; sinh năm: 1974. (Vắng mặt)
12. Ông Cao Hoàng P1; sinh năm: 1997. (Có mặt)
13. Bà Cao Thanh T5; sinh năm: 2003. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.
14. Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ
Đại diện theo uquyền: ông Châu Ngọc L Phó trưởng phòng Phòng Kinh
tế. (Vắng mặt)
Người kháng cáo: ông Cao N là bị đơn ông Cao Văn H người
quyền lợi, nghĩa vụ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện quá trình tố tụng đại diện theo uỷ quyền của nguyên
đơn ông Cao Hoàng M là ông Phạm Hoài T trình bày:
Cha mẹ của nguyên đơn bị đơn là ông Cao Văn Đ1 Trà Thị S1. Khi
còn sống ông Đ1 và bà S1 có với nhau 09 người con là:
1/ Ông Cao Văn S; sinh năm: 1955
3
2/ Bà Cao Thị Tuyết M1; sinh năm: 1959
3/ Ông Cao Văn Đ; sinh năm: 1965
4/ Bà Cao Thị N1; sinh năm: 1966
5/ Ông Cao Hoàng M; sinh năm: 1969
6/ Ông Cao Văn H; sinh năm: 1970
7/ Ông Cao Bé N; sinh năm: 1973
8/ Bà Cao Thị Thu T1; sinh năm; 1975
9/ Bà Cao Thị Thu P; sinh năm: 1979
Ngoài ra, ông Đ1 và S1 không con nuôi hay con riêng nào khác. Lúc sinh
thời, ông Đ1 và S1 tạo lập được tài sản là phần đất tổng diện tích 19.711m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 197/HĐCGCNRĐ, cấp ngày
11/5/1999 cho ông Cao Văn Đ1. Cụ thể:
+ Tờ bản đồ số 186; diện tích: 2510m
2
; loại đất: T+Q
+ Tờ bản đồ số 187; diện tích: 2260m
2
; loại đất: ĐM
+ Tờ bản đồ số 188; diện tích: 8016m
2
; loại đất: M
+ Tờ bản đồ số 189; diện tích: 6925m
2
; loại đất: M
Đây di sản duy nhất của cha mẹ để lại, ngoài ra không di sản nào khác
cũng không để lại nợ. Ông Đ1 và S1 chết không đlại di chúc. Phần đất trên thực
tế giáp với ranh đất của ông Cao Văn T6, ông n T7, ông Trần Văn Đ2, ông
Trần Văn H1, ông Cao Văn Đ và ông Trần Văn V. Hiện tại ông Cao Văn Đ1 đã chết
vào ngày 28/02/2017 và bà Trà Thị S1 chết vào ngày 20/6/2003. Ông bà ngoại, ông
bà nội của nguyên đơn cũng đã chết nhưng nguyên đơn không nhớ rõ họ tên và thời
điểm chết.
Phần đất hiện tại do ông Cao N và ông Cao Văn H đang quản lý sử dụng
xây dựng nhà sinh sống. Ông N ông H đang sử dụng đất canh tác thu hoa lợi từ
việc sử dụng đất. Hiện gia đình ông Cao H2 gồm: Ông Cao N, Nguyễn
Thanh T2, ông Cao Ngọc N2 và ông Cao Ngọc T3 đang sinh sống, đối với gia đình
ông Cao Văn H gồm: Ông Cao Văn H, Nguyễn Hồng T4, ông Cao Hoàng P1 và
bà Cao Thanh T5 đang sinh sống trên phần đất trên.
Khi cha nguyên đơn còn sống chia cho nguyên đơn phần đất diện tích
3.100m
2
đất vườn 400m
2
thtổng cộng 3.500m
2
. Đối với Hợp đồng tặng
cho ngày 20/11/2015 giữa ông Cao Văn Đ1 ông Cao N nguyên đơn không
thừa nhận, chtrong hợp đồng không phải của nguyên đơn nguyên đơn không
yêu cầu giám định chữ trong hợp đồng nêu trên. Phần đất ngày nguyên đơn không
đưa ra được giá trị và không thoả thuận được giá trị với những đương sự khác trong
vụ án. Nay nguyên đơn yêu cầu Toà án chia thừa kế theo quy định pháp luật cho
nguyên đơn tổng diện tích là 3.500m
2
trong đó: 3.100m
2
đất vườn và 400m
2
thổ cư.
4
Sau khi Toà án giải quyết nguyên đơn yêu cầu được nhận hiện vật theo kết quả đo
đạc thực tế của Toà án.
* Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Cao Bé N trình bày:
Cha bị đơn là ông Cao Văn Đ1 (chết năm 2017) và mẹ bị đơn là bà Trà Thị S1
(chết năm 2003). Hiện tại ông ngoại ông nội cũng đã chết, bị đơn không
nhớ tên. Khi còn sống, ông Đ1 S1 tổng cộng 09 người con ruột, không
có con nuôi hay con riêng nào khác giống như nguyên đơn trình bày
Khi còn sống ông Đ1 S1 cùng tạo lập được phần di sản có diện tích phần
đất tổng diện tích 19.711m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số
197/HĐCGCNRĐ, cấp ngày 11/5/1999 cho ông Cao Văn Đ1 như nguyên đơn trình
bày.
Phần đất trên là phần di sản duy nhất ông Đ1 và bà S1 để lại, ngoài ra ông, bà
không còn di sản nào khác cũng không để lại nợ. Hiện tại, bị đơn đang quản
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang sinh sống, canh tác trên phần đất. Hiện
tại gia đình bị đơn gồm 04 người: Cao N, Nguyễn Thanh T2, Cao Ngọc N2
Cao Ngọc T3 đang sinh sống trên phần đất. Ngoài ra còn có gia đình ông Cao Văn
H gồm: Ông Cao Văn H, Nguyễn Hồng T4, ông Cao Hoàng P1 và bà Cao Thanh
T5 cũng đang sinh sống trên phần đất. Bị đơn và ông H đã xây dựng nhà ở, canh tác
đất và thu hoa lợi từ việc sử dụng đất trên đã lâu nhưng thời gian cụ thể không nhớ
rõ. Thời điểm cha, mẹ chết không để lại di chúc nhưng có để lại Hợp đồng tặng cho
phần đất cho nguyên đơn ký tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang vào
ngày 20/11/2015. Tuy nhiên Ủy ban vẫn chưa cấp giấy cho bị đơn, bị đơn không yêu
cầu giám định chữ ký trong Hợp đồng trên. Bị đơn không biết giá trị tài sản và cũng
không thỏa thuận được giá trị tài sản với các đương sự khác trong vụ án.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị đơn không đồng ý bị đơn không
khởi kiện trong vụ án bđơn cho rằng phần đất này đã cho bị đơn và ông Cao Văn
H.
* Trong quá trình tố tụng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh chị
em có trình bày thống nhất với nhau về nhân thân gia đình và nguồn gốc đất mỗi
người có yêu cầu cụ thể như sau:
- Ông Cao Văn S không yêu cầu khởi kiện trong vụ án trên, nếu Tòa án giải
quyết ông được nhận kỷ phần thì kỷ phần của ông sẽ tặng cho lại ông Cao N.
Ông S yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Ông Cao Văn Đ không đưa ra được gtrị phần đất cũng không thỏa thuận
được với các đương sự trong vụ án. Ông Đ không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án,
nếu Tòa án giải quyết ông được nhận 01 kỷ phần và yêu cầu được nhận đất.
5
- Bà Cao Thị Tuyết M1 không đưa ra được giá trị phần đất cũng không thỏa
thuận được với các đương sự trong vụ án. M1 không có yêu cầu độc lập trong vụ
án trên, nếu Tòa án giải quyết được nhận 01 kỷ phần thì yêu cầu được nhận
phần đất thực tế.
- Cao Thị N1 không đưa ra được giá trị phần đất và cũng không thỏa thuận
được với các đương sự trong vụ án. Bà N1 không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án,
nếu Tòa án giải quyết bà được nhận 01 kỷ phần thì yêu cầu được nhận phần đất
thực tế và được đồng sở hữu đối với phần đất.
- Cao Thị Thu T1 không đưa ra được giá trị phần đất cũng không thỏa
thuận được với các đương sự trong vụ án. Bà T1 không yêu cầu khởi kiện trong vụ
án, nếu Tòa án giải quyết bà được nhận 01 kỷ phần thì tặng cho lại kỷ phần của
mình cho bị đơn ông Cao N. T1 yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình
giải quyết vụ án.
- Cao Thị Thu P không yêu cầu độc lập trong vụ án, nếu Tòa án giải
quyết được nhận 01 kỷ phần thì yêu cầu được nhận phần đất thực tế. Bà yêu
cầu được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
- Ông Cao Văn H không yêu cầu độc lập trong vụ án, ông không đồng ý yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn vì lúc cha mẹ còn sống đã chia đất cho anh em.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 17/03/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ Quyết định sửa chữa bổ sung bản án số
65/2026/QĐ-SCBSQĐ ngày 24/3/2026 đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chia thừa kế theo
pháp luật như sau: Nguyên đơn ông Cao Hoàng M, bị đơn ông Cao Bé N và những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Cao Văn S; Cao Thị Thuyết M2;
Ông Cao Văn Đ;Cao Thị N1; Ông Cao Văn H; Cao Thị Thu T1; Bà Cao Thị
Thu P đồng sở hữu đối với toàn bộ diện tích phần đất 19.711m
2
theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng ruộng đất tạm thời số 197/HĐCGCNRĐ cấp ngày 11/5/1993
cho ông Cao Văn Đ1. Phần giá trị quyền sử dụng đất của mỗi người được xác định
tương ứng với kỷ phần thừa kế được hưởng theo quy định của pháp luật.
Sau khi bản án hiệu lực pháp luật, các bên đương sự quyền nghĩa vụ
liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để thực hiện thủ tục khai, đăng
biến động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dưới hình thức đồng sở
hữu/đồng sử dụng. Trường hợp sau này các bên xác định được ranh giới, hình thể
hoặc có sự thỏa thuận về vị trí, các bên có quyền yêu cầu cơ quan chức năng đo đạc
để thực hiện việc tách thửa theo quy định chung.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
6
lãi suất cơ bản do Ngân hàng N3 quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm
thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Ngoài ra bản án có tuyên về quyền kháng cáo, chi phí tố tụng và tiền án phí.
Ngày 30/03/2026, bị đơn ông Cao Bé N: kháng cáo đối với bản án dân sự sơ
thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa toàn bộ Bản án theo hướng bác
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cao Hoàng M, công nhận hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất lập ngày 20/11/2015 giữa ông Cao Văn Đ1 với ông Cao
N, công nhận phần còn lại diện tích 4392,2m² tại ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ
khoảng 9.318m² tại ấp L, T, thành phố Cần Thơ thuộc quyền sở hữu của ông Cao
Bé N.
Ngày 31/03/2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H:
kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa toàn bộ Bản theo hướng bác
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cao Hoàng M, công nhận phần đất
diện tích khoảng 2.000m² tại ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ và khoảng 2.000m² tại
ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ thuộc quyền sở hữu của ông H.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
- Nguyên đơn ông Cao Hoàng M đơn xin rút đơn khởi kiện; đồng ý việc
rút đơn kháng cáo của bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao n H.
- Bị đơn ông Cao N người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao
Văn H xin rút kháng cáo và đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát vviệc tuân theo pháp luật
của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Đề nghị áp dụng Điều 299 Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận
hủy đình chỉ bản án án thẩm do nguyên đơn ông M đơn xin rút đơn khởi
kiện; Bị đơn ông N người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H xin rút kháng
cáo. Bị đơn ông N đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn ông
M đồng ý việc rút đơn kháng cáo của bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Cao Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng ctrong hồ vụ án, qua kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
7
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Cao N người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Cao Văn H đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật về người
kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các
điều 271, 272, 273 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng
xét xử phúc thẩm xem xét yêu cầu kháng cáo bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227,
228 xét xử vắng mặt là đúng quy định.
[2] Về nội dung: Cần thiết có đánh giá lại bản án sơ thẩm cụ thể như sau:
[2.1] Tòa án cấp thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tổ chức
đo đạc nhưng không thực hiện được đầy đủ do bị đơn ông N không hợp tác, không
cho quan chức năng và đơn vị đo đạc tiếp cận hiện trường. Hậu quả là Tòa án
không xác định được chính xác vị trí, hình thể, ranh giới diện tích phần đất do
ông N và ông H đang quản lý, sử dụng.
[2.2] Cấp sơ thẩm chưa làm đầy đcác vấn đề nêu trên nhưng lại tuyên
nguyên đơn các đương sự là đồng sở hữu toàn bộ diện tích 19.711m², đồng thời
chỉ ghi nhận phần giá trị quyền sử dụng đất của mỗi người được xác định tương
ứng với kỷ phần thừa kế được hưởng theo quy định của pháp luậtkhông xác
định cụ thể kỷ phần của từng người.
Vấn đề của cấp thẩm tuyên là không trái quy định nhưng cách tuyên này
chưa giải quyết dứt điểm quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ án, bởi đối
tượng của việc chia thừa kế phải được xác định cụ thể, trong đó cần xác định phần
quyền của từng người trong khối di sản.
Bản án đồng thời tuyên sau khi bản án hiệu lực các bên quyền nghĩa
vụ liên hvới quan nhà nước thẩm quyền để thực hiện thủ tục khai, đăng
biến động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dưới hình thức đồng sở
hữu/đồng sử dụng”. Tuy nhiên, bản án chưa xác định được chính xác vị trí, ranh
giới, hình thể của thửa đất phần quyền của từng người nên quan thi hành án
và cơ quan đăng ký đất đai không có căn cứ đầy đủ để xác định đối tượng quyền sử
dụng đất theo nội dung phán quyết.
[2.3] Do đó, cấp phúc thẩm đã giải thích để các đương sự rút đơn đkhởi kiện
lại đồng thời nêu rõ trách nhiệm của bị đơn trong quá trình nguyên đơn khởi kiện
lại phải hợp tác trong quá trình đo đạc để phần đất tranh chấp các bên được phân
chia và các bên thuận lợi trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này.
[2.4] Do vậy, tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông M đơn xin rút đơn
khởi kiện. B đơn ông N người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H đồng ý xin
rút kháng cáo đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn ông M có
8
mặt đồng ý việc rút đơn kháng cáo của bị đơn người quyền lợi, nghĩa v
liên quan ông H.
[2.5] Nhận thấy, việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, việc rút đơn kháng
cáo của bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H hoàn toàn tự
nguyện, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Nên căn
cứ vào Điều 299 Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự để Tòa án ra quyết định
đình chỉ hủy bản án sơ thẩm.
[3]. Về án phí dân sthẩm: Trong phần quyết định đã tuyên : Nguyên đơn
ông Cao Hoàng M phải chịu án phí dân sự thẩm làm tròn 11.903.000 đồng
(Mười một triệu chín trăm lẻ ba nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí
nguyên đơn đã nộp 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng)
thành án phí, ông Cao Hoàng M phải nộp thêm 6.653.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm
năm mươi ba nghìn đồng).
Bị đơn ông Cao Bé N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm làm tròn là 35.709.000
đồng (Hai mươi ba triệu tám trăm lẻ sáu nghìn đồng).
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao n H; Cao Thị Thu
P mỗi người phải chịu án phí dân sự thẩm làm tròn 11.903.000 đồng (Mười
một triệu chín trăm lba nghìn đồng). Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
ông Cao Văn Đ; Cao Thị Tuyết M1; Cao Thị N1 được miễn án phí do người
cao tuổi”
Thấy rằng, nếu đình chỉ hủy án thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân dân
sự sơ thẩm Nhưng như đã phân tích ở trên: do cấp sơ thẩm chưa xác định cụ thể kỷ
phần và giá trị phần quyền sử dụng đất mà từng người được hưởng nên chưa có đủ
căn cứ xác định cơ sở tính án phí của từng đương sự. Do vậy, trong trường hợp này
cần sửa lại phần án pcấp sơ thẩm đã tuyên. Theo đó chỉ buộc những người này
chịu án phí không giá ngạch.
[4]. Đối với chi phí tố tụng: Đến ngày 24/3/2026 theo Quyết định sửa chữa bổ
sung bản án Tòa án nhân dân Khu vực 13 có sửa chữa bổ sung lại như sau: Chi phí
đo đạc, thẩm định, chứng thư định giá hồ trích lục tổng số tiền 4.000.000
đồng.
Nguyên đơn ông Cao Hoàng M phải chịu số tiền chi phí tố tụng làm tròn
444.444 đồng (Bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) được khấu từ vào tiền tạm ứng
chi phí tố tụng ông M đã nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ông M được
nhận lại số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tại Tòa án, ông Cao Hoàng M đã
nhận lại xong.
Bị đơn ông Cao Bé N phải chịu số tiền chi phí tố tụng là 1.333.333 đồng (Một
triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
9
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Tuyết M1; Ông Cao
Văn Đ; Cao ThN1; Ông Cao n H; Cao Thị Thu P mỗi người phải chịu số
tiền chi phí tố tụng làm tròn là 444.444 đồng (Bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng,
buộc bị đơn và những người liên quan phải nộp số tiền trên tại Cơ quan thi hành án
dân sự thành phố Cần Thơ để giao trả cho nguyên đơn.
Phần chi phí tố tụng và các nghĩa vụ tài sản có liên quan đã được xem xét xong
nên không đặt ra xem xét lại.
[5] t quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần T
căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Cao Bé N và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 299 và Điều 311 khoản 4 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Cao Bé N người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H.
1. Hủy Bản án dân sự thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ đình chỉ giải quyết vụ án dân sphúc
thẩm thụ số: 994/2026/TBTL-TA ngày 03 tháng 07 năm 2026 về việc: Tranh
chấp yêu cầu chia thừa kế”, giữa các đương sự có tên nêu trên.
2. Về chi phí tố tụng: Chi pđo đạc, thẩm định, chứng thư định giá và hồ
trích lục tổng số tiền là 4.000.000 đồng.
Nguyên đơn ông Cao Hoàng M phải chịu số tiền chi phí tố tụng làm tròn
444.444 đồng (Bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) được khấu từ vào tiền tạm ứng
chi phí tố tụng ông M đã nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ông M được
nhận lại số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tại Tòa án, ông Cao Hoàng M đã
nhận lại xong.
Bị đơn ông Cao N phải chịu số tiền chi phí tố tụng 1.333.333 đồng
(Một triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Tuyết M1; Ông
Cao Văn Đ; Cao Thị N1; Ông Cao Văn H; Cao Thị Thu P mỗi người phải
chịu số tiền chi phí tố tụng làm tròn 444.444 đồng (Bốn trăm bốn mươi bốn nghìn
10
đồng), buộc bị đơn và những người liên quan phải nộp số tiền trên tại Cơ quan thi
hành án dân sự thành phố Cần Thơ để giao trả cho nguyên đơn.
3. Về án phí dân sựthẩm: Nguyên đơn ông Cao Hoàng M phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạmng
án phí nguyên đơn đã nộp 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn
đồng) theo biên lai thu số 0010384 ngày 21/11/2025, ông Cao Hoàng M được nhận
lại 4.950.000 đồng (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Bị đơn ông Cao Bé N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng).
Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H; Cao Thị Thu
P mỗi người phải chịu án pdân sự thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn Đ; Cao Thị
Tuyết M1; Bà Cao Thị N1 được miễn án phí do là người cao tuổi.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Cao N và người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H không phải chịu án phí.
Bị đơn ông Cao Bé N được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí án phí dân
sự phúc thẩm đã theo Biên lai thu số 0005771 ngày 31 tháng 03 năm 2026 tại Thi
hành án Dân sự thành phố Cần Thơ.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H được nhận lại 300.000
đồng tạm ứng dân sự phúc thẩm đã đóng theo Biên lai thu số 0005772 ngày 31 tháng
03 năm 2026 tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/8/2026).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 13 – Cần Thơ;
- VKSND khu vực 13 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 3 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thị Minh Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1061A/2026/DS-PT Bản án số 1061A/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1061A/2026/DS-PT Bản án số 1061A/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất