Bản án số 59/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TAND huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 59/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 59/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TAND huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Giồng Riềng (TAND tỉnh Kiên Giang)
Số hiệu: 59/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/02/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN GIỒNG RIỀNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 59/2025/DS-ST
Ngày: 21-02-2025
V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Minh Tuấn
Bà Trần Ngọc Điệp
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thái Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang:
Trần Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh
Kiên Giang, xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 200/2024/TLST-DS ngày 21
tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 19/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H (tên gọi khác A) - sinh năm: 1968. Có mặt.
Nguyễn Thị T - sinh năm: 1968. Có mặt
Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Thị M - sinh năm: 1970. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị L - sinh năm: 1993. Có mặt
Ông Nguyễn Văn T1 - sinh năm: 1996. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện tại phiên tòa, nguyên đơn - ông Nguyễn Minh H
Nguyễn Thị T trình bày:
Vào năm 2006, ông thỏa thuận mua một căn nsố A- D, tọa lạc tại
khu dân L, huyện G của ông Nguyễn Thiện L1 (hiện đã mât và Nguyễn Thị
M, nguồn gốc căn nhà do Ủy ban nhân dân L cấp cho gia đình ông L1 - M
nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giá chuyển nhượng là
4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). M làm văn bản Đơn xin chuyển nhàcho
ông bà. Tại thời điểm chuyển nhượng, hiện trạng căn nhà là nhà thô, không sử dụng
được. Sau khi mua nhà thì ông tiến hành tu bổ căn nhà với tổng số tiền
47.700.000 đồng, tương đương 40 chỉ vàng 24K (loại 98%). Khoảng năm 2015, gia
đình M gặp khó khăn, nhu cầu nên ông đồng ý cho M các con chị
L anh T1 lấy nhà lại để ở. Đồng thời, ông bà nói với M là cất bao nhiêu tiền
thì M phải trả lại ông bà bao nhiêu tiền chứ không nói bà M phải trả 60.000.000
đồng. M đã trả được số tiền 22.000.000 đồng, việc M trình bày đã trả cho ông
bà số tiền 28.000.000 đồng là không đúng.
Khi hòa giải tại Ban lãnh đạo ấp Đ thì ông yêu cầu M các con phải
trả cho số vàng 40 chỉ vàng 24K, yêu cầu trả trước 70.000.000 đồng, phần còn lại trả
trong 05 năm nhưng bà M vẫn không đồng ý. Hiện ông bà không tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với M, đã giao trả căn nhà cho M sử dụng
vào năm 2015. Ông H T chỉ yêu cầu M các con chị L anh T1 trả lại
số vàng đã bán tu bổ vào căn nhà là 40 (bốn mươi) chỉ vàng 24K (loại 98%).
Bị đơn - bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà M xác định trước đây có thỏa thuận sang nhà cho ông H - bà T nhưng lúc đó
Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà. Sự việc ông
H T tu bổ vào căn nhà, từ năm 2015 gia đình đã lấy lại căn nhà đúng
sự thật. Sau khi chồng bà là ông Nguyễn Thiện L1 chết, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều
khó khăn, ông H - T bà thống nhất thỏa thuận cho các con trả lại số
tiền ông H - bà T đã tu bổ vào căn nhà tổng số tiền là 60.000.000 đồng. Bà và các con
đã trả được 03 lần, tổng số tiền là 28.000.000 đồng, còn nợ lại ông H - bà T số tiền là
32.000.000 đồng.
M không đồng ý trả lại 40 chỉ vàng 24K (loại 98%) theo yêu cầu khởi kiện
của ông H - T. Trường hợp ông H - T đồng ý thương lượng thì các con
chị L và anh T1 sẽ đồng ý trả thêm cho ông H - bà T số tiền là 100.000.000 đồng (Một
trăm triệu đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị L trình bày:
3
Chị L thống nhất theo ý kiến trình bày của M, không đồng ý trả lại 40 chỉ
vàng 24K (loại 98%) theo yêu cầu khởi kiện của ông H - T. ChL đồng ý cùng
M anh T1 chịu trách nhiệm trả thêm cho ông H - T số tiền là 100.000.000 đồng
(Một trăm triệu đồng).
Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Nguyễn Văn T1 trình
bày:
Anh T1 thống nhất theo ý kiến trình bày của M, không đồng ý trả lại 40 chỉ
vàng 24K (loại 98%) theo yêu cầu khởi kiện của ông H - T. Anh T1 xác định gia
đình anh đã trả cho ông H - T số tiền tu bổ vào căn nhà 28.000.000 đồng
đồng ý trả thêm cho ông H - bà T số tiền là 40.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng như sau: Quá trình thụ vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành
đúng theo quy định của pháp luật, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đương sự trong
vụ án tiến hành các thủ tục tố tụng đúng pháp luật. Các đương sự đã chấp hành tốt
các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án, qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong
hồ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa đối chiếu với các quy định của pháp
luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng xét thấy:
Căn cứ vào lời trình bày chứng cứ phía nguyên đơn giao nộp: Ông H - T
xác định sự việc thỏa thuận chuyển nhượng 01 căn nhà số A- D, tọa lạc tại khu
dân cư xã L, huyện G của ông L1 M. Ông bà đã đầu tư xây dựng, tu bổ vào căn
nhà với tổng chi phí 47.700.000 đồng, tương đương 40 (bốn mươi) chỉ vàng 24K
(loại 98%).
Bị đơn - bà M và các con là chị L và anh T1 xác định đúng là có sự việc chuyển
nhượng, ông H - bà T có tu bổ, sửa chữa căn nhà và có cho gia đình bà M nhận lại nhà
để o năm 2015, hai bên thống nhất thỏa thuận, M các con phải trả lại cho
ông H - T tổng số tiền là 60.000.000 đồng, đã trả xong 28.000.000 đồng và còn nợ
lại 32.000.000 đồng.
Xét thấy, các đương sngười làm chứng mà Tòa án tiến hành xác minh đều
xác định sự việc ông H - T đã đầu xây dựng, tu bổ vào căn nhà số A- D,
tọa lạc tại khu dân L, huyện G của ông L1 M với tổng chi phí
47.700.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H - T về việc trả lại số tiền tu
bổ tương đương giá trị bằng vàng thì bị đơn không đồng ý cũng không chứng
cứ, chứng minh việc M các con đồng ý việc trả vàng. Mặc khác ông H - T
cũng đã thừa nhận đã nhận số tiền 22.000.000 đồng của gia đình M. Do đó, yêu
4
cầu khởi kiện của ông H - T về việc trả lại số tiền tu bổ tương đương gtrị bằng
vàng 40 chvàng 24K không có căn cứ chấp nhận. Việc M chị L đồng ý trả
thêm cho ông H - T số tiền tu bổ 100.000.000 đồng phù hợp nên đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận.
Ván phí, buộc các đương sự phải chịu án phí dân sự giá ngạch theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Ông Nguyễn Minh H Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Nguyễn Thị M,
chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T1 phải trả số vàng đã bán đtu bổ căn nhà
nên đây tranh chấp kiện đòi tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Bị đơn nơi trú tại huyện G, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại
khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Văn T1 đã được cấp,
tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng anh T1 đã bản tự khai đơn
xin vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải, vắng mặt tại
phiên tòa do bận công việc. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy
định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thống nhất thừa nhận vào năm
2006 tự nguyện giao kết hợp đồng chuyển nhượng nhà số A- D, tọa lạc tại khu
dân L, huyện G theo nội dung Đơn xin chuyển nhà”, M thống nhất chuyển
nhượng 01 căn nhà (nhà thô do Ủy ban nhân dân L cấp cho người dân khó khăn
trên địa bàn) thuộc khu tái định L cho vợ chồng ông H - T g chuyển
nhượng 4.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận, ông H - M đã tu bổ, sửa chữa, cải
tạo căn nhà. Đến năm 2015, sau khi ông L1 bị bệnh qua đời, gia đình M và các
con rất khó khăn thì ông H và T thống nhất giao căn nhà lại cho M c con
của M anh T1 và chị L sử dụng. Sự việc trên đã đều được các đương sự thừa
nhận nên đây tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2
Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, ông H T xác định ông bà đã nhận được tổng
số tiền là 22.000.000 đồng. Cụ thể: Lần đầu chị L lên trả 8.000.000 đồng, sau đó chị L
đưa tiếp 7.000.000 đồng lần thứ 3 cũng chị L đưa 5.000.000 đồng. Sau này, T
5
trực tiếp gặp bà M mượn thêm 2.000.000 đồng, tổng số 04 lần này, ông bà đã nhận
là 22.000.000 đồng.
Trái lại, M xác định người trực tiếp đưa tiền cho T 03 lần, mặt
cháu L luôn, lần sau cùng ông H - bà T có gặp bà nhận 2.000.000 đồng. Như vậy tổng
cộng gia đình bà đã đưa cho ông H - bà T 03 lần là 28.000.000 đồng. Theo bà M trình
bày, trình bày được ông H - T thừa nhận sự việc này tại biên bản giải
quyết ấp Đ. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản hòa giải ấp Đ thì không thể hiện nội
dung ông H - bà T thừa nhận nhận tiền 28.000.000 đồng mà chỉ ý kiến trình bày
của M, M cho rằng cả 03 lần bà người trực tiếp trả tiền cho ông H - T
nhưng không làm biên nhận hay giấy tờ gì khác.
Việc các đương sự trình bày số tiền đã giao nhận khác nhau nhưng không cung
cấp được chứng cứ để chứng minh nên không sở xem xét. Từ đó cho thấy việc
ông H - T thừa nhận đã nhận số tiền 22.000.000 đồng phù hợp lợi cho
bà M nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xét chi phí tu bổ vào căn nhà, ông H - T xác định tổng chi phí ông đã tu
bổ, sửa chữa căn nhà của M 47.700.000 đồng, tương đương 40 chỉ vàng 24K
(loại 98%).
Theo lời khai của các nhân chứng, ông Nguyễn Phước T2 (tên gọi khác Nguyễn
Văn L2) xác định thì đúng sự việc ông H - T đã tu bổ, sửa chữa căn nhà,
nghe nói sự việc ông H - bà T bán số vàng là 40 chỉ vàng 24K (loại 98%) để tu bổ vào
căn nhà mua của M tại nsố A- D, tọa lạc tại khu dân L nhưng không
chứng kiến trực tiếp việc bán vàng. Theo lời khai của ông Nguyễn T3 là người có căn
nhà giáp ranh với căn nhà số A, lô 4 cũng xác định sự việc ông H - T người trực
tiếp trả tiền mua vật xây dựng thuê con rễ ông ông Tấn Đ (nay đã chết)
thực hiện việc sửa chữa, tổng chi phí xây dựng, tu bổ hơn 40.000.000 đồng. Do đó
việc ông H - T yêu cầu M, chị L anh T1 phải trả lại số vàng tu bổ vào căn
nhà là có căn cứ.
Xét thấy theo ông H - T trình bày thì ông tu bổ vào căn nhà cụ thể chi
phí mua vật liệu xây dựng, thuê thợ làm đều phải trả tiền, giao dịch bằng tiền mặt,
tổng số tiền 47.700.000 đồng. Ông cũng đã thừa nhận nhận s tiền
22.000.000 đồng của M nên ông H - T yêu cầu gia đình M trả lại chi phí
tương đương 40 chỉ vàng 24K là không phù hợp.
Tuy nhiên, các đương sự đều xác định năm 2015 M các con chị L
anh T1 đã nhận lại căn nhà để nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ trả lại chi phí tu bổ
cũng làm thiệt hại đến quyền lợi của ông H và bà T.
6
Do ông H - T không thực hiện việc khởi kiện tại thời điểm phát sinh tranh
chấp đến ngày 12 tháng 4 năm 2023 mới Đơn yêu cầu Ban lãnh đạo ấp Đ giải
quyết tranh chấp, sau đó mới khởi kiện tại Tòa án nên không sở giải quyết yêu
cầu của ông về tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện ngĩa vụ. Đồng thời ông
cũng không tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng nhà với M, anh T1 chị L
nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Tại phiên tòa, bà M và chị L, anh T1 tự nguyện đồng ý trả thêm cho ông H - bà
T số tiền 100.000.000 đồng là phù hợp, đã bù đắp được một phần thiệt hại, chênh lệch
giá số tiền cho ông H - T đã bỏ ra tu bổ căn nhà. M, chị L và anh T1 cùng chịu
trách nhiệm liên đới trả lại tiền 100.000.000 đồng cho ông H - T căn cứ
phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên, áp dụng khoản 4 Điều 11, khoản 2 Điều 155, Điều
288, Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử ghi nhận bà M và chị L,
anh T1 tự nguyện đồng ý trả thêm cho ông H - bà T số tiền 100.000.000 đồng.
Ngoài ra, để bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án, kể từ ngày ông H -
T có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả) cho đến khi thi hành
án xong, nếu M, chị L anh T1 không trả đủ tiền thì M, chL anh T1 còn
phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
[3]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều
26, khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án .
Yêu cầu khởi kiện của ông H - T không được Tòa án chấp nhận nên ông
phải chịu án phí không giá ngạch đối với phần yêu cầu khởi kiện không được Tòa án
chấp nhận 300.000 đồng, khấu trừ o số tiền tạm ứng án phí mà ông H - T đã
nộp 7.300.000 đồng (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền án phí số
0002820 ngày 21/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Hoàn trả
lại cho ông H - bà T số tiền án phí là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị L anh Nguyễn Văn T1 phải liên đới chịu
án phí giá ngạch đối với số tiền phải trả, cụ thể là: 100.000.000 đồng x 5% =
5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
[4]. Xét đnghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ phù hợp với quy
định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
7
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Điều 147, khoản 1 Điều
227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 4 Điều 11, khoản 2 Điều 155, Điều 288, khoản 2 Điều 468, Điều
688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H - bà Nguyễn
Thị T về việc kiện đòi tài sản 40 (bốn mươi) chỉ vàng 24K (loại 98%) đối với
Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T1.
2. Ghi nhận việc Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị L anh Nguyễn Văn T1
tự nguyện đồng ý chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Minh H
Nguyễn Thị T tổng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày ông H - T đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả) cho đến khi thi hành án xong, nếu M, chL anh T1 không trả đủ tiền
thì bà M, chị L và anh T1 còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của ông H - T không được Tòa án chấp
nhận nên ông phải chịu án phí không gngạch đối với phần yêu cầu khởi kiện
không được Tòa án chấp nhận 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
ông H - T đã nộp 7.300.000 đồng (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên
lai thu tiền án phí số 0002820 ngày 21/5/2024 của Chi cục thi nh án dân sự huyện
Giồng Riềng. Hoàn trả lại cho ông H - T số tiền án phí 7.000.000 đồng (Bảy
triệu đồng).
Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị L anh Nguyễn Văn T1 phải liên đới chịu
án phí giá ngạch đối với số tiền phải trả, cụ thể là: 100.000.000 đồng x 5% =
5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
4. Báo cho các đương sự mặt được biết quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 21-02-2025. Anh T1 được tính ktừ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa
thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
8
tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh; (Đã ký)
- VKSND tỉnh, huyện;
- Chi cục THADS;
- Đương sự;
- UBND xã;
- Lưu HS, VP.
Nguyễn Thúy An
Tải về
Bản án số 59/2025/DS-ST Bản án số 59/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2025/DS-ST Bản án số 59/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất