Bản án số 68/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về chia tài sản chung

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 68/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 68/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về chia tài sản chung
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 68/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/02/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Ngọc Thái
Các Thẩm phán:
Ông Trương Công Thi
Ông Võ Ngọc Thông
- Thư phiên tòa: ông Nguyễn Thế Trường, Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà:
bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 190/2024/TLPT-DS ngày 04/10/2024 v
việc “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy GCNQSD đất; Yêu cầu
chia tài sản sau ly hôn”. Do bản án dân sự thẩm số 18/2024/DS-ST ngày
26/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 365/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng
01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Trọng P, sinh năm 1961; nơi ĐKHKTT: Thôn
D, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ chỗ ở: Số A L, thành phố B, Đắk Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Võ Hữu D, sinh năm 1968; địa chỉ: A
N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: ông Nguyễn Trọng L, sinh năm 1985.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 68/2025/DS-PT
Ngày 14/02/2025
V/v “Yêu cầu công nhn quyn s
dụng đất; Yêu cu hy GCNQSD
đất; Yêu cu chia tài sản sau ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bùi Thị T, sinh năm 1962;
cùng địa chỉ: Số B P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: thị trấn P, huyện K,
tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền: bà Ngô Thị Minh T1 Chức vụ: Phó Chủ
tịch Ủy ban nhân dân huyện K.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện K:
- Ông Đặng Minh Đ - Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường UBND
huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Phan Xuân L1 - Phó trưởng phòng Tài nguyên Môi trường
UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bà Bùi Thị T, sinh năm 1962.
3. Bà Nguyễn Thị Trúc N, sinh năm 1987.
4. Ông Nguyễn Trọng V, sinh năm 1990.
5. Ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1999.
Cùng địa chỉ: Số B P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Do có kháng cáo người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị
T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn
Trọng P và người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Năm 1983, ông Nguyễn Trọng P và Bùi Thị T khai hoang được thửa
đất với diện tích 1208,7 m2. Sau khi khai hoang ông và bà T đã sử dụng làm đất
trồng cây lâu năm ổn định từ năm 1983.
Năm 2014, ông P T được Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột
giải quyết ly hôn.
Ngày 28/8/2022, ông P với T lập biên bản xác nhận phân chia tài sản
chung (bà T người đại diện cho các con chung) thoả thuận nội dung: Ông
Nguyễn Trọng P được quản lý, sử dụng những tài sản, bao gồm: “Quyền sử dụng
đất, tài sản trên đất (01 nhà xây cấp 4 + 01 nhà bếp, 01 giếng nước, 01 cây ổi, 02
cây hoàng nam, 02 cây bách tùng, 03 cây bá diệp, 01 cây sanh, 01 cây đu đủ, 01
cây mít, 03 cây muồng), thửa đất số: 185; tờ bản đồ số: 35; diện tích: 1.520m² (Có
diện tích đo đạc thực tế là 2.445m², đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông 605,6m²,
theo trích đo địa chính thửa đất của Công ty Đ1); địa chỉ thửa đất: K, huyện K,
tỉnh Đắk Lắk (thôn D), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 758797 do
UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 03/01/1994 mang tên ông Nguyễn Trọng
P. vtrí tcận như sau: Phía đông giáp đất P1, dài 74,11m; Phía tây giáp
đất T3, dài 61,91m; Phía nam giáp quốc lộ B, dài 47,18m; Phía bắc giáp đất
ông T4, dài 28,87m.”…
3
Sau khi thoả thuận phân chia tài sản thì ông P đã khai đã được
Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận QSD đất CY 215912 ngày
21/8/2023 cho hộ ông Nguyễn Trọng P thửa đất số 93, tờ bản đồ 203, diện tích
1.208,7m2.
Tuy nhiên, thửa đất số 93, tờ bản đồ 203, diện tích 1.208,7m2 đã được bà
T ông P thoả thuận giao cho ông P quản sử dụng, tại thời điểm khai hoang
các con ông P còn nhỏ không có công sức đóng góp. Do đó, ông P khởi kiện yêu
cầu Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết:
1. Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ 203, diện ch
1.208,7m2 là của ông Nguyễn Trọng P.
2. Huỷ giấy chứng nhận QSD đất CY 215912 ngày 21/8/2023 Ủy ban nhân
dân huyện K đã cấp cho hộ ông Nguyễn Trọng P để cấp lại cho ông Nguyễn Trọng
P theo đúng quy định.
Đối với yêu cầu độc lập của Bùi Thị T yêu cầu chia ½ thửa đất số 93,
tờ bản đồ 203, diện tích 1.208,7m2, thì tại Biên bản xác nhận phân chia tài sn
chung giữa ông Nguyễn Trọng P với Bùi Thị T ngày 28/8/2022 được chứng
thực đã xác định giao tài sản này cho ông P quản lý, sử dụng. Đề nghị Toà án bác
yêu cầu độc lập của bà T.
Bị đơn ông Nguyễn Trọng L người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn
Bùi Thị T trình bày:
Ông L sinh năm 1985, từ thời điểm sinh ra ông L sống chung với cha mẹ.
Từ năm 1991 đến năm 1994 ông L đi học xa nhà, do hoàn cảnh gia đình khó khăn
ông L nghỉ học từ m lớp 3 để phụ giúp gia đình như chăn bò, trồng hoa màu
theo vụ mùa. Khi ông đủ 18 tuổi thì học bằng lái xe chạy xe cho công ty của
ông P, phụ giúp các công việc của Công ty gia đình. Nay ông P khởi kiện đề
nghị xem xét đến công sức đóng góp của ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Bùi Thị T
trình bày:
Năm 1984, ông Nguyễn Trọng P kết hôn. Năm 1985, ông P, T
cùng nhau khai phá thửa đất tại thôn D, K, huyện K để xây dựng nở. Đến
năm 1994 được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó tiếp tục
khai phá thêm diện tích đất phía sau và ông P đã kê khai và được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CY 215912 ngày 21/8/2023 cho hộ ông Nguyễn Trọng
P thửa đất số 93, tờ bản đồ 203, diện tích 1.208,7m2.
Năm 2014, ông P với T ly hôn, về tài sản chung ông tự thoả thuận
phân chia, toàn bộ tài sản ông P nhận đều có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
nêu trong văn bản thoả thuận. Còn thửa đất số 93 chưa giấy chứng nhận
QSD đất nên không phân chia và để lại cho các con.
Nay ông P khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sdụng đất của ông P
và huỷ GCNQSD đất đã cấp thì bà không đồng ý, do đó bà có yêu cầu độc lập đề
4
nghị Toà án chia cho ½ diện tích đất trong tổng diện tích 1.208,7m2 của thửa
đất số 93. Bởi sau khi thoả thuận phân chia tài sản ông P được nhận 2/3 tài sản
còn chỉ được nhận 1/3 tài sản. Ngoài ra ông P không cho các con vốn để làm
ăn, yêu cầu Toà xem xét phân chia một phần tài sản cho các con.
Quá trình giải quyết vụ án những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ủy ban nhân dân huyện K; Nguyễn Thị Trúc N; ông Nguyễn Trọng V; ông
Nguyễn Trọng T2 đã được Toà án triệu tập tham gia tố tụng nhưng đều vắng mặt
không có lý do.
- Tại Bản án dân sự thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa
án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:
- Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 54; Điều 95; Điều 99; Điều 101 Luật Đất đai 2013; Khoản
2, khoản 3 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ;
điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng P.
[1.1] Công nhận quyền sử dụng diện tích đất 1.208,7m2, thửa đất số 93,
tờ bản đồ số 203, đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tại xã K, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk là của ông Nguyễn Trọng P.
Thửa đất có tứ cận như sau:
+ Phía Bắc giáp đất ông Lê Thanh T4, cạnh dài 16,56m + 12,66m;
+ Phía Nam giáp thửa đất số 53, cạnh dài 13,13m + 24,01m;
+ Phía Đông giáp thửa đất số 39, cạnh dài 39,16m;
+ Phía Tây giáp thửa đất số 56, cạnh dài 7,4m + 26,97m;
(Theo Trích lục bản đồ địa chính số 749/TL-CNKP-KTĐC ngày
10/3/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K).
Kiến nghị với quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với diện tích đất trên cho ông Nguyễn Trọng P.
[1.2] Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CY 215912 ngày 21/8/2023 do Ủy ban nhân dân
huyện K đã cấp cho hông Nguyễn Trọng P, thửa đất số 93, tờ bản đồ số 203,
diện tích đất 1.208,7m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tại xã K, huyện K,
tỉnh Đắk Lắk.
[1.3] Ông Nguyễn Trọng P quyền liên hệ với quan nnước thẩm
quyền để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
[2] Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Bùi Thị T về việc: Yêu cầu chia cho Bùi Thị T ½ diện tích thửa
đất số 93, tờ bản đồ số 203 đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng
5
nhận quyền sử dụng đất CY 215912 ngày 21/8/2023 cho hộ ông Nguyễn Trọng
P.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên ván phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, ngày 30/8/2024, người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan Bùi Thị T đơn kháng cáo và ngày 12/9/2024 có đơn kháng cáo bổ
sung, với nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu độc lập của T về việc: yêu cầu chia cho Bùi Thị T ½ diện
tích thửa đất số 93, tờ bản đồ số 203 đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất CY 215912 ngày 21/8/2023 cho hộ ông Nguyễn
Trọng P và giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm người quyền lợi nghĩa vụ liên quan i Thị
T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 259 Bộ luật tố tụng dân sự đề
nghị tạm ngừng phiên tòa do cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu chứng cứ
nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ ánkhông thể thực hiện
được ngay tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, thẩm tra
các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa ý kiến
của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Bùi Thị T đảm bảo đúng hình thức và trong thời hạn luật định nên được
xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Trọng L vắng
mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền Bùi Thị T tham gia tố tụng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh
Đắk Lắk các đương sự khác vắng mặt nhưng không ảnh hưởng đến qtrình
giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự
quyết định xét xử vụ án.
[2] Xét kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Thị
T thì thấy:
[2.1] Về nguồn gốc đất: ông Nguyễn Trọng P trình bày thửa đất số 93, tờ
bản đồ 203 được khai hoang năm 1983, Bùi Thị T thì cho rằng thửa đất này
được khai hoang năm 1985. Hiện nay thửa đất số 93, tờ bản đồ 203 được Ủy ban
nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất CY 215912 ngày
21/8/2023 cho hộ ông Nguyễn Trọng P.
Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ khác Biên bản xác minh
nguồn gốc đất của UBND K ngày 07/9/2023 thì thấy nội dung xác định
nguồn gốc đất trên là do gia đình ông P khai hoang năm 1983, đến năm 1994 gia
6
đình ông P được cấp một phần diện tích diện tích 1520 m2. Ngày 15/3/2023,
ông P làm hồ sơ xin cấp diện tích đất còn lại. Ngày 21/8/2023 được UBND huyện
K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Trọng P đối với
thửa đất số 93, tờ bản đồ 203.
Như vậy, căn cứ xác định nguồn gốc đất do ông Nguyễn Trọng P và bà
Bùi Thị T khai hoang từ năm 1983.
[2.2] Ông Nguyễn Trọng P Bùi Thị T đã ly hôn theo Quyết định
công nhận thuận tình ly hôn sự thoả thuận của các đương s số
369/2014/QĐST-HNGĐ ngày 16/9/2014 Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột.
Bùi Thị T cho rằng thửa đất số 93, tờ bản đồ 203 là tài sản chung của
vợ chồng chưa được phân chia theo Biên bản thoả thuận ngày 18/8/2022 giữa
ông P và bà T không thể hiện phân chia thửa đất này nên yêu cầu Toà án chia ½
diện tích thửa đất này cho T và xem xét công sức đóng góp của các con.
Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi lập Biên bản thoả thuận ngày 18/8/2022
đến ngày 28/8/2022 giữa Bùi Thị T và ông Nguyễn Trọng P đã lập biên bản
xác nhận và phân chia tài sản chung và được Ủy ban nhân dân xã K chứng thực.
Tại biên bản này thhiện nội dung: “II. Ông Nguyễn Trọng P được quản lý, sử
dụng những tài sản, bao gồm: “Quyền sử dụng đất, tài sản trên đất (01 nhà xây
cấp 4 + 01 nhà bếp, 01 giếng nước, 01 cây ổi, 02 cây hoàng nam, 02 cây bách
tùng, 03 cây bá diệp, 01 cây sanh, 01 cây đu đủ, 01 cây mít, 03 cây muồng), thửa
đất số: 185; tờ bản đồ số: 35; diện tích: 1.520m² (Có diện tích đo đạc thực tế
2.445m², đã trừ chỉ giới quy hoạch giao thông 605,6m², theo trích đo địa chính
thửa đất của Công ty Đ1); địa chỉ thửa đất: K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (thôn D),
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sC 758797 do UBND huyện K, tỉnh
Đắk Lắk cấp ngày 03/01/1994 mang tên ông Nguyễn Trọng P. vị trí tcận
như sau: Phía đông giáp đất P1, dài 74,11m; Phía tây giáp đất T3, dài
61,91m; Phía nam giáp quốc lộ B, dài 47,18m; Phía bắc giáp đất ông T4, dài
28,87m.”
Tại thời điểm các bên thoả thuận do thửa đất số 93 chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nên biên bản chỉ thể hiện ông P được quản s
dụng diện tích: 1.520m² (Có diện tích đo đạc thực tế 2.445m², đã trừ chỉ giới
quy hoạch giao thông 605,6m², theo trích đo địa chính thửa đất của Công ty Đ1).
Theo trích đo địa chính thửa đất của ng ty Đ1 thể hiện diện tích 3.050,6m2 bao
gồm thửa đất số: 185; tbản đồ số: 35; diện tích: 1.520m² đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và phần diện tích đất liền kề phía sau chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (nay thửa đất số 93, tờ bản đồ số 203). Do đó,
căn cứ xác định giữa ông P T đã thoả thuận giao thửa đất số 93, tờ bản
đồ số 203 cho ông P được quyền quản lý, sử dụng.
7
T cho rằng vào Biên bản thoả thuận ngày 28/8/2022 để xác
nhận ông P, T còn lại các tài sản chung nợ chung như biên bản thoả thuận
ngày 18/8/2022. Do không hiểu biết pháp luật nên bà đã văn bản thoả thuận
ngày 28/8/2022, thực tế văn bản này không giá trị pháp ý chí thoả
thuận chia tài sản theo văn bản ngày 18/8/2022. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét
thấy T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh bà T
người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Mặt khác, tại cuối biên bản
ngày 28/8/2022 ghi “Việc thoả thuận phân chia này các bên hoàn toàn t
nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối nội dung gì. Các bên đã đọc thống
nhất nội dung thoả thuận phân chia như trên, không tranh chấp gì.” Kết thúc
biên bản T ghi rõ họ và tên và văn bản được Ủy ban nhân dân xã K chứng
thực chữ ký của ông Nguyễn Trọng P và bà Bùi Thị T. Do đó, bà T cho rằng văn
bản thoả thuận này không có hiệu lực là không có căn cứ.
Bị đơn ông Nguyễn Trọng L cho rằng ông L công sức đóng góp đối với
thửa đất số 93, tờ bản đồ số 203. Tuy nhiên, tại thời điểm khai hoang năm 1983
thì ông L cũng như N, ông V, ông T2 chưa sinh ra và các ông cũng không
cung cấp được tài liệu chứng cứ, chứng minh cho công sức đóng góp, tôn tạo thửa
đất. Qua xem xét thẩm định tại chỗ trên đất cũng không tài sản gì. Do đó, không
căn cứ xác định các con của ông P, bà T công sức đóng góp đối với thửa đất
số 93, tờ bản đồ số 203.
Từ các nhận định nêu trên t thấy đủ căn cứ công nhận diện tích
1.208,7m2, thửa đất số 93, tờ bản đsố 203, địa chỉ thửa đất tại K, huyện K,
tỉnh Đắk Lắk là thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Nguyễn Trọng P.
[2.3] Đối với yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số CY
215912 ngày 21/8/2023 Ủy ban nhân dân huyện K đã cấp cho hộ ông Nguyễn
Trọng P để cấp lại cho ông Nguyễn Trọng P theo đúng quy định, thì thấy: Từ nhận
định tại mục [2.2] do công nhận diện tích 1.208,7m2, thửa đất số 93, tờ bản đồ số
203, địa chỉ thửa đất tại xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là thuộc quyền sử dụng đất
hợp pháp của ông Nguyễn Trọng P nên yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số CY 215912 ngày
21/8/2023 UBND huyện K cấp cho hộ ông Nguyễn Trọng P căn cứ chấp
nhận.
[2.4] Đối với yêu cầu độc lập của bà Bùi Thị T. Như đã phân tích tại mục
[2.2] [2.3], quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cũng không đồng ý chia cho bà
T ½ diện tích của thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 nên không có căn cứ chấp nhận
yêu cầu độc lập của bà T.
Từ những nhận định trên, xét thấy Bản án dân sự thẩm chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của các nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu độc lập của người
quyền lợi, nghĩa vliên quan Bùi Thị T về việc yêu cầu chia cho Bùi Thị
T ½ diện tích thửa đất số 93, tờ bản đồ số 203 đã được Ủy ban nhân dân huyện K
8
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CY 215912 ngày 21/8/2023 cho hộ ông
Nguyễn Trọng P đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Bùi Thị T kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ
mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của T đúng nên không được chấp
nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của T giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bùi Thị T kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà T người cao
tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp
luật.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của Bùi Thị T. Giữ nguyên Bản án dân sự
sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều
54; Điều 95; Điều 99; Điều 101 Luật Đất đai 2013; khoản 2, khoản 3 Điều 70
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; điểm đ khoản 1
Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng P.
[1.1] Công nhận quyền sử dụng diện tích đất 1.208,7m2, thửa đất số 93,
tờ bản đồ số 203, đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tại xã K, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk là của ông Nguyễn Trọng P.
Thửa đất có tứ cận như sau:
+ Phía Bắc giáp đất ông Lê Thanh T4, cạnh dài 16,56m + 12,66m;
+ Phía Nam giáp thửa đất số 53, cạnh dài 13,13m + 24,01m;
+ Phía Đông giáp thửa đất số 39, cạnh dài 39,16m;
+ Phía Tây giáp thửa đất số 56, cạnh dài 7,4m + 26,97m;
(Theo Trích lục bản đồ địa chính số 749/TL-CNKP-KTĐC ngày
10/3/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K).
Kiến nghị với quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với diện tích đất trên cho ông Nguyễn Trọng P.
[1.2] Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CY 215912 ngày 21/8/2023 Ủy ban nhân dân huyện
K đã cấp cho hộ ông Nguyễn Trọng P, thửa đất số 93, tờ bản đồ số 203, diện tích
9
đất 1.208,7m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tại xã K, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk.
[1.3] Ông Nguyễn Trọng P quyền liên hệ với quan nnước thẩm
quyền để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
[2] Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Bùi Thị T về việc: Yêu cầu chia cho Bùi Thị T ½ diện tích thửa
đất số 93, tờ bản đồ số 203 đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất CY 215912 ngày 21/8/2023 cho hộ ông Nguyễn Trọng
P.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm choBùi Thị T.
[4]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ĐÃ KÝ
Phạm Ngọc Thái
Tải về
Bản án số 68/2025/DS-PT Bản án số 68/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 68/2025/DS-PT Bản án số 68/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất