Bản án số 26/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TAND tỉnh Hải Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 26/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TAND tỉnh Hải Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 26/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị S khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Đồng Văn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 26/2025/DS-PT
Ngày: 11 - 3 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Phạm Anh Tuyết, bà Phạm Thúy Hằng
- Thư phiên toà: Thị Mai Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét
xử phúc thẩm công khai ván dân sự thsố 127/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng
11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; do Bản án dân sự sơ thẩm số
35/2024/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Chí
Linh, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc
thẩm số 25/2025/QĐXX-PT ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị S, sinh năm 1963; địa chỉ: Số nhà F đường
K, KDC T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Hoàng T - Văn phòng L anh em, Đoàn luật thành phố H; địa chỉ: Số A Đ,
phường L, quận B, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Bị đơn:
1. Ông Đồng Văn T1, sinh năm 1952 Nguyễn Thị T2, sinh năm 1955;
địa chỉ: KDC K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt, văn bản
ủy quyền cho chị Đồng Thị H tham gia tố tụng.
2. Chị Đồng Thị H, sinh năm 1982; nơi đăng thường trú: KDC K,
phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện nay: Số A, phường P, thành
phố L, tỉnh Lào Cai; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn Đồng Thị H: Luật
Đinh Thị N - Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
- Người kháng cáo: c bị đơn Đồng Văn T1, Nguyễn Thị T2Đồng Thị
H.
2
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn Nguyễn Thị S trình bày: Từ ngày 13/9/2016 đến ngày
04/12/2017 S cho vợ chồng ông Đồng Văn T1, bà Nguyễn Thị T2 vay nhiều
lần tổng số tiền 11.175.000.000đồng, không thời hạn không lãi. Đến
cuối năm 2017 S đã nhiều lần yêu cầu ông T1 T2 trả nợ nhưng vợ chồng
ông T1 T2 không trả, cố ý lẩn tránh, chây nghĩa vụ trả nợ. Tại Đơn khởi kiện
ngày 23/3/2024, bà S khởi kiện yêu cầu ông T1 T2 phải trả nợ số tiền gốc
là 11.175.000.000đồng và tiền lãi tính đến ngày 14/7/2023. Tại đơn khởi kiện bổ
sung ngày 12/4/2024 và Bản tự khai ngày 06/5/2024, bà S khởi kiện bổ sung chị
Đồng Thị H (con gái ông T1 bà T2) là đồng bị đơn vay của số tiền
1.000.000.000đồng thông qua 02 giao dịch chuyển khoản qua ngân hàng. Yêu cầu
Tòa án buộc ông T1, bà T2 chị H phải trả nợ số tiền 12.175.000.000đồng.
Tại phiên đối chất hòa giải S thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện: Rút
không yêu cầu trả số tiền 500.000.000đồng chuyển khoản qua tài khoản chị Đinh
Thị H1 ngày 01/5/2017. Yêu cầu ông T1, T2 và chị H phải trả số tiền
10.525.000.000đồng. Trong đó, của chị H 765.000.000đồng, của ông T1 T2
là 9.760.000.000đồng.
2. Ý kiến của bị đơn Đồng Văn T1, Nguyễn Thị T2: Tại Bản tự khai ngày
30/7/2024, ông T1 và bà T2 trình bày: Ngày 13/9/2016 do thiếu vốn kinh doanh
nên ông T1 T2 vay của S số tiền 1.000.000.000đồng, lãi suất
3.000đồng/01 triệu đồng/ngày. Sau đó vì lãi cao, kinh doanh không hiệu quả nên
ông T1 T2 đã trả hết tiền cho S. Do S tính lãi ngày, lãi mẹ đẻ lãi con từng
ngày từng tháng và bắt ông bà phải trả, khi không có tiền trả thì bà S yêu cầu ghi
giấy nrồi S cộng dồn gốc lãi, những tờ giấy ông viết trước đã tin tưởng
không đi S cộng dồn tờ trước tờ sau để thành tổng số tiền khởi kiện
cao như hiện nay trong khi ông đã trả hết tiền gốc lãi. Do vậy, ông T1,
T2 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà sinh. Tại Bản tự khai ngày
23/8/2024 ông T1 T2 trình bày bổ sung: Năm 2016 ông T1 T2 vay
của S số tiền 2.400.000.000đồng với lãi suất 3.000đồng/01 triệu đồng/ngày;
ngày 13/6/2016 hai bên chốt nợ gốc lãi là 2.724.000.000đồng, trong đó tiền lãi là
324.000.000đồng, ông T1 T2 đã thu xếp và trả ngay được 1.224.000.000đồng,
còn nợ lại 1.500.000.000đồng; bà S yêu cầu viết giấy nợ 1.000.000.000đồng còn
500.000.000đồng không phải viết giấy nợ hẹn miệng đến ngày 14/9/2016 phải
trả nhưng đến ngày đó ông T1, bà T2 không trả được nên S lại yêu cầu ông bà
viết giấy nhận nợ 500.000.000đồng vào ngày 14/9/2016. Đến ngày 26/9/2016 bà
S chốt tiền gốc lãi 1.563.000.000đồng, ông đã trả 63.000.000đồng tiền lãi,
S yêu cầu viết giấy nợ 1.000.000.000đồng còn 500.000.000đồng không phải
viết giấy hẹn miệng đến ngày 27/9/2016 trả nhưng đến ngày 27/9/2016 không
tiền trả thì S lại yêu cầu viết giấy nhận nợ số tiền 1.5000.000.000đồng.
Đến ngày 29/9/2016 30/9/2016 S nói vay hộ tạm số tiền 200.000.000đồng
và 700.000.000đồng yêu cầu ông đến viết 02 giấy theo số tiền trên... cũng như
các giấy vay tiền sau này ông bà viết và ký theo yêu cầu của bà S.
3
3. Ý kiến của bị đơn Đồng Thị H: Tại Bản tự khai ngày 31/7/2024, bị đơn
chị Đồng Thị H trình bày: Ngày 21/7/2017 chị H vay của S số tiền
235.000.000đồng với lãi suất cao 4.000đồng/01 triệu đồng/ngày. Sau đó chị đã trả
cho S cả tiền gốc lãi. Do tin tưởng nên chị không lấy giấy vay nợ về nên
nay S khởi kiện chị là không căn cứ. Tại phiên đối chất hòa giải chị H
không thừa nhận khoản vay 15/9/2017, ngày 10/8/2017, ngày 25/10/2017.
4. Tại phiên tòa sơ thẩm:
Phía nguyên đơn trình bày: Xác định tổng số tiền S cho ông T1 T2
chị H vay 11.675.000.000đồng, toàn bộ số tiền này chị H người thụ hưởng
cũng như đã trả được số tiền 1.395.000.000đồng nên đối trừ ông T1, T2 chị
H liên đới trả cho S số tiền 10.280.000.000đồng. Đối với số tiền
50.000.000đồng như tài liệu tin nhắn chị H cung cấp tại phiên tòa không chấp
nhận đó chỉ là tin nhắn một phía của chị H, không xác nhận của S và
không có tài liệu chứng minh đã chuyển số tiền này.
Phía bị đơn đơn: Cung cấp 05 tờ sao kê thể hiện chị H đã chuyển cho bà S
số tiền 45.000.000đồng và 01 tờ bản chụp màn hình điện thoại của chị H nhắn tin
việc chị H chuyển 50.000.000đồng vào tài khoản B của S. Xác định tổng số
tiền bà S yêu cầu chị H trả thì chỉ có 735.000.000đồng căn cứ chị H vay, còn
lại của ông T1 T2. Đối trừ số tiền chị H đã trả qua các tài liệu đã tại hồ
sơ thì chị H chỉ còn nợ bà S số tiền 340.000.000đ, còn lại là của ông T1T2.
5. Tại Bản án dân sự thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 21/9/2024, Tòa án
nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương quyết định: Chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S. Buộc ông Đồng Văn T1
Nguyễn Thị T2 phải trả cho Nguyễn Thị S số tiền 9.940.000.000đồng. Buộc
chị Đồng Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền 340.000.000đồng. Ngoài ra
bản án còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo theo
quy định.
Ngày 04/10/2024, bị đơn Đồng Văn T1, Nguyễn Thị T2 Đồng Thị H
kháng cáo. Trong đó, chị H xác định ngoài số tiền đã được Tòa án thẩm xác
định, chị H còn trả được S số tiền 239.989.000đồng, ch còn nợ
100.011.000đồng. Ông T1, T2 thừa nhận vay tiền của S với lãi cao, đã
trả hết tiền gốc và lãi nên không đồng ý trả tiền cho bà S.
Tại phiên tòa phúc thẩm: S chị H cùng đối chiếu số liệu các chứng
cứ do chị H cung cấp tại cấp phúc thẩm cùng thống nhất xác định ngoài số tiền
chị H đã trả S theo xác định tại bản án thẩm, chị H còn trả được cho S
thêm 259.989.000đồng, còn nợ 80.011.000đồng. Chị H xác định ông T1, T2
giữ nguyên kháng cáo đã trả hết tiền vay cho bà S nhưng không cung cấp được
thêm chứng cứ để chứng minh.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn Đồng Thị H, sửa bản án sơ thẩm về nghĩa
vụ trả nợ của chị H đối với S; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Đồng
4
Văn T1 Nguyễn Thị T2, giữ nguyên quyết định của bản án thẩm về nghĩa
vụ trả nợ của ông T1, bà T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được chấp
nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
2.1. Năm 2016 và 2017, bà Nguyễn Thị S với vợ chồng ông Đồng Văn T1
Nguyễn Thị T2 cùng chị Đồng Thị H đã thiết lập thực hiện các hợp đồng
vay tiền. Ông T1T2 cùng chị H đã viết 18 giấy vay tiền của bà S cũng như số
tiền S chuyển qua tài khoản cho chị H tại hồ sơ. Ông T1 T2 chị H thừa
nhận 18 giấy vay tiền mà bà S cung cấp cho Tòa án là do ông T1 viết và nhận,
có cả chữ ký của bà T2, chị H cùng 01 phiếu hạch toán. Tuy nhiên ông T1 bà T2
chị H cho rằng số tiền thực vay không phải như trên do S cho vay tiền
tính lãi cao; mỗi lần không trả được tiền gốc và lãi thì S lại yêu cầu viết một
giấy vay tiền mới hoặc khi trả tiền thì không viết giấy trả và lấy lại giấy vay tiền
nên nay S mới cộng tổng vào thành số tiền trên. Tuy nhiên, ngoài lời khai
của ông T1, T2 chị H, các bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng
minh, trong khi nguyên đơn không thừa nhận. Do đó, cấp sơ thẩm xác định, ông
T1T2 vay nợ S 10.940.000.000đồng (17 giấy vay tiền); chị H vay bà S
735.000.000đồng (01 giấy vay tiền cùng 01 phiếu hạch toán) là n cứ. Kháng
cáo của các bị đơn về nội dung này không có căn cứ chấp nhận.
2.2. Đối với khoản tiền 300.000.000 đồng theo Giấy biên nhận vay tiền
ngày 08/10/2017 (BL06), bà S cho rằng đây là khoản vay của chị H. Chị H thừa
nhận chữ trong Giấy biên nhận là của mình nhưng xác định ký với cách
người làm chứng. Tại Giấy vay tiền này ghi tên người vay là ông Đồng Văn T1
nên cấp sơ thẩm xác định đó là khoản vay nợ của ông T1, bà T2 là có căn cứ.
2.3. S cho rằng chị H còn phải chịu trách nhiệm khoản tiền vay ngày
25/10/2017 500.000.000đ (BL04) sau đó ngày 27/10/2017 ông T1 đã đến
ngân hàng chuyển toàn bộ khoản tiền này vào tài khoản cho chị H. Tuy nhiên ch
H không thừa nhận và xác định khoản vay trên là của ông T1T2 chị không
thỏa thuận, không ký giấy vay tiền, việc ngày 27/10/2017 ông T1 đến ngân hàng
chuyển số tiền này cho chị là quan hệ khác không liên quan đến bà S. Nên cấp sơ
thẩm xác định đó là khoản vay nợ của ông T1T2 là có căn cứ.
2.4. Trong tổng số tiền S yêu cầu ban đầu số tiền 500.000.000đồng
chuyển khoản qua tài khoản của chị Đinh Thị H1. Nhưng bà S đã rút tách khoản
này không yêu cầu nên cấp sơ thẩm không giải quyết là đúng quy định.
2.5. Các bên đương sự đã đối chiếu trong giai đoạn sơ thẩm và thống nhất
các bị đơn đã trả nguyên đơn tổng 1.395.000.000đồng (thời điểm sau ngày
15/9/2017 là 160.000.000đồng trước đó 1.235.000.000đồng), trong đó chị H
đã trả 395.000.000đồng, ông T1 T2 đã trả 1.000.000.000đồng.
5
2.6. Đối trừ khoản tiền vay và trả, cấp sơ thẩm xác định ông T1 T2 còn
nợ S số tiền 9.940.000.000đồng; chị H còn nợ bà S số tiền
340.000.000đồng là có căn cứ.
2.7. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà S và chị H cùng đối chiếu số liệu các
chứng cứ do chị H cung cấp tại cấp phúc thẩm và cùng thống nhất xác định ngoài
số tiền chị H đã trả bà S theo xác định tại bản án sơ thẩm, chị H còn trả được cho
bà S thêm 259.989.000đồng, còn nợ 80.011.000đồng. Đây là sự tự nguyện thống
nhất của S chị H phù hợp với các bản sao kê tài khoản do chị H cung cấp
do Tòa án thu thập nên cần chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một
phần kháng cáo của chị H, sửa bản án thẩm về nghĩa vụ trả nợ của chị H đối
với bà S. Do sửa nghĩa vụ của chị H nên cần sửa phần án phí dân sự sơ thẩm của
chị H cho phù hợp.
[3] Về án phí phúc thẩm: Ông T1, bà T3 kháng cáo không được chấp nhận
nhưng người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Chị H kháng
cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo
Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chế độ án phí, lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Đồng Văn T1 Nguyễn
Thị T2, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Đồng Thị H. Sửa Bản án dân
sự thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 21/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố
Chí Linh, tỉnh Hải Dương như sau:
1.1. Căn cứ Điều 280, Điều 357, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 469 B
luật Dân sự 2015; Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị S.
Buộc ông Đồng Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 phải trả cho bà Nguyễn Thị
S số tiền 9.940.000.000đồng (Chín tỉ chín trăm bốn mươi triệu đồng).
Buộc chị Đồng Thị H phải trả cho Nguyễn Thị S số tiền 80.011.000đồng
(T4 mươi triệu không trăm mười một nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
6
1.2. Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm cho ông Đồng Văn T1
Nguyễn Thị T2. Buộc chị Đồng Thị H phải chịu 4.000.550đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
2. Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đồng Văn T1
Nguyễn Thị T2. Chị Đồng Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn
trả chị H số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004199 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
3. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhn:
- VKSND tnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Người bo v quyn li ích hp
pháp của đương sự;
- TAND TP. Chí Linh;
- Chi cc THADS TP. Chí Linh;
- Lưu: HS, THS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TO PHIÊN T
Trn Hu Hiu
Tải về
Bản án số 26/2025/DS-PT Bản án số 26/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất