Bản án số 116/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 116/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 116/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 116/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mai Văn U - Nguyễn Ngọc H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG THÁP Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 116/2025/DS-PT
Ngày: 17/3/2025
V/v Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất; Hợp đồng tín dụng;
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất;
Hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Nước
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Vạng
Ông Phạm Minh Tùng
Thư phiên tòa: Huỳnh Thị Ngọc Trang Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Tỉnh tham gia phiên tòa: Huỳnh
Thị Đạm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp,
tiến hành xét xử phúc thẩm ván dân sthụ s495/2024/TLPT-DS ngày 31
tháng 10 năm 2024, vviệc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất; Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất; Hợp đồng
vay tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 658/2024/QĐXXPT –
DS ngày 03/12/2024; Thông báo về việc dời ngày mở phiên tòa xét xử phúc
thẩm s731/TB-TA ngày 30/12/2024; Thông báo về thời gian mở lại phiên tòa
xét xử phúc thẩm số 31/TB-TA ngày 04/02/2025 quyết định hoãn phiên tòa
số 100/2025/QĐPT-DS ngày 20/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Mai Văn Ú, sinh năm 1973.
2. Đỗ Thị P, sinh năm 1976.
2
Cùng địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:
1. Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1988.
2. Dương Thị Ngọc H1, sinh năm 1987.
Người đại diện theo y quyền của chị H1: Nguyễn Ngọc H, sinh năm
1988 (Giấy ủy quyền ngày 10/7/2024).
Cùng địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng TMCP Q (V1).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng giám
đốc.
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) Tầng B, Tòa nhà S - A P, Phường B, Quận
A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Trần Thị Thu H2, chức vụ: Giám đốc
TTQLN NHBL1 VIB theo giấy y quyền số 006325123 ngày 27/01/2023 của
TGĐ Ngân hàng TMCP Q.
Địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P - số B, U, Phường B, quận B, thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền lại:
1.1. Thúy L - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q (V1); Điện thoại:
0939.831.890.
Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà PaxSky số 26, Ung Văn Khiêm, Phường 25,
quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
Chổ ở: Số 01-02, khu A2, TTTM phức hợp Cần Thơ center, khu V,
phường H, Quận C, thành phố Cần Thơ.
1.2. Phan Tấn Đ - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q (V1); Điện thoại:
0918.158.148.
1.3. Trần Minh P1 - Cán bNgân hàng TMCP Q (V1); Điện thoại:
0902.653.575.
1.4. Nguyễn Hoàng T - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q (V1).
Cùng địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P - số B, U, Phường B, quận B, thành phố
Hồ Chí Minh.
2. Mai Thanh G, sinh năm 2000.
3. Mai Thanh S, sinh năm 1997.
4. Trần Thị Ngọc Y, sinh năm 2001.
5. Trần Thị Ngọc H3, sinh năm 2020.
3
Người đại diện theo pháp luật của Trần Thị Ngọc H3: Chị Trần Thị Ngọc
Y và anh Mai Thanh S.
Cùng địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai tại phiên tòa nguyên đơn
ông Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P cùng trình bày:
Ngày 17/3/2021 anh H, chị H1 cho ông Ú, P vay s tiền
100.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay 02 năm kể từ ngày
17/3/2021. Để đảm bảo số tiền vay, hai bên có thỏa thuận làm hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu năm) (gọi tắt là: thửa 52); đất tọa lạc tại
T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng
ngày 17/3/2021 nhưng thực chất che dấu hợp đồng vay tài sản 100.000.000
đồng. Sau ngày 17/3/2021 ông Ú, P vay thêm của anh H nhiều lần, nhưng
không nhớ mấy lần, không nhớ ngày tháng vay nhưng tổng cộng số tiền vay
thêm 300.000.000 đồng, thỏa thuận miệng lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay 02
năm. Sau khi vay ông Ú, P đóng lãi đầy đủ mỗi tháng nhưng không nhớ
bao nhiêu, bên anh H, chị H1 cũng không làm biên nhận, xác nhận tiền lãi đóng
bao nhiêu.
Đến ngày 12/10/2021, anh H, chị H1 ông Ú, P thống nhất số tiền
vốn vay còn nợ 400.000.000 đồng. Đồng thời ông Ú anh H “Văn bản thỏa
thuận” ngày 12/10/2021 nội dung anh H sẽ chuyển nhượng lại cho ông Ú, P
thửa 52 với giá là 400.000.000 đồng.
Trên thửa 52, hiện nay căn nhà, cây trồng của ông Ú, P, các thành
viên trong gia đình ông Ú, bà P đang ở, quản lý sử dụng. Từ khi ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 17/3/2021 đến nay ông Ú, bà P các
thành viên trong gia đình vẫn ở, quản lý và sử dụng nhà đất cây trồng, còn anh H
chỉ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không quản lý, sử dụng
đất và căn nhà, cây trồng trên đất.
Khi đại diện Ngân hàng thẩm định đất (để nhận thế chấp), Đỗ Thị P
thấy một người (xưng cán bộ Ngân hàng) cùng với anh H đi xung quanh đất
nhà coi, chụp hình. P nói đất của ông Ú, P chỉ thế chấp, cầm cố
vay tiền của anh H. Sau khi coi xong cán bộ Ngân hàng đi vnên ông Ú, P
không biết Ngân hàng cho anh H vay nhận thế chấp thửa 52 hay không.
Hiện nay, ngoài thửa 52 này ông Ú, P không còn thửa đất nào khác để nên
ông Ú, bà P yêu cầu như sau:
- Yêu cầu hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày
17/3/2021 giữa bên chuyển nhượng ông Mai Văn Ú, Đỗ Thị P với bên nhận
chuyển nhượng anh Nguyễn Ngọc H.
- Yêu cầu hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 07/9/2022,
giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q Chi nhánh Đ1 Phòng G1 (gọi tắt là:
Ngân hàng) và anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1.
4
- Ông Ú, P chđồng ý trả cho anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị
Ngọc H1 n vay 550.000.000 đồng (vốn vay 400.000.000 đồng, tiền lãi
150.000.000 đồng).
- Ông Ú, P không đồng ý trả cho anh H, chị H1 số tiền 830.000.000
đồng (vốn vay 510.000.000 đồng, tiền lãi 320.000.000 đồng) như anh H yêu cầu.
Theo đơn yêu cầu phản tố, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, bị đơn
đồng thời đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Dương Thị Ngọc H1
anh Nguyễn Ngọc H trình bày:
Anh H, chị H1 cho ông Ú, bà P vay tiền nhiều lần số tiền vay tổng cộng là
560.000.000 đồng (số tiền cho vay tài sản chung của anh H, chị H1). Cụ thể:
Ngày 17/3/2021, cho vay số tiền 100.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất
3%/tháng, thời hạn vay 02 năm ktừ ngày 17/3/2021. Sau ngày 17/3/2021, anh
H chị H1 cho ông Ú, P vay thêm nhiều lần (không nhớ mấy lần) tổng cộng
300.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, thời hạn 02 năm, tính đến ngày
12/10/2021, anh H, ch H1 cho ông Ú, P vay vốn tổng cộng 400.000.000
đồng. Ngày 12/10/2021, hai bên thống nhất nợ vay tổng cộng 400.000.000 đồng,
đồng thời ông Ú anh H “Văn bản thỏa thuận” ngày 12/10/2021 nội dung
anh H đồng ý sẽ chuyển nhượng lại cho ông Ú, bà P thửa 52 với giá là
400.000.000 đồng trong thời hạn 02 năm. Từ khi vay tiền cho đến nay ông Ú, bà
P không đóng lãi cho anh H, chị H1.
Tại phiên tòa, anh H thừa nhận ông Ú anh H cũng thêm 01 Văn
bản thỏa thuận” ngày 12/10/2021 nội dung anh H đồng ý sẽ chuyển nhượng lại
cho ông Ú, bà P thửa 52 với giá là 450.000.000 đồng trong thời hạn 02 năm ch
không phải 400.000.000 đồng, do ghi 450.000.000 đồng do anh H cộng
thêm 50.000.000 đồng tiền lãi ông Ú, P không đóng lãi. Sau khi văn bản
thỏa thuận ngày 12/10/2021 (thỏa thuận chuyển nhượng lại đất giá 450.000.000
đồng) thì ông Ú, P tiếp tục vay thêm 04 lần tổng cộng 110.000.000 đồng (cụ
thể: ngày 12/10/2021 nhận 20.000.000 đồng, ngày 12/11/2021 nhận 20.000.00
đồng, ngày 16/11/2021 nhận 20.000.000 đồng, ngày 30/11/2021 nhận
50.000.000 đồng).
Để đảm bảo cho việc trả nợ vay, ông Ú, bà P ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sdụng đất công chứng ngày 17/3/2021 nội dung ông Ú, P chuyển
nhượng cho anh Nguyễn Ngọc H quyền sử dụng đất tại thửa 52, ghi giá chuyển
nhượng 100.000.000 đồng, nhưng thực tế hợp đồng chuyển nhượng y chỉ
đảm bảo việc ông Ú, bà P trả nợ vay cho anh H, chị H1.
Sau khi anh H đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 52, anh
H, chị H1 làm thủ tục vay của Ngân hàng số tiền 900.000.000 đồng theo hợp
đồng tín dụng số 7680914.22 ngày 22/8/2022 giữa Ngân hàng với anh Nguyễn
Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1. Để đảm bảo khoản vay anh H, chị H1
hợp đồng thế chấp thửa 52, công chứng ngày 07/9/2022 với Ngân hàng.
Sau khi vay tiền Ngân hàng anh H, chị H1 có trả cho Ngân hàng một phần
nợ gốc 60.000.000 đồng, trả lãi được 89.869.931 đồng thì ngưng không trả
vốn, cũng không trả lãi do anh H, chị H1 hết khả năng trả. Anh H, chị H1 đồng
ý tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền vốn vay còn lại 840.000.000 đồng và lãi
5
suất theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã kết cho đến khi xong khoản
nợ.
Anh H, chị H1 không đồng ý hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng ngày 17/3/2021 giữa bên chuyển nhượng ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P với
bên nhận chuyển nhượng anh Nguyễn Ngọc H.
Anh H, chị H1 không đồng ý hiệu hợp đồng thế chấp quyền sdụng
ngày 07/9/2022 giữa Ngân hàng anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc
H1.
Anh H, chị H1 yêu cầu ông Ú, P liên đới trả nvay 830.000.000 đồng
(vốn vay 510.000.000 đồng, tiền lãi 320.000.000 đồng) cho anh H, chị H1.
Theo biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa những người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) ủy quyền cho anh Phan Tấn
Đ trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) cho anh Nguyễn Ngọc H, chị
Dương Thị Ngọc H1 vay số tiền 900.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số
7680914.22 ngày 22/8/2022. Để đảm bảo khoản vay anh H, chị H1 thế chấp cho
Ngân hàng thửa 52 theo hợp đồng thế chấp ngày 07/9/2022. Sau khi giải ngân
xong, thì anh H, chị H1 chỉ trả một phần ngốc là 60.000.000 đồng thì ngưng
đến nay. Hiện nay anh H, T1 còn nợ s952.643.316 (trong đó vốn vay
840.000.000 đồng, lãi 112.643.316 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày
22/4/2024).
Ngân hàng yêu cầu anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 liên đới
trả cho Ngân hàng số tiền vốn vay lãi tổng cộng 952.643.316 (trong đó vốn
vay 840.000.000 đồng, lãi 112.643.316 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày
22/4/2024) và tiếp tục trả lãi từ ngày 23/4/2024 cho đến khi anh H, chị H1 trả
xong khoản nợ, lãi suất tính theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Ngân hàng yêu cầu xử tài sản thế chấp thửa đất 52, tờ bản đồ số 55,
diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại:
T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày
07/9/2022. Ngân hàng không đồng ý hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất thửa đất số 52 ngày 07/9/2022.
2. Anh Mai Thanh G trình bày:
Anh G thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày của ông Mai Văn Ú, Đỗ Thị
P, anh G không có ý kiến bổ sung gì thêm.
3. Anh Mai Thanh S, Trần Thị Ngọc Y vắng mặt có đơn xin xét xử vắng
mặt ngày 31/7/2024, anh S, chị Y thống nhất ý kiến ông Ú, bà P và không có ý
kiến, yêu cầu gì khác.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện Châu Thành đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn ÚĐỗ
Thị P về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vô
hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
6
1.1. hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 741, quyển
số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD công chứng ngày 17/3/2021, đối với thửa đất số
52, tờ bản đ số 55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu
năm); đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, giữa ông Mai Văn Ú, bà Đỗ
Thị P (bên chuyển nhượng) và anh Nguyễn Ngọc H (bên nhận chuyển nhượng).
1.2. hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2118847.22.662
công chứng ngày 07/9/2022 đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích
970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại T, huyện
C, tỉnh Đồng Tháp, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q (bên nhận thế chấp)
và anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 (bên thế chấp).
2. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Q về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Q về tranh chấp
hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
2.1. Buộc anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 liên đới trả cho
Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền vốn vay lãi tổng cộng
952.643.316 (trong đó vốn vay 840.000.000 đồng, lãi 112.643.316 đồng,
tiền lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024) tiếp tục trả lãi từ ngày 23/4/2024 cho
đến khi anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 trả xong khoản nợ theo
hợp đồng tín dụng đã ký kết.
2.2. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Q về
việc yêu cầu xử tài sản thế chấp thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích
970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại: xã T, huyện
C, tỉnh Đồng Tháp theo hợp đồng thế chấp số 2118847.22.662 ngày 07/9/2022.
3. Ông Mai Văn Ú, Đỗ Thị P được quyền đến quan nhà nước có
thẩm quyền để kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật.
Đề nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số bìa CY 633042, Svào sổ cấp giấy GCN: CH09121 ngày cấp 05/02/2021
đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất
trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Có điều chỉnh
nội dung chuyển nhượng cho anh Nguyễn Ngọc H ngày 30/3/2021 để cấp lại
cho ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P theo quy định của pháp luật.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị
Ngọc H1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
4.1. Buộc ông Mai Văn Ú Đỗ Thị P liên đới trả cho anh Nguyễn
Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1 số tiền vốn vay lãi tổng cộng
625.760.000 đồng (trong đó vốn vay là 400.000.000 đồng, tiền lãi
225.760.000 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định
7
của pháp luật; nếu không thỏa thuận vmức lãi suất thì quyết định theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4.2. Không chấp nhận yêu cầu của anh H đối với số tiền vốn vay lãi
tổng cộng 204.240.000 đồng (trong đó số vốn 110.000.000 đồng, tiền lãi
94.240.000 đồng).
(Kèm theo Bản án Sơ đồ đo đạc ngày 15/04/2024 của Chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai huyện C; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản
định giá tài sản ngày 24/01/2024).
5. Về án phí:
5.1. Anh Nguyễn Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1 phải liên đới chịu
51.391.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn
Ngọc H và chị Dương Thị Ngọc H1 đã nộp 13.200.000 đồng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, l phí Tòa án s 0013451 ngày 31/7/2024 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Châu Thành được trừ vào án phí phải nộp. Anh Nguyễn Ngọc
H chị Dương Thị Ngọc H1 phải liên đới nộp tiếp số tiền án phí dân sự
thẩm còn lại 38.191.000 đồng.
5.2. Ông Mai Văn Ú Đỗ Thị P phải liên đới chịu 29.030.400 đồng
tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí ông Mai Văn Ú Đỗ Thị
P đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002068 ngày 14/11/2023 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, được trừ vào án phí phải nộp. Ông
Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P còn phải liên đới nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm
còn lại 28.730.400 đồng.
5.4. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) tiền tạm ứng
án phí đã nộp 19.609.000 đồng theo biên lai thu số 0002141 ngày 15/01/2024
của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
6. Về chi phí tố tụng khác:
6.1. Ông Mai Văn Ú Đỗ Thị P phải liên đới chịu 1.164.400 đồng.
Số tiền tạm ứng chi phí tố tụng ông Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P đã nộp 3.494.000
đồng được trừ vào chi phí tố tụng ông Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P phải chịu (ông
Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P đã nộp và chi xong).
6.2. Anh Nguyễn Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1 phải liên đới trả lại
cho ông Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P số tiền 1.164.500 đồng.
6.3. Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) phải trả lại cho ông Mai Văn
Ú và bà Đỗ Thị P số tiền 1.164.500 đồng
Ngày 22/8/2024, anh Nguyễn Ngọc H và chị Dương Thị Ngọc H1 kháng
cáo một phần bản án sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2024,
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đề nghị Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng:
8
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Mai Văn Ú, Đỗ Thị P vviệc yêu
cầu hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất.
- Hủy bỏ nội dung: Ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P được quyền đến cơ quan
nhà nước thẩm quyền để khai, đăng để được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đề nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số bìa CY 633042, Số vào sổ cấp giấy GCN: CH09121 ngày cấp 05/02/2021
đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích 970m² (400m² đất ở, 570m² đất
trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Có điều chỉnh
nội dung chuyển nhượng cho anh Nguyễn Ngọc H ngày 30/3/2021 để cấp lại
cho ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P theo quy định của pháp luật.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng vay tài
sản, buộc ông Mai Văn Ú bà Đỗ Thị P liên đới trả cho anh Nguyễn Ngọc H
chị Dương Thị Ngọc H1 số tiền vốn vay lãi tổng cộng 830.000.000 đồng
(trong đó vốn vay là 510.000.000 đồng, tiền lãi là 320.000.000 đồng).
Ngày 22/8/2024 Ngân hàng TMCP Q (V1) kháng cáo yêu cầu sửa một
phần bản án dân sự thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 10/8/2024 của Tòa án
nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1)
trong trường hợp anh Nguyễn Ngọc H chDương Thị Ngọc H1 không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ
phần Q (V1), thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) quyền yêu cầu
quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện
tích 970m² thửa đất số 52, tbản đồ số 55 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền shữu nhà và tài sản gắn liền với đất ngày 05/02/2021, cấp nhận
chuyển nhượng cho anh Nguyễn Ngọc H ngày 30/3/2021, để thu hồi nợ vay.
Ti phiên tòa phúc thm:
Ngân hàng TMCP Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 kháng cáo một phần bản
án thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2024, của Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp nhưng anh, chị đã được Tòa án tống đạt hợp
lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt.
Đại din Viện Kiểm sát nhân dân tnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
V vic tuân theo pháp lut t tng
9
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực
hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm
pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ việc để xét xử phúc thẩm đến trước thời
điểm nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư
ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định
Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự xét xử phúc thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy
định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
V vic gii quyết v án:
Ngày 17/3/2021 ông Mai Văn Ú, Đỗ Thị P vay của anh Nguyễn
Ngọc H số tiền 100.000.000đ, việc vay tiền không làm giấy tờ, không thỏa thuận
lãi suất. Tuy nhiên, hai bên thỏa thuận làm hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở,
570m
2
đất trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp,
hợp đồng đã được công chứng ngày 17/3/2021 tại văn phòng C nhưng thực chất
là che giấu hợp đồng vay tài sản 100.000.000đ. Ngày 30/3/2021 anh H được cấp
giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Sau đó ông Ú, P đã nhiều lần vay thêm
tiền của anh H, đến ngày 12/10/2021 số tiền vay thêm 300.000.00 cũng
không làm giấy tnên làm tthỏa thuận cho ông Ú, bà P chuyển nhượng lại
(chuộc lại) thửa đất số 52 với giá 400.000.000đ (trong đó 100.000.000đ vay
ngày 17/3/2021 và 300.000.000đ vay nhiều lần đến ngày 12/10/2021). Trên thửa
đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích 970m
2
căn nhà và cây trồng của ông Ú,
P vẫn do ông Ú, P đang quản lý, sdụng. Đến ngày 07/9/2022 anh H, chị
H1 đem thế chấp thửa đất số 52, tbản đồ s55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở,
570m
2
đất trồng cây lâu năm) cho Ngân hàng TMCP Q-Chi nhánh S1 để vay số
tiền 900.000.000đ.
Theo ông Ú, P xác định: khi Ngân hàng thẩm định thì P thấy một
người có đi xung quanh đất và vô nhà cùng với anh H chụp hình, nhưng bà P nói
đất của ông Ú, P chỉ thế chấp vay tiền của anh H. phải ông Ú không
biết anh H thế chấp thửa đất số 52 để vay tiền tại Ngân hàng, đến ngày
14/9/2023 thì ông Ú, P nhận được thông báo của Ngân hàng vviệc xử tài
sản nợ qúa hạn nên ông Ú, P khởi kiện. Ông Ú, bà P yêu cầu hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 741, quyển số 01/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 17/3/2021 giữa ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P với anh Nguyễn
Ngọc H, đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ s55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở,
570m
2
đất trồng cây lâu năm) đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Yêu
cầu hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2118847.22.662 ngày
10
07/9/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q với anh Nguyễn Ngọc H, chị
Dương Thị Ngọc H1 đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu năm) đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh
Đồng Tháp. Ông Ú, P đồng ý trả số tiền vốn vay 400.000.000đ lãi
150.000.000đ cho anh H, chị H1.
Ngân hàng TMCP Q yêu cầu anh H, chị H1 trả vốn vay 900.000.000đ
lãi theo hợp đồng tín dụng, công nhận hợp đồng thế chấp để Ngân hàng xử
nợ.
Anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 yêu cầu ông Ú, P trả số
tiền vay 830.000.000đ lãi suất 3% tháng (trong đó vốn vay 510.000.000đ
và tiền lãi 320.000.000đ).
Bản án thẩm tuyên: hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Ú, P
với anh H là vô hiệu; buộc ông Ú, P trả cho anh H, chị H1 số tiền vay vốn lãi
625.760.000đ tính lãi tiếp. hiệu hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng
TMCP Q với anh H, chH1; buộc anh H, chị H1 trả cho Ngân hàng TMCP Q số
tiền vay vốn lãi là 952.643.316đ và tính lãi tiếp.
Ngân hàng TMCP Q kháng cáo yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp.
Anh Nguyễn Ngọc H và chị H1 kháng cáo yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ, hợp đồng thế chấp; tuy nhiên anh H được triệu tập hợp lệ 02 lần
nhưng vắng mặt không có lý do.
Xét thấy, Đối với kháng cáo của anh Nguyễn Ngọc H và chị H1: anh H và
chị H1 đã được triệu tập hợp l02 lần nhưng vắng mặt không do, căn cứ
Khoản 5 Điều 308 BLTTDS đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của anh H, chị
H1.
Đối với kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q yêu cầu công nhận hợp đồng
thế chấp không phù hợp. Bởi khi Ngân hàng TMCP Q nhận thế chấp QSDĐ
nhưng khi thẩm định thực tế phần đất thế chấp đã phát hiện đất do ông Ú, P
đang sdụng nhưng không làm ý kiến của ông Ú, P. Tại phiên tòa phúc
thẩm đại diện cho Ngân hàng trình bày do tin tưởng anh H, chị H1 nói rằng
cho ông Ú, P thuê (cho nhờ) nên không làm đối với bên ông Ú, bà P.
Như vậy, phía Ngân hàng TMCP Q không phải là người thứ ba ngay tình được
bảo vệ đối với hợp đồng thế chấp, nên không chấp nhận kháng cáo của Ngân
hàng TMCP Q.
Từ phân tích nêu trên nhận thấy, Bản án thẩm s50/2024/DS-ST ngày
10/8/2024 của Tòa án ND huyện Châu Thành tuyên là phù hợp theo quy định.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được xem
xét tại phiên toà và li phát biu ca kim sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
11
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Anh Nguyễn Ngọc H, ch Dương Thị Ngọc H1, Ngân hàng TMCP Q
kháng cáo trong hạn luật định hợp pháp. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm thụ
xét xử theo trình tự phúc thẩm đúng với Điều 273, 293 Bộ luật tố dân sự năm
2015.
[2]. Anh Nguyễn Ngọc H bị đơn chị Dương Thị Ngọc H1 người
quyền lợi nghĩa v liên quan kháng cáo một phần bản án thẩm số:
50/2024/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Châu
Thành, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Mai Văn Ú, Đỗ Thị P về việc yêu
cầu hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất.
Hủy bỏ nội dung: Ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P được quyền đến quan
nhà nước thẩm quyền để khai, đăng để được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đề nghị cơ quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sdụng
đất số bìa CY 633042, Số vào sổ cấp giấy GCN: CH09121 ngày cấp 05/02/2021
đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích 970m² (400m² đất ở, 570m² đất
trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Có điều chỉnh
nội dung chuyển nhượng cho anh Nguyễn Ngọc H ngày 30/3/2021 để cấp lại
cho ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P theo quy định của pháp luật.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng vay tài
sản, buộc ông Mai Văn Ú bà Đỗ Thị P liên đới trả cho anh Nguyễn Ngọc H
chị Dương Thị Ngọc H1 số tiền vốn vay lãi tổng cộng 830.000.000 đồng
(trong đó vốn vay là 510.000.000 đồng, tiền lãi là 320.000.000 đồng).
Tuy nhiên, anh Nguyễn Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1 đã được Tòa
án tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 vẫn vắng mặt không do được xem anh
chị đã từ bỏ yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm
đối với yêu cầu kháng cáo của anh, chị.
[3]. Ngân hàng TMCP Q (V1) kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án
dân sự thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 10/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1)
trong trường hợp anh Nguyễn Ngọc H chDương Thị Ngọc H1 không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ
phần Q (V1), thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) quyền yêu cầu
quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện
12
tích 970m² thửa đất số 52, tbản đồ số 55 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền shữu nhà và i sản gắn liền với đất ngày 05/02/2021, cấp nhận
chuyển nhượng cho anh Nguyễn Ngọc H ngày 30/3/2021, để thu hồi nợ vay.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Ú, bà P thừa nhận có vay của anh H, bà H1
tổng cộng 400.000.000 đồng (trong đó ngày 17/3/2021 vay 100.000.000 đồng,
sau đó vay nhiều lần tổng cộng 300.000.000 đồng tính đến ngày 12/10/2021.
Nhằm đảo bảo cho số tiền vay ngày 17/3/2021 ông Ú, P ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây
lâu năm) tại thửa đất số 52, tbản đsố 55. Anh H, chị H1 cũng thừa nhận
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giả tạo nhằm để che giấu hợp đồng vay tiền
giữa anh H, chị H1 với ông Ú, P. Tại Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015
quy định: Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu
một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân
sự bị che giấu vẫn hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng hiệu theo
quy định của Bộ luật này hoặc luật khác liên quan. Giao dịch dân sự bị che
dấu hợp đồng vay tài sản. Từ căn cứ trên xác định Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 17/3/2021 được giữa ông Ú, P với anh H, chị H1
là vô hiệu. Do hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu nên ông Mai Văn Ú, Đỗ Thị
P được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký để được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp
thẩm xđề nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số bìa CY 633042, Số vào sổ cấp giấy GCN: CH09121 ngày cấp
05/02/2021 đối với thửa đất số 52, tờ bản đsố 55, diện tích 970m² (400m² đất
ở, 570m² đất trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
điều chỉnh nội dung chuyển nhượng cho anh Nguyễn Ngọc H ngày
30/3/2021 để cấp lại cho ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P theo quy định của pháp
luật là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật.
Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng ngày
17/3/2021 bị hiệu, thửa đất số 52 không đủ điều kiện để thế chấp theo quy
định pháp luật. Do đó, hợp đồng hợp chấp ngày 07/9/2022 giữa anh H, chị H1
Ngân hàng đối với thửa đất số 52 hiệu. Đồng thời, khi thẩm định Ngân
hàng cũng biết được gia đình ông Ú, bà P đang quản sử dụng, nhưng không
hỏi rõ lý do ông Ú, bà P ở trên đất không lập biên bản ông Ú, P có đồng ý
thế chấp hay không nên không đủ điều kiện để xác định Ngân hàng là người thứ
ba ngay tình. Ngân hàng yêu cầu xử tài sản thế chấp thửa đất số 52 không
căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ngân
hàng như đã nhận định trên.
[4]. Từ những phân tích trên Hội đồng xét x phúc thm xét thy bn án
dân sthm s 50/2024/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân
dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đã xcăn cứ, phù hợp với quy định
13
pháp luật nên giữ nguyên.
[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề nghị Hội đồng
xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn
Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
Ngân hàng TMCP Q; giữ nguyên bn án dân s thẩm s 50/2024/DS-ST
ngày 10 tháng 8 m 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng
Tháp là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên chấp nhận như đã nhận định trên.
[6]. V án phí dân s phúc thm:
Do đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn
Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1 nên anh H, chị H1 phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q không được chấp nhận
nên Ngân hàng TMCP Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại
khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
[7]. Các phn khác ca bn án dân s thẩm s 50/2024/DS-ST ngày 10
tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
không có kháng cáo, kháng ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn
kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 5 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy Ban T2 quy định
về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cu kháng cáo ca anh Nguyễn
Ngọc H và chị Dương Thị Ngọc H1
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q.
3. Giữ nguyên bản án dân s sơ thẩm s 50/2024/DS-ST ngày 10 tháng 8
năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
3. 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn Ú
Đỗ Thị P về việc yêu cầu hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
14
và vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
3.2. hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 741, quyển
số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD công chứng ngày 17/3/2021, đối với thửa đất số
52, tờ bản đ số 55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu
năm); đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, giữa ông Mai Văn Ú, bà Đỗ
Thị P (bên chuyển nhượng) và anh Nguyễn Ngọc H (bên nhận chuyển nhượng).
3.3. hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2118847.22.662
công chứng ngày 07/9/2022 đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích
970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại T, huyện
C, tỉnh Đồng Tháp, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q (bên nhận thế chấp)
và anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 (bên thế chấp).
4. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Q về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Q về tranh chấp
hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
4.1. Buộc anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 liên đới trả cho
Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền vốn vay lãi tổng cộng
952.643.316 (trong đó vốn vay 840.000.000 đồng, lãi 112.643.316 đồng,
tiền lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024) tiếp tục trả lãi từ ngày 23/4/2024 cho
đến khi anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị Ngọc H1 trả xong khoản nợ theo
hợp đồng tín dụng đã ký kết.
4.2. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Q về
việc yêu cầu xử tài sản thế chấp thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích
970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại: xã T, huyện
C, tỉnh Đồng Tháp theo hợp đồng thế chấp số 2118847.22.662 ngày 07/9/2022.
5. Ông Mai Văn Ú, Đỗ Thị P được quyền đến quan nhà nước
thẩm quyền để kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật.
Đề nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số bìa CY 633042, Số vào sổ cấp giấy GCN: CH09121 ngày cấp 05/02/2021
đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số 55, diện tích 970m
2
(400m
2
đất ở, 570m
2
đất
trồng cây lâu năm); đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Có điều chỉnh
nội dung chuyển nhượng cho anh Nguyễn Ngọc H ngày 30/3/2021 để cấp lại
cho ông Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P theo quy định của pháp luật.
15
6. Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Ngọc H, chị Dương Thị
Ngọc H1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
6.1. Buộc ông Mai Văn Ú Đỗ Thị P liên đới trả cho anh Nguyễn
Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1 số tiền vốn vay lãi tổng cộng
625.760.000 đồng (trong đó vốn vay là 400.000.000 đồng, tiền lãi
225.760.000 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định
của pháp luật; nếu không thỏa thuận vmức lãi suất thì quyết định theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6.2. Không chấp nhận yêu cầu của anh H đối với số tiền vốn vay lãi
tổng cộng 204.240.000 đồng (trong đó số vốn 110.000.000 đồng, tiền lãi
94.240.000 đồng).
(Kèm theo Bản án đồ đo đạc ngày 15/04/2024 của Chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai huyện C; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Biên bản
định giá tài sản ngày 24/01/2024).
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
7.1. Anh Nguyễn Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1 phải liên đới chịu
51.391.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn
Ngọc H và chị Dương Thị Ngọc H1 đã nộp 13.200.000 đồng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, l phí Tòa án s 0013451 ngày 31/7/2024 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Châu Thành được trừ vào án phí phải nộp. Anh Nguyễn Ngọc
H chị Dương Thị Ngọc H1 phải liên đới nộp tiếp số tiền án phí dân sự
thẩm còn lại 38.191.000 đồng.
7.2. Ông Mai Văn Ú Đỗ Thị P phải liên đới chịu 29.030.400 đồng
tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí ông Mai Văn Ú Đỗ Thị
P đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu s0002068 ngày 14/11/2023 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, được trừ vào án phí phải nộp. Ông
Mai Văn Ú, bà Đỗ Thị P còn phải liên đới nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm
còn lại 28.730.400 đồng.
7.3. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) tiền tạm ứng
16
án phí đã nộp 19.609.000 đồng theo biên lai thu số 0002141 ngày 15/01/2024
của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
8. Về chi phí tố tụng khác:
8.1. Ông Mai Văn Ú Đỗ Thị P phải liên đới chịu 1.164.400 đồng.
Số tiền tạm ứng chi phí tố tụng ông Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P đã nộp 3.494.000
đồng được trừ vào chi phí tố tụng ông Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P phải chịu (ông
Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P đã nộp và chi xong).
8.2. Anh Nguyễn Ngọc H chị Dương Thị Ngọc H1 phải liên đới trả lại
cho ông Mai Văn Ú và bà Đỗ Thị P số tiền 1.164.500 đồng.
8.3. Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) phải trả lại cho ông Mai Văn
Ú và bà Đỗ Thị P số tiền 1.164.500 đồng
9. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Ngọc H chị Dương Thị
Ngọc H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân s phúc thẩm nhưng được khấu trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã np theo biên lai thu s 0013486 ngày 22
tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân s huyện Châu Thành, tỉnh
Đồng Tháp.
Ngân hàng TMCP Q (V1) phải chịu 300.000 đồng án phí dân s phúc
thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã np theo biên
lai thu s 0013493 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Chi cc Thi hành án dân s
huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
10. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sa đi, b sung năm 2014 thì người được thi
hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân ssa đổi, b sung năm
2014; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự sửa đổi b sung năm 2014.
11. Các phn khác ca bn án dân s thẩm s 50/2024/DS-ST ngày 10
tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
không có kháng cáo, kháng ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn
kháng cáo, kháng ngh.
12. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
17
Nơi nhận:
- Phòng TT-KT và THA TAT;
- VKSND Tỉnh;
- TAND huyện Châu Thành;
- Chi Cục THADS huyện Châu Thành;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS (Trang).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký tên đóng dấu
Lê Hng Nưc
Tải về
Bản án số 116/2025/DS-PT Bản án số 116/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 116/2025/DS-PT Bản án số 116/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất