Bản án số 48/2024/DS-PT ngày 24/12/2024 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 48/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 48/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 48/2024/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 48/2024/DS-PT ngày 24/12/2024 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lạng Sơn |
Số hiệu: | 48/2024/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 24/12/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Bà Giang Thị C và ông Hoàng Đức D do có quan hệ quen biết từ trước nên khi ông Hoàng Đức D đến nhà bà hỏi vay tiền bà đã đồng ý cho vay. Việc vay tiền hoàn toàn tự nguyện, chỉ mình bà cho ông Hoàng Đức D vay, không có ai trong gia đình bà hay gia đình ông Hoàng Đức D được biết và có liên quan. Ban đầu, do tin tưởng ông Hoàng Đức H nên bà cho ông vay tiền không bắt ông phải ký kết giấy tờ gì mà chỉ là thoả thuận miệng sau khi vay tiền ông Hoàng Đức H phải có trách nhiệm trả nợ cho bà. Bà đã cho ông Hoàng Đức D vay tiền nhiều lần, ông Hoàng Đức D cũng đều thực hiện trách nhiệm trả nợ cho bà |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 48/2024/DS-PT
Ngày 24-12-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Đức Trí
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoa
Bà Lương Thị Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2024/TLPT-DS ngày 31
tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do Bản án dân sự
sơ thẩm số: 21/2024/ST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện
H, tỉnh Lạng Sơn, bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 44/2024/QĐ-PT ngày
04 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Giang Thị C (Giang Thị D), sinh năm 1972; cư trú tại:
Thôn R, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Đức D, sinh năm 1976; cư trú tại: Số nhà 10. Ngõ 129,
đường T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Hoàng Đức D: Ông Triệu
Quang H, sinh năm 1979; đơn vị công tác Công ty Luật TNHH MTV G, địa chỉ:
738 B, phường Đ, thành phố L; có mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1970; cư trú tại: Số nhà
117, đường Tôn Thất Tùng, khu An Thịnh, thị trấn Hữu Lũng, huyện H, tỉnh
Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Hoàng Đức D, là bị đơn.

2
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện
Huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Giang Thị C và ông Hoàng Đức D do có quan hệ quen biết từ trước
nên khi ông Hoàng Đức D đến nhà bà hỏi vay tiền bà đã đồng ý cho vay. Việc
vay tiền hoàn toàn tự nguyện, chỉ mình bà cho ông Hoàng Đức D vay, không có
ai trong gia đình bà hay gia đình ông Hoàng Đức D được biết và có liên quan.
Ban đầu, do tin tưởng ông Hoàng Đức H nên bà cho ông vay tiền không bắt ông
phải ký kết giấy tờ gì mà chỉ là thoả thuận miệng sau khi vay tiền ông Hoàng
Đức H phải có trách nhiệm trả nợ cho bà. Bà đã cho ông Hoàng Đức D vay tiền
nhiều lần, ông Hoàng Đức D cũng đều thực hiện trách nhiệm trả nợ cho bà. Đến
thời điểm ngày 28/11/2016, khi ông Hoàng Đức D vay tiền bà yêu cầu ông
Hoàng Đức D viết giấy, nguyên nhân do trước ngày 28/11/2016 âm lịch tổng số
tiền ông Hoàng Đức D vay bà là 100.000.000 đồng, đến ngày 29/7/2016 âm lịch
ông Hoàng Đức D trả cho bà số tiền 50.000.000 đồng, khi trả ông Hoàng Đức D
đã yêu cầu bà phải viết giấy đã nhận đủ số tiền 50.000.000 đồng cho ông
nên bà đã viết giấy nhận đủ số tiền 50.000.000 đồng, ông Hoàng Đức D khi đó
cũng có hẹn số tiền 50.000.000 đồng còn lại sẽ được trả hết vào tháng 12. Đến
ngày 28/11/2016 âm lịch, ông Hoàng Đức D hỏi vay thêm số tiền là 50.000.000
đồng nữa để cộng lại thành 100.000.000 đồng, nên bà yêu cầu ông Hoàng Đức
H phải viết giấy cụ thể thì mới cho vay, ông Hoàng Đức D đồng ý viết giấy với
nội dung vay 100.000.000 đồng. Sau khi ông Hoàng Đức D viết giấy có nội
dung vay 100.000.000 đồng bà đã giao thêm cho ông số tiền 50.000.000 đồng,
bà thực hiện giao tiền mặt cho ông Hoàng Đức D, giao tại nhà bà và không có ai
khác chứng kiến. Tổng số tiền nợ gốc ông Hoàng Đức D còn nợ bà là
100.000.000 đồng chẵn. Sau khi ông Hoàng Đức D vay được tiền, bà đã rất
nhiều lần liên hệ để đòi ông nhưng ông đều khất lần sau đó lại chặn liên hệ với
bà nên bà không thể đòi tiền được. Do đó, bà đề nghị Toà án giải quyết buộc ông
Hoàng Đức D phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng và lãi suất phát
sinh theo quy định tạm tính từ ngày 26/12/2016 đến ngày 26/03/2024 là 87
tháng x 1,5%/tháng = 130.500.000 đồng. Tổng cộng yêu cầu ông Hoàng Đức D
phải trả cho bà số tiền 230.500.000 đồng và ông D còn phải tiếp tục trả tiền lãi
phát sinh từ ngày 26/3/2024 cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Tại phiên toà sơ thẩm, bà Giang Thị C giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Toà
án giải quyết buộc ông Hoàng Đức D phải trả cho bà số tiền nợ gốc là
100.000.000 đồng cùng tiền lãi phát sinh là 1,5%/tháng tính từ ngày 26/12/2016
cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ.
Bị đơn ông Hoàng Đức D và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn
trình bày:
3
Vào khoảng tháng 11/2016 âm lịch bà Nguyễn Thị V là hàng xóm với ông
có nhờ ông vay của bà Giang Thị D số tiền là 100.000.000 đồng. Do bà Nguyễn
Thị V làm ăn và nợ tiền của bà Giang Thị D, ông là hàng xóm quen biết với bà
Nguyễn Thị V vì cả nể nên đã đứng ra vay hộ bà Nguyễn Thị V số tiền là
100.000.000 đồng. Sau đó ông được viết và ký xác nhận vào Giấy vay tiền đề
ngày 28/11/2016. Sau khi viết giấy vay nợ với bà Giang Thị D, ông không được
tham gia vào việc giao nhận số tiền 100.000.000 đồng, việc giao nhận tiền do bà
Giang Thị D và bà Nguyễn Thị V trực tiếp làm việc với nhau do ông chỉ vay hộ
cho bà Nguyễn Thị V. Đến thời hạn trả nợ bà Giang Thị Dung có thông báo về
việc nợ số tiền 100.000.000 đồng thì ông mới biết là bị lừa. Ngày 29/7/2017 âm
lịch ông có nhờ bà Nguyễn Thị V cầm số tiền 50.000.000 đồng để trả cho bà
Giang Thị D, khi bà Nguyễn Thị V trả tiền bà Giang Thị D có viết giấy xác nhận
ông đã trả số tiền 50.000.000 đồng và bà Giang Thị D được ký xác nhận vào tờ
giấy đó. Đối với số tiền 50.000.000 đồng còn lại theo như cam kết đến tháng
12/2017 âm lịch ông đã trả hết. Việc trả tiền lần này ông đã đưa tiền cho bà
Nguyễn Thị V để trả cho bà Giang Thị D, vì tin tưởng nhau nên khi trả tiền hai
bên không lập giấy tờ nhưng bà Nguyễn Thị V là người trực tiếp đi trả tiền biết
sự việc. Nay bà Giang Thị C khởi kiện yêu cầu ông phải trả số tiền nợ gốc là
100.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo quy định tạm tính từ ngày
26/12/2016 đến ngày 26/03/2024 là 87 tháng x 1,5%/tháng = 130.500.000 đồng.
Tổng cộng yêu cầu ông phải trả số tiền 230.500.000 đồng và yêu cầu ông còn
phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 26/3/2024 cho đến khi giải quyết xong
vụ án, ông không đồng ý. Vì ông chỉ được vay tiền với bà Giang Thị D, địa chỉ:
thôn R, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và ông cũng đã trả đủ cho bà Giang Thị D
số tiền 100.000.000 đồng, cụ thể lần 1 trả 50.000.000 đồng vào ngày 29/7/2017
âm lịch, lần 2 trả 50.000.000 đồng vào tháng 12/2017 âm lịch. Ngoài ra ông xác
nhận không có quen biết gì và không được vay tiền của bà Giang Thị C. Do vậy
việc bà Giang Thị C khởi kiện yêu cầu ông phải trả số tiền nêu trên là hoàn toàn
không đúng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hoàng Đức D vắng mặt, người đại diện theo
uỷ quyền của bị đơn, ông Triệu Quang H đề nghị áp dụng thời hiệu để giải quyết
vụ án theo quy định và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Giang Thị C.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị V trình bày:
Bà không có quan hệ hay quen biết gì với ông Hoàng Đức D và bà Giang
Thị C (hay còn gọi là D), cách đây khoảng hơn 20 năm khi bà còn bán thịt lợn
thì có biết hai người do là khách mua hàng, sau đó không bán nữa cũng không
gặp hai người. Nay ông Hoàng Đức D cho rằng bà nhờ ông đứng ra vay tiền cho
bà Giang Thị C là không đúng, bà không có liên hệ gì với ông Hoàng Đức H sao
ông lại đứng ra vay hộ tiền cho bà như vậy. Đối với bà Giang Thị C bà cũng
không được vay mượn tiền gì của bà Giang Thị C. Đề nghị Toà án không triệu
tập bà vì bà không có liên quan gì.
4
Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc, bị đơn đề nghị không áp dụng thời
hiệu; đối với khoản lãi trên nợ gốc, bị đơn đề nghị áp dụng thời hiệu của Bộ luật
Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu áp dụng thời hiện đối với
khoản tiền lãi trên số nợ gốc.
Tại Bản án sơ thẩm số 21/2024/ST-DS ngày 29-8-2028 của Tòa án nhân dân
huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217, Điều 271, Điều
273 của Bộ luật Tố tu
̣
ng dân sư
̣
năm 2015.
Căn cứ vào Điề u 16, 19, 117, 118, 119, 120, 155, 429, 463, 465, 466, 688
của Bộ luật Dân sư
̣
năm 2015.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Giang Thị
C, buộc ông Hoàng Đức D phải trả cho bà Giang Thị C số tiền 100.000.000
đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về lãi chậm trả; nghĩa vụ về án phí; về quyền
thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn, ông Hoàng Đức D vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn đối với Bản án
sơ thẩm số 21/2024/ST-DS ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn.
Qua tranh tụng: Nguyên đơn, bà Giang Thị C (Giang Thị Dung) vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên phần quyết định
của Bản án sơ thẩm; bị đơn ông Hoàng Đức D vắng mặt, người đại diện theo ủy
quyền của bị đơn, ông Triệu Quang H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề
nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn sửa Bán án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi
kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Hoàng Đức D trả cho nguyên đơn số tiền
100.000.000 đồng, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Huyện Hữu Lũng về phần buộc ông Hoàng Đức D phải trả cho nguyên đơn số tiền
50.000.000 đồng, chấp nhận kháng nghị về phần tuyên của bản án sơ thẩm đình chỉ
về yêu cầu trả lãi trên nợ gốc; nguyên đơn bà Giang Thị C (Giang Thị Dung) không
chấp nhận toàn bộ kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc
chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:
1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án
tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn vắng
5
mặt đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt, người làm chứng vắng mặt
nhưng đã có ý kiến lời khai cụ thể trong hồ sơ vụ án.
2. Về việc giải quyết kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà
Giang Thị C (Dung) giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu giữ nguyên quyết
định của bản án sơ thẩm; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Huyện
Hữu Lũng và kháng cáo của bị đơn thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận có việc ông Hoàng
Đức D vay bà Giang Thị D số tiền 100.000.000 đồng ngày 28/11/2016 (âm lịch)
và ông Hoàng Đức D đã thanh toán cho bà Giang Thị D số tiền 50.000.000 đồng
theo giấy nhận tiền ngày 29/7 âm không ghi cụ thể năm nào, nhưng các bên
đương sự trình bày khác nhau về số lần cho vay tiền và việc thanh toán số tiền
50.000.000 đồng.
Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án thấy, trước khi bị đơn xuất trình giấy
nhận tiền 50.000.000 đồng nguyên đơn không trình bày giữa hai bên có quan hệ
vay nợ nhiều lần, chỉ sau khi bị đơn xuất trình giấy nhận tiền ngày 29/7 âm thì
nguyên đơn mới trình bày giữa hai bên có quan hệ vay nợ nhiều lần, ngoài lời
trình bày nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng minh các khoản vay
khác giữa nguyên đơn và bị đơn ngoài khoản vay ngày 28/11/2016 (âm lịch).
Nguyên đơn trình bày số tiền 50.000.000 đồng ông Hoàng Đức D trả
nguyên đơn theo giấy ghi ngày 29/7 âm là tiền nợ của khoản vay trước ngày
28/11/2016 (âm lịch), giấy này là do bà viết, có ghi nội dung hẹn đến tháng
12/2016 ông Hoàng Đức D trả nốt 50.000.000 đồng còn lại. Đến hẹn, ông
Hoàng Đức D không trả được tiền và ngày 28/11/2016 (âm lịch) bà đã cho ông
Hoàng Đức D vay thêm số tiền 50.000.000 đồng, nên ông Hoàng Đức D tự viết
giấy vay tiền với tổng số tiền vay 100.000.000 đồng (bao gồm nợ cũ là
50.000.000 đồng, số tiền vay mới là 50.000.000 đồng, tổng là 100.000.000 đồng
theo như giấy vay của ngày 28/11/2016 âm lịch nêu trên).
Như vậy, theo trình bày của nguyên đơn thì thời hạn để ông Hoàng Đức D
thanh toán 50.000.000 đồng còn lại là tháng 12/2016 âm lịch, nhưng chưa đến
hạn thánh toán thì ngày 28/11/2016 âm lịch nguyên đơn lại tiếp tục cho bị đơn
vay thêm số tiền 50.000.000 đồng, đúng bằng số tiền còn nợ là mâu thuẩn,
không phù hợp với thực tế và cũng không có tài liệu chứng minh.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại phiên tòa
phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được bất kỳ chứng cứ, tài liệu nào về
các khoản vay trước ngày 28/11/2016 (âm lịch). Bị đơn khẳng định chỉ được vay
tiền của nguyên đơn duy nhất một lần ngày 28/11/2016 (âm lịch) như nêu trên,
do đó không có căn cứ để xác định giữa nguyên đơn và bị đơn còn xác lập giao
dịch vay tiền nào khác ngoài lần vay tiền ngày 28/11/2016 (âm lịch). Tại nhận
định [8] của bản án sơ thẩm cho rằng các đương sự trình bày không thống nhất
về thời điểm bà Giang Thị C nhận 50.000.000 đồng là tiền gì, của khoản vay nào
và cho rằng chưa đủ cơ sở xác định khoản tiền này có liên quan đến khoản vay
6
ngày 28/11/2016 (âm lịch) nên không chấp nhận việc bị đơn đã thanh toán số
tiền 50.000.000 đồng là không phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.
Việc Tòa án sơ thẩm chấp nhận lời trình bày của nguyên đơn về việc hai
bên vay tiền nhiều lần nên không xác định được việc bị đơn trả 50.000.000 đồng
cho khoản vay nào (trong khi không có tài liệu chứng cứ chứng minh về việc vay
tiền nhiều lần), nhưng lại không chấp nhận lời trình bày của bị đơn về việc đã
trả nợ số tiền 50.000.000 đồng theo giấy nhận tiền và được nguyên đơn thừa
nhận, như vậy là mâu thuẫn trong đánh giá chứng cứ.
Do đó, bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên
đơn toàn bộ số tiền 100.000.000 đồng và phải chịu án phí dân sự có giá ngạch
với toàn bộ số tiền trên là không đảm bảo khách quan, vi phạm trong việc đánh
giá chứng cứ theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng
quyền lợi của bị đơn. Do vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, dẫn đến việc
xác định nghĩa vụ án phí của các đương sự không chính xác.
Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn ngoài trả nợ gốc và tiền lãi là
130.500.000 đồng. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu áp dụng thời hiệu
đối với khoản tiền lãi, bản án sơ thẩm chỉ tuyên Đình chỉ đối với yêu cầu đòi trả
lãi suất của bà Giang Thị C mà không tuyên cụ thể số tiền nguyên đơn yêu cầu
trả lãi suất là bao nhiêu, cũng không nêu hậu quả pháp lý của việc đình chỉ,
không áp dụng quy định tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự về hậu quả của
việc đình chỉ là thiếu căn cứ pháp luật và chưa đầy đủ.
Xét kháng cáo của ông Hoàng Đức D đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà
Giang Thị Dung thấy: Có căn cứ xác định ông Hoàng Đức D vay bà Giang Thị
Dung số tiền 100.000.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng số tiền này bao gồm
50.000.000 đồng của các lần vay trước ngày 28/11/2016 (âm lịch) và thêm
50.000.000 đồng của khoản vay ngày 28/11/2016 nhưng bị đơn thừa nhận giữa
hai bên chỉ có khoản vay duy nhất ngày 28/11/2016 âm lịch như Giấy vay tiền.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn xuất trình 01 giấy nhận tiền thể hiện nguyên
đơn đã nhận số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 29/7 nhưng không ghi năm,
nguyên đơn cho rằng đây là tiền trả cho các khoản vay trước, còn bị đơn cho
rằng đây là tiền trả của khoản vay ngày 28/11/2016 âm lịch.
Do nguyên đơn không chứng minh được các khoản vay trước đó giữa
nguyên đơn và bị đơn, còn bị đơn chỉ thừa nhận hai bên có 01 khoản vay ngày
28/11/2016 âm lịch, nguyên đơn cũng thừa nhận đã được nhận 50.000.000 đồng
do bị đơn trả theo giấy nhận tiền 29/7 nên có căn cứ xác định ông Dũng đã trả bà
Dung 50.000.000 đồng.
Đối với số tiền 50.000.000 đồng còn lại, ông Hoàng Đức D trình bày đã
đưa cho bà Nguyễn Thị V 50.000.000 đồng để trả cho bà Giang Thị D vào tháng
12/2017 âm lịch, nhưng không có tài liệu chứng minh, còn bà Vinh không liên
quan gì đến việc vay mượn giữa ông Hoàng Đức D và bà Giang Thị D. Do đó,
7
có cơ sở xác định ông Hoàng Đức D còn nợ bà Giang Thị D 50.000.000 đồng
chưa thanh toán. Việc ông Hoàng Đức D kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại
khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Đức D, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, sửa Bản án dân sự sơ
thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của TAND huyện Hữu Lũng theo
hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn
thanh toán cho nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng, không chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 50.000.000 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận
một phần nên bị đơn ông Hoàng Đức D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch đối với yêu cầu được chấp nhận, nguyên đơn bà Giang Thị D phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp
nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
Về án phí phúc thẩm, do sửa bản án sơ thẩm nên bị đơn kháng cáo không
phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử hoàn trả lại số tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm cho bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ thứ nhất có
đương sự vắng mặt nhưng đã có đại diện theo ủy quyền. Căn cứ Điều 296 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt
người này.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Đức D yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như bản án sơ
thẩm đã tuyên và kháng nghị của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện
H, tỉnh Lạng Sơn, nhận thấy:
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn ông Hoàng Đức D do ông Triệu
Quang H làm đại diện vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; nguyên đơn bà Giang
Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ
nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm:
[4] Tại giấy vay tiền ngày 28/11/2016 thể hiện ông Hoàng Đức D vay của
bà Giang Thị D (chữ D bị viết chèn thành vừa C và vừa D) số tiền là
100.000.000 đồng, hẹn ngày 28/4/2017 sẽ trả đủ, nếu sai chịu trách nhiệm trước
pháp luật. Sau khi vay tiền ông Hoàng Đức D cho rằng đã trả cho bà Giang Thị
C được số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 29/7/2017 âm lịch. Còn bà Giang Thị
8
C thì cho rằng số tiền này là ông Hoàng Đức D trả của khoản vay trước ngày
28/11/2016 và trả ngày 29/7/2016 âm lịch chứ không phải khoản vay ngày
28/11/2016, do vậy ông Hoàng Đức D vẫn phải trả khoản gốc của số tiền ngày
28/11/2016 là 100.000.000 đồng.
[5] Xét thấy các đương sự đều thừa nhận ông Hoàng Đức D có vay tiền của
bà Giang Thị C 100.000.000 đồng nhưng bị đơn cho rằng đã trả hết số tiền này
làm 02 lần, cụ thể lần 1 trả 50.000.000 đồng vào ngày 29/7/2017 âm lịch, lần 2
trả 50.000.000 đồng vào tháng 12/2017 âm lịch lần trả này do ông đưa tiền cho
bà Nguyễn Thị V đem trả. Còn bà Giang Thị C thì cho rằng ông Hoàng Đức D
chỉ trả số tiền 50.000.000 đồng của khoản vay trước ngày 28/11/2016, thấy rằng:
[6] Ngoài giấy trả nợ ngày 29/7 âm lịch của bị đơn Hoàng Đức D đã trả
được 50.000.000 đồng thì Hoàng Đức D không xuất trình được các căn cứ, tài
liệu nào khác thể hiện đã trả thêm số tiền 50.000.000 đồng vào tháng 12/2017
âm lịch, do vậy kháng cáo của bị đơn Hoàng Đức D yêu cầu Tòa án bác khởi
kiện của nguyên đơn là không có căn cứ.
[7] Đối với yêu cầu của nguyên đơn, bà Giang Thị C yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm bác kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên phần quyết định của bản án
sơ thẩm buộc bị đơn phải trả toàn bộ nợ gốc là 100.000.000 đồng là không có cơ
sơ chấp nhận, vì tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại cấp phúc thẩm bà không đưa
ra được các căn cứ chứng minh bị đơn có vay tiền của bà nhiều lần trước ngày
28/11/2016 và khoản trả nợ 50.000.000 đồng vào ngày 29/7 âm lịch là của năm
2016 là của khoản vay trước đó, còn số tiền gốc 100.000.000 đồng bị đơn vẫn
chưa trả. Mặt khác, khi khởi kiện nguyên đơn không trình bày giữa hai bên có
việc vay nợ nhiều lần trước ngày 28/11/2016, mà chỉ sau khi bị đơn xuất trình
giấy nhận tiền ngày 29/7 âm thì nguyên đơn mới trình bày giữa hai bên có quan
hệ vay nợ nhiều lần. Tại phiên tòa bà cho rằng trước ngày 28/11/2016 ông
Hoàng Đức D vay của bà nhiều lần, mỗi lần vay bà đều ghi vào sổ nhưng người
vay không cần ký nhận và ngoài ông Hoàng Đức D vay ra còn có nhiều người
cũng vay tiền của bà. Nhưng tại phiên tòa hôm nay bà không xuất trình được các
chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu của mình nên Kháng nghị của Viện
Trưởng Viện kiểm sát huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ chấp nhận.
[8] Từ những phân tích nêu trên có căn cứ xác định ông Hoàng Đức D có
được vay bà Giang Thị C (D) số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 28/11/2016 âm
lịch và đã trả được số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 29/7/2017 âm lịch, đến nay
còn nợ 50.000.000 đồng chưa trả. Do vậy buộc ông Hoàng Đức D phải có trách
nhiệm trả số tiền còn nợ gốc còn lại là 50.000.000 đồng cho bà Giang Thị C.
[9] Mặt khác, bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu áp dụng thời hiệu
đối với khoản tiền lãi và bản án sơ thẩm chỉ tuyên đình chỉ đối với yêu cầu đòi
trả lãi suất của bà Giang Thị C mà không tuyên cụ thể số tiền nguyên đơn yêu
cầu trả lãi suất là bao nhiêu, cũng không nêu hậu quả pháp lý của việc đình chỉ
trong trường hợp này là chưa đầy đủ. Đồng thời, bản án sơ thẩm thẩm tuyên
9
đình chỉ yêu cầu về lãi suất nhưng không áp dụng quy định tại Điều 218 Bộ luật
Tố tụng dân sự về hậu quả của việc đình chỉ là thiếu căn cứ pháp luật.
[10] Do cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng
pháp luật chưa đây đủ, nên cần sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng đã phân
tích nêu trên.
[11] Do sửa bản án sơ thẩm về việc xác định lại bị đơn chỉ phải trả tiền nợ
gốc còn lại chưa trả là 50.000.000 đồng và không phải trả số tiền lãi xuất cụ thể,
nên cần xác định lại nghĩa vụ phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch, cụ thể: Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là
2.500.000 đồng Do yêu cầu khởi kiện của bà Giang Thị C (Giang Thị D) không
được chấp nhận số tiền 50.000.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch là 2.500.000 đồng nộ ngân sách Nhà nước; bị đơn ông Hoàng Đức D
không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm; .
[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn là có
căn cứ pháp lý và phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015. Sửa một phần của Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST, ngày
29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Huyện Hữu, tỉnh Lạng Sơn giữa nguyên
đơn bà Giang Thị C (Giang Thị D) và bị đơn ông Hoàng Đức D do người đại
diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Triệu Quang H, cụ thể như sau:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều
271, Điều 273 của Bộ luật Tố tu
̣
ng dân sư
̣
năm 2015.
Căn cứ vào Điề u 16, 19, 117, 118, 119, 120, 155, 429, 463, 465, 466, 688
của Bộ luật Dân sư
̣
năm 2015.
1. Đình chỉ đối với yêu cầu đòi trả lãi suất của bà Giang Thị C (Giang Thị
Dung) về phần yêu cầu trả lãi trên nợ gốc với số tiền 130.5000.000 đồng (một
trăm ba mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Bà Giang Thị C (Giang Thị D) không
có quyền khởi kiện lại về phần yêu cầu này.
2. Buộc bị đơn ông Hoàng Đức D có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà
Giang Thị C (Giang Thị D) số tiền vay gốc còn lại là 50.000.000 đồng (năm mươi
triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải chịu lãi
suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại
khoản 2 Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

10
3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
khoản 2, 3 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hoàng Đức D phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) để
nộp ngân sách Nhà nước. Bà Giang Thị C (Giang Thị D) phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) để
nộp ngân sách Nhà nước.
3.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hoàng Đức D không phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại ông
Hoàng Đức H 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004816, ngày 06/9/2024 tại Chi cục Thi hành
án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hiệu lực kháng cáo, kháng
nghị.
5. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thị Hoa Lương Thị Nguyệt
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vi Đức Trí
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 24/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 15/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm