Bản án số 49/2025/DS ngày 07/03/2025 của TAND tỉnh Hậu Giang về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 49/2025/DS

Tên Bản án: Bản án số 49/2025/DS ngày 07/03/2025 của TAND tỉnh Hậu Giang về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hậu Giang
Số hiệu: 49/2025/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu chia thừa kế tài sản của cha, mẹ của bà H để lại là quyền sử dụng đất do ông C đang quản lý.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG
Bản án số: 49/2025/DS-PT
Ngày: 07 - 3 - 2025
V/v: Tranh chấp thừa kế và yêu
cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thọ.
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
Ông Nguyễn Hữu Bằng
- T phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Chúc Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Phùng Bích Tuyền
- Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên toà.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025
về việc “Tranh chấp thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/2025/QĐPT-DS ngày
21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn C, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bđơn: Ông Hồ Quốc T -Luật
Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh H.
Địa chỉ: Số A, ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Ấp N, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
2
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Quốc T1 -Phó
Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, tỉnh Hậu Giang, xin vắng mặt.
3.2. Văn phòng C4. Người đại diện theo pháp luật: Bùi Thanh N.
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang, đơn xin xét xử vắng
mặt.
3.3. Bà Đặng Thị Cẩm L.
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, đơn xin xét xử vắng
mặt.
3.4. Ông Đặng Văn B.
Địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.
3.4. Bà Đặng Thị Tuyết .
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, có mặt.
3.5. Bà Đặng Thị Phi .1
Địa chỉ: 7 H, khóm F, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, có mặt.
3.6. Ông Đặng Hoàng L1.
Địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.
3.7. Bà Đặng Thị T2 (Phỉ).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.
3.8. Ông Đặng Văn Đ.
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Đặng Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Đặng Thị Tuyết .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án thẩm các tài liệu trong hồ thì nội dung vụ án như
sau:
Nguyên đơn Đặng ThH trình bày: Cụ Đặng Văn P (chết năm 2002) hai
người vợ cụ Nguyễn Thị B1 và cụ Thị H1. Cụ P sống chung với cụ Nguyễn
Thị B1 (chết năm 1974) có 09 người con gồm: Bà Đặng Thị Cẩm L, Ông Đặng Văn
B, Đặng Thị T3, bà Đặng Thị H, Đặng Thị T2 (Phỉ), Đặng Thị P1, ông
Đặng Hoàng L1, ông Đặng Văn C ông Đặng Văn H2 (đã chết năm 1974, không
có vợ, con). Cụ P sống chung với cụ Võ Thị H1 (chết năm 2015) có một người con
là ông Đặng Văn Đ. Nguồn gốc phần tài sản bà yêu cầu chia thừa kế là của c Đặng
Văn P và c Nguyễn Thị B1 khai phá trước năm 1975 và được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hộ ông Đặng Văn P vào năm 1996 nhưng thực chất phần đất này
của cha, mẹ khai pkhi các anh chị, em còn nhỏ. Cha, mẹ cụ Thị
H1 chết không có để lại di chúc cho bất kỳ ai. Tại văn bản thỏa thuận phân chia di
3
sản thừa kế theo pháp luật số 08, quyển số 01, được Văn phòng C5 (nay Văn
phòng C4) công chứng ngày 14/02/2014 bỏ sót những người thuộc hàng thừa kế thứ
nhất của cụ P cụ B1, trong đó có bà và các chị, em của nên yêu cầu hủy một
phần văn bản công chứng liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông Đặng Văn C. Do văn bản công chứng sai nên việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của ông C tại các thửa đất số 173 (594), tờ bản đồ số 21, diện tích
9.065,1m
2
loại đất LUA; thửa đất số 198 (594) tờ bản đồ số 21, diện tích 2.977,1m
2
loại đất LUA; thửa đất số 152 (593), tờ bản đồ số 21, diện tích 300m
2
loại đất ODT;
thửa đất số 206 (593), tờ bản đồ số 21, diện tích 1.846,2m
2
, loại đất CLN sai nên bà
yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sdụng đất đã cấp cho ông Đặng Văn C tại
các thửa đất trên và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần di sản đất do ông Đặng
Văn C đứng tên tổng diện ch 14.188,4m
2
tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh
Hậu Giang là di sản của cụ Đặng Văn P cụ Nguyễn Thị B1 chết để lại. yêu
cầu nhận giá trị đất tương ứng với một suất thừa kế.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn bà Đặng Thị H giữ nguyên yêu cầu chia
thừa kế theo pháp luật phần di sản của cĐặng Văn P và cụ Nguyễn Thị B1. Bà rút
yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo pp luật số 08, quyển
số 01, được Văn phòng C5 (nay là Văn phòng C4) công chứng ngày 14/02/2014 và
yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa đất 173, 198, 152,
206 thuộc tờ bản đồ số 21 có diện tích 14.188,4m
2
tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh
Hậu Giang cấp cho ông Đặng Văn C.
Bị đơn ông Đặng Văn C trình bày: Ông thống nhất với phần trình bày của bà
Đặng Thị H về nguồn gốc đất và các anh, chị, em như bà H trình bày. Ông cũng xác
nhận trước đây cha ông cho anh, em của ông mỗi người một phần đất được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông con út trong gia đình nên được
hưởng phần đất này. Ông cũng không biết làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nên ông Đặng Văn B anh ruột của ông làm giùm được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, được các anh, chị em thỏa thuận phân chia di sản
xong. NayH khởi kiện yêu cầu chia di sản theo pháp luật thì ông không đồng ý.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Bùi Thị Thanh T4 trình bày: Bà là vợ của ông Đặng Văn C, bà thống nhất
với ý kiến của ông C, bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H.
Đặng Thị T3 trình bày: con ruột của cụ Đặng Văn P cụ Nguyễn
Thị B1. Bà thống nhất với phần trình bày của bà H. Bà không ký tên vào văn bản
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo pháp luật số 08, quyển số 01, được Văn
phòng C5 (nay là Văn phòng C4) công chứng ngày 14/02/2014. yêu cầu phân
chia di sản tại phần đất ông Đặng Văn C đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất tại các thửa đất số 173 (594), tờ bản đồ số 21, diện tích 9.065,1m
2
loại đất
4
LUA; thửa đất số 198 (594) tờ bản đồ số 21, diện tích 2.977,1m
2
loại đất LUA; thửa
đất s152 (593), tờ bản đồ số 21, diện tích 300m
2
loại đất ODT; thửa đất s206
(593), tờ bản đồ số 21, diện tích 1.846,2m
2
, loại đất CLN. yêu cầu nhận một phần
thừa kế bằng giá trị.
không yêu cầu giám định chtrong văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế theo pháp luật số 08, quyển số 01, được Văn phòng C5 (nay Văn phòng
C4) công chứng ngày 14/02/2014.
Đặng Thị T2 trình bày: con ruột của cụ Đặng Văn P cụ Nguyễn
Thị B1. Bà thống nhất với phần trình bày của bà H. Bà có yêu cầu phân chia di sản
tại phần đất ông Đặng Văn C đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại
các thửa đất s173 (594), tờ bản đồ số 21, diện tích 9.065,1m
2
loại đất LUA; thửa
đất số 198 (594) tờ bản đồ số 21, diện tích 2.977,1m
2
loại đất LUA; thửa đất số 152
(593), tờ bản đồ số 21, diện tích 300m
2
loại đất ODT; thửa đất số 206 (593), tờ bản
đồ số 21, diện tích 1.846,2m
2
, loại đất CLN. yêu cầu nhận một phần thừa kế bằng
giá trị.
Tại phiên tòa thẩm, xác nhận tên vào văn bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế theo pháp luật số 08, quyển số 01, được Văn phòng C5 (nay Văn
phòng C4) công chứng ngày 14/02/2014, để cho ông C đứng tên trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nhưng khi bán đất phải hỏi ý kiến của bà.
Bà Đặng Thị P1 trình bày: là con ruột của ông Đặng Văn P bà Nguyễn
Thị B1. Bà thống nhất với phần trình bày của bà H. Bà không ký tên vào văn bản
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo pháp luật số 08, quyển số 01, được Văn
phòng C5 (nay là Văn phòng C4) công chứng ngày 14/02/2014. Bà có yêu cầu phân
chia di sản tại phần đất do ông Đặng Văn C đứng tên trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại các thửa đất số 173 (594), tờ bản đồ số 21, diện tích 9.065,1m
2
loại
đất LUA; thửa đất số 198 (594) tờ bản đồ số 21, diện tích 2.977,1m
2
loại đất LUA;
thửa đất số 152 (593), tờ bản đồ số 21, diện tích 300m
2
loại đất ODT; thửa đất số
206 (593), tờ bản đồ số 21, diện ch 1.846,2m
2
, loại đất CLN. Bà yêu cầu nhận một
phần thừa kế bằng giá trị.
Ông Đặng Hoàng L1 trình bày: Ông thống nhất phần trình bày của bà H về
nguồn gốc phần đất và những người con của cụ Đặng Văn P, cụ Nguyễn Thị B1 như
H trình bày. Ông đã được cha, mcho phần đất diện tích 4.253,8m
2
đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Do ông bận nhiều việc nhà nên yêu cầu Tòa án không triệu tập tham gia tố tụng các
giai đoạn, ông không nhận tài liệu, chứng cứ và yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đặng Thị Cẩm L trình bày: thống nhất phần trình bày của H về
nguồn gốc phần đất và những người con của cụ Đặng Văn P, cụ Nguyễn Thị B1 như
H trình bày. Phần đất này cha, mẹ đã cho ông Đặng n C khi còn sống nhưng
5
do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng nên không thể
chuyển tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. thống nhất cho đất
ông C theo nguyện vọng của cha, mẹ bà. Bà không có ý kiến gì trong vụ án này.
Ông Đặng Văn B trình bày: Ông là con của cụ Đặng Văn P và cụ Nguyễn Thị
B1. Lúc sinh thời cha, mẹ ông có cho ông phần đất có diện tích 1.547m
2
thuộc thửa
219, tờ bản đồ số 21 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00318 ngày
03/4/2014. Ông đã sử dụng ổn định và được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất
lâu dài nên không có ai tranh chấp. Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án
này.
Ông Đặng Văn Đ trình bày: Ông là con của cụ Đặng Văn P và cụ Võ Thị H1.
Ông thống nhất phần trình bày của H về nguồn gốc phần đất, về hàng thừa kế như
H trình bày. Ông đã được cha cho phần đất có diện tích 2.600m
2
và đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này. Do
ông bận nhiều việc nhà nên yêu cầu Tòa án không triệu tập tham gia tố tụng các giai
đoạn, ông không nhận tài liệu, chứng cứ và yêu cầu xét xử vắng mặt.
Ủy ban nhân dân huyện C người đại diện theo y quyền anh Nguyễn
Quốc T1 trình bày tại bản tự khai ngày 26/8/2024: Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn C là đúng với quy định của pháp luật tại
điểm k khoản 1 Điều 99 Luật đất đai năm 2013. Trình tự, thủ tục thực hiện theo đúng
quy định tại Điều 76 Nghị dịnh số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ,
khoản 1 Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T6 nên
không đồng ý yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đặng
Văn C.
Tại bản án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án
nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đặng Thị H.
Chia cho Đặng Thị H một suất thừa kế tương ứng với số tiền 565.525.285
đồng. Buộc ông Đặng Văn C có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị H số tiền 565.525.285
đồng.
Đình chỉ yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo pháp
luật số 08, quyển số 01, được Văn phòng C5 (nay Văn phòng C4) công chứng
ngày 14/02/2014 yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa
đất 173, 198, 152, 206 thuộc tờ bản đồ số 21 diện tích 14.188,4m
2
tại ấp D, thị
trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp cho ông Đặng Văn C.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của Đặng Thị Phi C1 cho Đặng Thị Phi M
suất thừa kế tương ứng với số tiền 565.525.285 đồng. Buộc ông Đặng Văn C
nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị P1 số tiền 565.525.285 đồng.
6
Chia cho ông Đặng Văn C phần đất có tổng diện tích 14.188,4m
2
tại các thửa
đất số 173 (594), tờ bản đồ số 21, diện tích 9.065,1m
2
loại đất LUA thuộc giấy chng
nhận quyền sdụng đất số CH00320 ngày 03 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân
dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp cho ông Đặng Văn C; thửa đất số 198 (594) tờ bản
đồ số 21, diện tích 2.977,1m
2
loại đất LUA thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CH00319 ngày 03 tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu
Giang cấp cho ông Đặng Văn C; thửa đất số 152 (593), tờ bản đồ số 21, diện tích
300m
2
loại đất ODT thuộc giấy chứng nhận quyền sdụng đất số CH00322 ngày 03
tháng 4 năm 2014 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp cho ông Đặng
Văn C; thửa đất số 206 (593), tờ bản đồ số 21, diện tích 1.846,2m
2
loại đất CLN
thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00321 ngày 03 tháng 4 năm 2014
của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp cho ông Đặng Văn C. Các phần
đất trên tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Đặng Thị T3 về yêu cầu chia tha
kế phần di sản của ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị B1.
Không chấp nhận yêu cẩu độc lập của Đặng Thị T2 về yêu cầu chia thừa
kế phần di sản của ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị B1.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn tuyên án phí dân sự thẩm; chi ptố tụng, quyền
yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, ông Đặng Văn C đơn kháng cáo bản án
thẩm. Yêu cầu Tòa án cp phúc thm gii quyết bác yêu cầu của người khởi kiện
H và bà P1.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, Đặng Thị T3 đơn kháng cáo bản án thẩm.
Yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết chia thừa kế cho bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận kháng cáo của
bị đơn. Đề nghị giữ nguyên chia thừa kế cho bà như bản án sơ thẩm đã tuyên.
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng phần đất tranh chấp là của
cụ P, cụ B1 và cụ H1, trong đó c P và c H1 đã nhận chuyển nhượng 06 07 công
đất tầm nhỏ. Khi C2, mẹ là cụ P và cụ H1 còn sống đã cho ông diện tích đất trên.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị Tuyết G nguyên yêu
cầu kháng cáo, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng
xét xử xác định chia thừa kế cho bà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vliên quan: Bà Đặng Thị P1 đề nghị giữ nguyên
bản án sơ thẩm đối với phần thừa kế đã chia cho bà.
Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị kiện cho rằng:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình cụ P vào năm 1996,
hộ khẩu cụ H1, cụ P, ông C ông Đ. Cấp thẩm chưa xác định phần tài sản
7
của cụ P trong khối tài sản chung của gia đình mà lại xác định phần đất tranh chấp
là tài sản của cP và cụ B1 là chưa chính xác.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm, cụ thể: Xác định phần tài sản
của cụ P trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp chung cho hộ gia đình
để làm cơ sở chia thừa kế là 1/5 trong tổng số diện tích đất 14.188m
2
. Bị đơn thống
nhất cách chia kỷ phần theo bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm từ giai
đoạn thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành đúng các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự, hủy bản án dân sự sơ thẩm vì vi phạm:
- Về tố tụng: Một phần đất tranh chấp ông C đã chuyển nhượng cho ông Trịnh
Quang Đ1, ông Đ1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2021
nhưng cấp sơ thẩm không đưa ông Đ1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan và chia cho ông C luôn cả phần đất ông C đã chuyển nhượng
cho ông Đ1 là ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của ông Đ1.
- Về nội dung: Phần đất hiện tranh chấp vào năm 1996 được cấp cho hộ cụ
Đặng Văn P, thời điểm này đang tồn tại hôn nhân thực tế giữa cụ phát cụ H1. Cấp
thẩm xác định đây tài sản của c P cụ B1 chưa chính xác. Cụ B1 chết năm
1974, cấp thẩm không xem xét thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với phần tài sản
của c B1 là không đúng. Cấp sơ thẩm xác định văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế theo pháp luật số 08, quyển số 01, được Văn phòng C5 (nay Văn phòng
C4) công chứng ngày 14/02/2014 không đúng đã chấp nhận phân chia di sản thừa
kế cho bà H, bà P1 nhưng lại áp dụng vào văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế trên
để không chấp nhận chia thừa kế cho bà T3, bà T2 là nhận định, đánh giá chứng cứ
không phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Sau khi xét xử thẩm, bị đơn ông Đặng Văn C người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Đặng Thị T3 kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Đối với kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Cụ Đặng Văn P (chết năm 2002) có hai người vợ là bà Nguyễn Thị B1
Thị H1. Cụ P sống chung với Nguyễn Thị B1 (chết năm 1974) 09
người con gồm: Đặng Thị Cẩm L, Đặng Văn B, Đặng Thị T3, Đặng Thị H, Đặng
Thị T2 (Phỉ), Đặng Thị P1, Đặng Hoàng L1, Đăng Văn C3 Đặng Văn H2 (đã chết
8
năm 1974, không có vợ, con). Cụ P sống chung với cụ Võ Thị H1 (chết năm 2015)
có một người con là Đặng Văn Đ.
[2.2]. Xác định hành thừa kế của cụ P. Xét thấy hôn nhân giữa cụ P với cụ B1
và hôn nhân giữa cụ P với cụ H1 đều là hôn nhân thực tế. Tuy nhiên, c B1 chết vào
năm 1974 nên xác định hôn nhân của cụ B1 với cụ P chấm dứt từ thời điểm này.
Trong thời gian chung sống với cụ B1, cụ B1 cụ P không bất cứ giấy tờ
chứng minh quyền sở hữu đối với phần đất tranh chấp. Sau khi c B1 chết, cụ P
chung sống với cụ H1 trước thời điêm luật hôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu
lực nên được xác định hôn nhân thực tế. m 2002, cụ P, thời điểm này cụ H1
vẫn còn sống nên xác định hàng thừa kế của cụ P ngoài các con ra còn có cụ H1. Vì
vậy, cấp sơ thẩm xác định hàng thừa kế gồm Đặng Thị Cẩm L, Đặng Văn B, Đặng
Thị T3, Đặng Thị H, Đặng Thị T2 (P), Đặng Thị P1, Đặng Hoàng L1, Đặng Văn C,
Đặng Văn Đ mà không có cụ H1 là thiếu sót.
[2.3]. Về di sản thừa kế: Như đã phân tích trên, do hôn nhân giữa cụ P và cụ
H1 hôn nhân thực tế tồn tại trước năm 1980. Thời điểm này thực hiện theo Luật
hôn nhân gia đình năm 1959 thì, vợ chồng có quyền sở hữu ngang nhau đối với tài
sản trước sau khi kết hôn. Mặt khác, đến năm 1996, Nhà nước cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho hộ c Đặng Văn P gồm các thửa 539 diện tích 1.700m
2
đất CNK 300m
2
loại đất T; thửa 594 diện tích 12.580m
2
; thửa 595 diện tích
8.765m
2
. Tuy nhiên, các đương schỉ tranh chấp diện tích 14.188,4m
2
thuộc các
thửa 539 được xác định 593 và thửa 594 nên cần xác định phần tài sản tranh chấp là
tài sản ca cả cụ H1. Cấp sơ thẩm xác định toàn bộ tài sản tranh chấp là của cụ P
cụ B1 để chia thừa kế là không chính xác.
[2.3]. Quá trình giải quyết vụ án cấp thẩm, ông Đ cũng chỉ thừa nhận
phần đất tranh chấp có nguồn gốc giống như lời trình bày của H các anh, chị
em của H là do cụ B1 và cP tạo lập. Không có lời khai nào ông Đ xác định đây
là di sản của cụ P và cụ B1 để lại nhưng cấp sơ thẩm lại nhận định đây là di sản của
cụ B1 và cụ P để lại là không có cơ sở vì nguồn gốc tạo lập và việc xác nhận quyền
sử dụng là khác nhau.
[2.4]. Cấp thẩm nhận định đây di sản của cụ P cụ B1 để lại. Tuy nhiên,
cụ B1 chết năm 1974. Áp dụng án lệ số 26/2018/AL-HĐTP thì thời điểm bắt đầu
tính thời hiệu thừa kế là ngày 10/9/1990 tức là ngày công bố pháp lệnh thừa kế ngày
30/8/1990. Căn cứ Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Thời
hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản 30 năm đối với bất động sản, 10 năm
đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về
người thừa kế đang quản lý di sản đó. Như vậy ngày 01/11/2022, bà H mới đi kiện
cấp sơ thẩm chưa xem xét thời hiệu khởi kiện còn hay hết nhưng đã chấp nhận yêu
cầu khởi kiện ca bà H để chia thừa kế là chưa đúng.
9
[2.5]. Đối với văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo pháp luật số
08, quyển số 01, được Văn phòng C5 (nay Văn phòng C4) ng chứng ngày
14/02/2014 đã thỏa thuận cho ông C đứng tên toàn bộ phần diện tích đất tranh chấp.
Tuy nhiên, văn bản công chứng xác định tài sản là của cụ P cụ B1 không xem
xét có phần của cụ H1 và các thành viên cấp giấy cho hộ là không đúng.
Hơn nữa, tài thời điểm công chứng cụ H1 vợ hợp pháp của cụ P vẫn còn
sống ngoài ra còn các con của cụ P bà H, P1, ông Đ nhưng vản bản thỏa
thuận chỉ xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đặng Văn P cụ Nguyễn Thị B1
gồm Đặng Thị Cẩm L sinh năm 1953, Đặng Văn B sinh năm 1953, Đặng Thị T3
sinh năm 1957, Đặng Thị Thủy S năm 1966, Đặng Hoàng L1 sinh năm 1968
Đặng Văn C sinh năm 1972 cho những người này thỏa thuận thừa kế toàn bộ
phần tài sản là không đúng.
Từ đó, văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo pháp luật s08, quyển
số 01, được Văn phòng C5 (nay Văn phòng C4) công chứng ngày 14/02/2014 là
vô hiệu.
Do văn bản công chứng hiệu nên ý kiến thỏa thuận không mang giá trị
pháp lý. Cấp thẩm nhận định văn bản công chứng không đúng không tuyên
hiệu văn bản công chứng là thiếu sót. Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm cho rằng văn bản
thỏa thuận phân chia thừa kế không đúng chấp nhận yêu cầu phân chia di sản thừa
kế cho bà H, P1 nhưng lại không chấp nhận yêu cầu được chia thừa kế của bà T3,
P2 nhận định do T3 đã ý kiến trong văn bản thỏa thuận phân chia thừa
kế. Với cách lập luận và giải quyết như vậy là không phù hợp.
[2.6]. Ngoài ra, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa
173 diện tích 9.065,1m
2
, ông C đã chuyển nhượng cho ông Trịnh Quang Đ1 diện
tích 4.035,7m
2
vào năm 2021. Ông Đ1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tách thửa mới 353. Phần diện tích còn lại 5.029,4m
2
ông C được cấp thửa mới
354. Nhưng quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm không đưa ông Trịnh Quang Đ1
tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
đồng thời tại phần quyết định lại tiếp tục tuyên chia cho ông C thửa 173 diện tích
9.065,1m
2
trong khi thửa 173 không còn tồn tại tuyên chia cho ông C luôn cả
phần đất ông Đ1 đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 353
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ1.
[3]. Từ những nhận định, đánh giá chứng không đúng vi phạm về tố tụng
ảnh hưởng đến nội dung của vụ án, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên
cần chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, hủy bản án
thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại ván theo thủ tục
sơ thẩm.
10
[4]. Về án phí thẩm chi phí tố tụng: Nghĩa vụ chịu án phí thẩm, chi
phí xem xét thẩm định định giá tài sản được xác định lại khi giải quyết vụ án theo
thủ tục sơ thẩm.
[5]. Án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Hủy bản án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa
án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang và chuyển hồ vụ án cho Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. V án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng: Nghĩa v chịu án phí sơ thẩm, chi phí
xem xét thẩm định định giá tài sản được xác định li khi gii quyết v án theo thủ
tục sơ thẩm.
3. Án phí phúc thẩm: Các đương s không phải chịu. Ông Đặng Văn C đưc
nhn li tin tm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số
0004690 ngày 19/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh
Hu Giang.
Bản án phúc thẩm hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 07 tháng 3 năm 2025.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hậu Giang;
- TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành A, tỉnh
Hậu Giang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thọ
Tải về
Bản án số 49/2025/DS Bản án số 49/2025/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 49/2025/DS Bản án số 49/2025/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất