Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 56/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện U Minh Thượng (TAND tỉnh Kiên Giang)
Số hiệu: 56/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Huỳnh Bích Thủy và ông Nguyễn Văn Trung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN U MINH THƯỢNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 56/2024/DS-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Thanh Niềm
2. Ông Phan Quốc Toàn
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang Thư ký Tòa án nhân dân huyện
U Minh Thượng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng: Ông Huỳnh
Hải Đăng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh
Thượng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý s 11/2022/TLST-
DS, ngày 17 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp kiện đòi tài sản theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xsố 09/2024/QĐXXST-DS, ngày 20/08/2024 Thông báo dời
ngày mở phiên tòa số 06/2024/TB-TA ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Hunh Bch Th, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp M, T,
huyện U, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Nguyễn
Thị Khoa, Trợ giúp viên pháp lý, do Trung tâm trợ giúp pháp nnước tỉnh
Kiên Giang cử (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1962; Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện U,
tỉnh Kiên Giang (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/12/2021 và các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn bà Hunh Bích Th trình bày:
Năm 1997 bà Hunh Bch Th và ông Nguyễn Văn Tr đều tổ trưởng tổ vay
2
vốn của Ngân hàng nông nghiệp Vĩnh Thuận (bà Thvà ông Tr là 02 tổ riêng).
Trong thời gian làm ttrưởng, Th nhờ ông Tr thu giùm tiền lãi của các tổ
viên 4.700.000 đồng, sau khi thu tiền ông Tr không giao lại cho Thchiếm
dụng tiêu xài nên khi đến hạn Thphải bỏ tiền ra để đóng lãi cho Ngân hàng. Đến
năm 1998 Thlấy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng (sau đây viết tắt QSD)
đất của ông Nguyễn Phước Hoàng ông Nguyễn Hoàng Nam đưa cho ông Tr để
nhờ ông Tr vay giùm cho Thđược 10.000.000 đồng (vay trong tổ của ông Tr),
nhưng sau đó ông Tr không đưa lại cho bà Thmà lấy tiêu xài. Cũng trong thời gian
này Ngân hàng nông nghiệp huyện Vĩnh Thuận chủ trương cho nông dân vay
vốn để làm sân phơi lúa, Thlàm tổ trưởng đứng ra đại diện vay được cho 15
hộ dân, mỗi hộ là 2.500.000 đồng. Sau khi vay về thì Thchia lại cho ông Tr s
tiền vay của 03 hộ 7.500.000 đồng, tiền lãi 06 tháng 810.000 đồng. Ngoài ra,
ông Tr lấy 02 giấy chứng nhận QSD đất của 02 tổ viên (trong tổ của ông Tr)
ông Đoàn ông Đang đưa cho Thnhờ vay giùm cho ông Tr được 7.000.000
đồng, tiền lãi 872.000 đồng. Sau đó ông Đoàn ông Đang đến đòi ông Tr trả
giấy chứng nhận QSD đất thì ông Tr nói Thlấy bằng khoán của ông Đoàn
ông Đang đi vay, nên ông Đoàn ông Đang mới đến yêu cầu Thphải trả lại
giấy chứng nhận QSD đất, do sợ mất uy tn nên Thmới đứng ra chuộc lại 02
giấy chứng nhận QSD đất về trả cho ông Đoàn ông Đang. Như vậy, ông Tr
thiếu Thtổng cộng 30.882.000 đồng. Do ông Tr không trả nợ cho Thnên
đến năm 2001 Thcó làm khởi kiện ông Tr đến Tòa án nhân dân huyện Vĩnh
Thuận. Vụ án được Tòa án huyện Vĩnh Thuận giải quyết vào ngày 13/11/2001
nhưng không thỏa đáng nên Thđã làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh
Kiên Giang. Tại bản án dân sự phúc thẩm số: 161/DSPT, ngày 26/9/2002 của Tòa
án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã hủy bản án dân sthẩm giao hồ về cho Tòa
án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ giải quyết lại theo thủ tục chung. Ngày
10/02/2002 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ giải quyết lại vụ án, tuy
nhiên đến ngày 28/7/2005 Tòa án huyện Vĩnh Thuận ra quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án với do Thkhông mặt địa phương. Do bận đi làm ăn xa, nên
đến năm 2014 Thmới nộp đơn khởi kiện lại ông Tr, do chờ đợi khá lâu không
thấy Tòa án thụ giải quyết nên đến năm 2021 Thlại tiếp tục nộp đơn khởi
kiện ông Tr đến Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng (lúc này địa chỉ trú
của ông Tr thuộc huyện U Minh Thượng). Sau đó vụ án được Tòa án huyện U
Minh Thượng thụ giải quyết. Nay Thyêu cầu ông Tr phải trả lại cho Thsố
tiền còn nợ là 30.882.000 đồng tiền lãi chậm thanh toán theo quy định pháp
3
luật.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Tr vắng mặt tại phiên tòa nên không ý kiến
trình bày.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ:
Nguyên đơn cung cấp: Đơn khởi kiện ngày 08/12/2021; Bản án thẩm số
78/DSST ngày 13/11/2001 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận; Bản án phúc
thẩm số 161/DSPT ngày 26/09/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; Quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án số 10/QĐ-TĐC ngày 28/7/2005 của Tòa án nhân dân
huyện Vĩnh Thuận; Biên bản hòa giải ngày 17/02/2014 tại Trụ sở ấp Minh Thành;
Đơn xin xác nhận nơi trú ông Nguyễn Văn Tr; Giấy chứng nhận QSD đất tên
Nguyễn Phước Hoàng (phô tô); Bản sao Khế ước vay tiền ngày 20/01/1997 của hộ
Hunh Bch Th; Biên nhận ngày 30/01/1997 nội dung ông Nguyễn n Tr
nhận của ông Đào Văn Đoàn stiền 2.500.000 đồng; Biên nhận ngày 30/01/1997
nội dung ông Nguyễn Văn Tr nhận của ông Văn Đang số tiền 2.500.000
đồng; Trch lục khai tử của ông Nguyễn Phước Hoàng.
Tài liệu bị đơn cung cấp: Không có.
Tài liệu chứng cứ, do Tòa án thu thập: Biên bản lấy lời khai Hunh Bch
Th ngày 19/07/2024; Tài liệu trong hồ tranh chấp giữa Hunh Bch Th với
ông Nguyễn Văn Tr do Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận cung cấp.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Từ khi thụ lý vụ án đến thời
điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử T đã thực hiện chấp hành
đúng các quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vụ án đã quá thời
hạn chuẫn bị xét xử.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn Hunh Bch Th thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ theo
quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn Tr chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng
của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa
án thụ lý vụ án đến khi xét xử, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Tr nhiều lần đến Tòa
án để giải quyết vụ án, nhưng ông Tr đều vắng mặt không do không ý
kiến trình bày; Đồng thời từ chối nhận tất các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt
với do vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận giải quyết xong. Ông
Tr được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng
4
mặt không do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án đúng theo quy
định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Tr phải nghĩa vụ
trả cho Thsố tiền còn thiếu 17.000.000 đồng đã được ông Tr thừa nhận tại
Bản án dân s phúc thẩm số 161/DSPT ngày 26/9/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh
Kiên Giang và lãi suất chậm thanh toán. Đối với các khoản nợ khác bà Thkhông có
chứng cứ để chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn Tr được Tòa án triệu tập
hợp l đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng đều vắng mặt không do.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Tr cũng không yêu cầu phản tố đối với
nguyên đơn. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn
tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa nguyên đơn Hunh Bch Th
với bị đơn ông Nguyễn Văn Tr là tranh chấp kiện đòi tài sản. Cụ thể theo đơn khởi
kiện Thcho rằng trong thời gian tnăm 1997-1998 ông Tr Thđều tổ
trưởng tố vay vốn của Ngân hàng nông nghiệp huyện Vĩnh Thuận, trong thời gian
này ông Tr có thu tiền lãi của các tổ viên giùm cho Thnhưng không đưa lại cho
Thchiếm dụng tiêu xài, nên khi đến hạn trả Ngân hàng Thphải bỏ tiền ra
đóng lãi cho các tổ viên, đồng thời ông Tr đưa giấy chứng nhận QSD đất nhờ
bà Thvay tiền giùm nhưng khi đến hạn không trả, Thphải bỏ tiền ra để chuộc lại
giấy chứng nhận QSD đất trả lại cho các tổ viên lấy tiền vay làm sân phơi
lúa của 03 hộ dân chia lại cho ông Tr xài nhưng sau đó ông Tr cũng không trả,
Thphải bỏ tiền ra trả số tiền này. Tổng số tiền ông Tr nợ Thlà 30.882.000 đồng.
Nay Thyêu cầu ông Tr phải trả lại số tiền 30.882.000 đồng và tiền lãi do
chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định pháp luật.
[3]. Xét về nội dung tranh chấp:
Tại phiên tòa, nguyên đơnHunh Bch Th giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
yêu cầu ông Tr phải trả lại cho Thsố tiền 30.882.000 đồng tiền lãi chậm
thanh toán từ ngày 26/9/2002 đến ngày 30/12/2020.
Người bảo vệ quyền lợi ch hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại bản án dân sự
phúc thẩm số 161/DSPT ngày 26/9/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang ông
Tr cũng thừa nhận có thiếu tiền bà Thủy, trong quá trình giải quyết vụ án ông Tr
5
cũng không ý kiến phản c đối với số nợ Thyêu cầu, vậy yêu cầu khởi
kiện của bà Ththeo đơn khởi kiện là có căn cứ.
Về pha bị đơn ông Nguyễn Văn Tr được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo
về việc thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ hòa giải, được triệu tập hợp lệ đến
lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời cũng
từ chối nhận các văn bản ttụng của Tòa án với do vụ án của ông Tr với
Thtrước đây đã được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận giải quyết xong nên ông
Tr không đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt triệu tập để hòa giải
và xét xử.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn người bảo vệ quyền lợi ch hợp
pháp của nguyên đơn, nhận thấy: Trong thời gian từ năm 1997 đến năm 1998
Thvà ông Tr đều làm tổ trưởng tổ vay vốn của Ngân hàng nông nghiệp huyện Vĩnh
Thuận, trong thời gian này Thvà ông Tr đứng ra đại diện tổ vay vốn để vay
tiền của Ngân hàng, sau khi vay tiền về thì Thvà ông Tr không giao đúng cho
các tổ viên tự ý giao tiền, cho mượn qua lại lẫn nhau, dẫn đến việc thanh toán
không rõ ràng nên phát sinh tranh chấp. Bà Thcho rằng có bỏ tiền ra để đóng lãi và
trả nợ cho Ngân hàng thay cho ông Tr nên sau đó ông Tr thừa nhận còn nợ li
Thsố tiền 30.882.000 đồng, nhưng không làm biên nhận, chỉ nói bằng
miệng.
Xét việc Thcho rằng ông Tr còn nợ Thsố tiền 30.882.000 đồng nhưng
lại không tài liệu, chứng cứ để chứng minh ông Tr còn nợ Thsố tiền là bao
nhiêu. Tuy nhiên, căn cứ theo các tài liệu trong hồ tranh chấp giữa Thvới
ông Tr do Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận cung cấp nhận thấy: Tranh chấp
giữa Thvà ông Tr trước đây đã được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ
giải quyết đưa ra xét xử vào ngày 13/11/2001. Theo quyết định của bản án
thẩm tuyên buộc ông Tr trả cho bà Thsố tiền còn thiếu là 13.081.200 đồng. Sau khi
xét xử bà Thvà ông Tr không đồng ý với bản án sơ thẩm và đều làm đơn kháng cáo
lên Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 161/DSPT
ngày 26/9/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang nhận định như sau:
“Tại phiên tòa ngày 19/7/2002 ông Tr xác định có thế chấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông Hoàng ông Nam vào tổ Thvay 10.000.000 đồng
nhưng ông đã trcho ông Tuấn. Ông Tr cũng thừa nhận thế chấp giấy chứng
nhận QSD đất ông Đoàn, ông Đang vay 7.000.000 đồng nhưng ông đã trả
Thủy, nhưng không chứng cứ để chứng minh. Lẽ ra cải sửa án sơ thẩm buộc
6
ông Tr trả Th2 khoản nợ trên, còn phần nợ 66.600.000 đồng Thkhởi kiện
bằng vụ kiện khác. Nhưng cấp phúc thẩm án tuyên hiệu lực nên cải sửa theo
hướng trên sẽ làm mất quyền kháng cáo của các đương sự, do vậy không thể cải
sửa án sơ thẩm được. Cấp thẩm xử không đúng yêu cầu của nguyên đơn, buộc
thanh toán không đúng mối quan hệ vay nợ. Sai sót này vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Ngoài ra tòa sơ thẩm thụ
lý vụ kiện không có đơn yêu cầu của đương sự đến tòa, không đóng tạm ứng án phí
sơ thẩm, vi phạm điều 31 34 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
Nghĩ nên huy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 78/DSST ngày 13/11/2001 của
Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại.
Ông Tr đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không do chính đáng nên
tòa xét xử vắng mặt”.
Đến ngày 10/02/2002 Tòa án huyện Vĩnh Thuận thụ giải quyết lại vụ án,
nhưng đến ngày 28/7/2005 Tòa án huyện Vĩnh Thuận đã ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án do nguyên đơn được triệu tập không còn địa phương. Đến ngày
08/12/2021 Tòa án huyện U Minh Thượng nhận được đơn khởi kiện của Thvà
thụ lý giải quyết lại vụ án theo thẩm quyền (do địa chỉ cư trú ông Tr hiện nay thuộc
huyện U Minh Thượng).
Theo nội dung của bản án dân sự phúc thẩm số 161/DSPT ngày 26/9/2002
của a án nhân dân tỉnh Kiên Giang thì ông Tr chỉ thừa nhận còn thiếu Th02
khoản nợ với tổng số tiền 17.000.000 đồng, ngoài ra không thừa các khoản nợ
khác, bà Thkhông có chứng cứ gì để chứng minh ông Tr còn nợ bà Thnhững khoản
tiền khác (tiền lãi thu của các tổ viên 4.700.000 đồng, tiền vay m sân phơi lúa
của 03 hộ dân là 7.500.000 đồng, các khoản tiền lãi bà Thđã đóng thay cho ông Tr)
như bà Thtrình bày. vậy Hội đồng xét xử thống nhất chỉ chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Tr phải trả cho Thsố tiền
17.000.000 đồng.
Xét về lãi suất: Tại phiên tòa Thyêu cầu ông Tr phải trả cho Thtiền lãi
đối với số tiền còn thiếu do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày 26/9/2002
(ngày xét xử phúc thẩm trước đây ông Tr thừa nhận nợ) đến ngày 30/12/2020. Hội
đồng xét xử nhận thấy, tại bản án phúc thẩm số 161/DSPT ngày 26/9/2022 của Tòa
án nhân dân tỉnh Kiên Giang nhận định ông Tr thừa nhận nợ Th02 khoản nợ
với tổng số tiền là 17.000.000 đồng, nhưng từ đó đến nay vẫn chưa thực hiện nghĩa
vụ trả nợ cho Thủy, vậy Thyêu cầu ông Tr phải trả tiền lãi do chậm thực
hiện nghĩa v trả tiền là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
7
Do giao dịch giữa bà Thủy, ông Tr đã thực hiện xong trước ngày Bộ luật dân
sự 2015 hiệu lực tranh chấp nên căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 668 Bộ luật dân s2015 Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Trong trường
hợp bên nghĩa vchậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả
theo lãi suất bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian
chậm trả tại thời điểm thanh toán”.
Tại Điều 1 Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mức lãi suất bản bằng đồng Việt
Nam là 9,0%/năm (tức là 0.75%/tháng). Như vậy, số tiền lãi của số tiền 17.000.000
đồng t26/9/2002 đến 30/12/2020 17.000.000 đồng x 0.75%/tháng x 219 tháng
4 ngày = 27.939.500 đồng. Tổng cộng số gốc lãi ông Tr phải trả cho Thlà
44.939.500 đồng (bốn ơi bốn triệu chn trăm ba mươi chn nghìn năm trăm
đồng).
Bác một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thđối với ông Tr về việc yêu cầu trả
số tiền 30.882.000 đồng 17.000.000 đồng = 13.882.000 đồng (mười ba triệu
tám trăm tám mươi hai nghìn đồng).
[4]. Về án phí sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Văn Tr phải chịu tiền án ph là 44.939.500 đồng x 5% =
2.246.975 đồng (hai triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn chn trăm bảy mươi lăm
đồng).
Hunh Bch Th phải chịu tiền án ph đối với số tiền yêu cầu không được
Tòa án chấp nhận 13.882.000 đồng x 5% = 694.000 đồng (sáu trăm chn mươi
bốn nghìn đồng). Tuy nhiên, khi nộp đơn khởi kiện Hunh Bch Th đã đơn
xin miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phán ph thuộc đối tượng người cao tuổi
người công với cách mạng. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều
15, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội về án ph lph Tòa án, Hội đồng xét xử thống
nhất miễn toàn bộ tiền án ph cho bà Hunh Bch Th.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 169, khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm c
khoản 1 Điều 668 Bộ luật dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15,
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
Ban Thường vụ Quốc Hội ván ph lệ ph Tòa án; Điều 91, điểm b khoản 2
8
Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hunh Bch
Th đối với ông Nguyễn Văn Tr về việc tranh chấp kiện đòi tài sản.
2. Buộc ông Nguyễn Văn Tr phải nghĩa vụ trả cho bà Hunh Bch Th s
tiền 44.939.500 đồng (bốn ơi bốn triệu chn trăm ba mươi chn nghìn năm
trăm đồng).
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Hunh Bch Th đối
với ông Nguyễn Văn Tr đối với số tiền là 13.882.000 đồng (mười ba triệu tám trăm
tám mươi hai nghìn đồng).
4. Khi bản án có hiệu lực pháp luật đơn u cầu thi hành án của người
được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến
khi thi hành án xong số tiền phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải trả cho bên được thi hành án số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án ph: Buộc ông Nguyễn Văn Tr phải chịu tiền án phí 2.246.975
đồng (hai triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn chn trăm bảy mươi lăm đồng).
Nguyên đơn bà Hunh Bch Th phải chịu tiền án ph đối với số tiền yêu cầu
không được Tòa án chấp nhận 694.000 đồng (sáu trăm chn mươi bốn nghìn
đồng). Nhưng do bà Hunh Bch Th đơn xin miễn toàn bộ tiền tạm ứng án ph
án ph khi nộp đơn khởi kiện do thuộc đối tượng người công với cách mạng
người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 2
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về án phlệ phTòa án, Hội đồng xét xử chấp
nhận miễn toàn bộ tiền án ph cho bà Hunh Bch Th.
Các đương sự mặt tại phiên tòa quyền làm đơn kháng cáo bản án lên
Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tnh từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án n sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 Điều 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự”.
9
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát ND huyện U Minh Thượng;
- Chi cục Thi hành án DS huyện U Minh Thượng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Tuấn Khanh
Tải về
Bản án số 56/2024/DS-ST Bản án số 56/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 56/2024/DS-ST Bản án số 56/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất