Bản án số 182/2025/HC-PT ngày 28/03/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 182/2025/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 182/2025/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 182/2025/HC-PT
Tên Bản án: | Bản án số 182/2025/HC-PT ngày 28/03/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
Số hiệu: | 182/2025/HC-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 28/03/2025 |
Lĩnh vực: | Hành chính |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ án: | Bác kháng cáo của ông Hoàng Anh T là người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện bà Trương Thị H và giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2024/HC-ST ngày 11/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 182/2025/HC-PT
Ngày 28/3/2025.
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính về lĩnh vực quản lý đất đai
trong trường hợp thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Kim Liên
Các Thẩm phán: ông Lê Tự
ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Tiến Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: ông Trần Viết
Tuấn, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 54/2025/TLPT-HC ngày
13 tháng 01 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực
quản lý đất đai trong trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2024/HC-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024
của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 619/2025/QĐ-PT ngày
04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: bà Trương Thị H - sinh năm 1955; địa chỉ: tổ A Đường
Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: ông Hoàng Anh T - sinh
năm 1990; địa chỉ: số G đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và
ông Phan Đức H1 - sinh năm 1980; địa chỉ: tổ dân phố T, phường C, thành phố
C, tỉnh Khánh Hòa (văn bản uỷ quyền ngày 06/9/2023). Có mặt.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
2
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lưu Thành N - chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy
ban nhân dân thành phố N (văn bản uỷ quyền 6412/UBND-TNMT ngày
09/8/2023). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Nguyễn Duy T1 - Phó Trưởng phòng Phòng Nông nghiệp và Môi
trường thành phố N. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Trương Thị Yến T2 - chuyên viên Phòng Nông nghiệp và Môi trường
thành phố N. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hoàng L - Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất thành
phố N. Có mặt.
- Ông Nguyễn Khánh H2 - nhân viên Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố
N. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần V1; địa chỉ: tổ A B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh
Hòa;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Văn Đ - chức vụ: Giám đốc Ban
Phát triển Dự án Công ty cổ phần V1; địa chỉ: phòng B Tòa O, Mường Thanh
Viễn T3, số C đường P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (văn bản uỷ
quyền ngày 05/01/2024). Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Bùi Danh H3 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường V (văn bản uỷ quyền số 649/UBND ngày 26/3/2025). Có mặt.
4. Người kháng cáo: ông Hoàng Anh T là người đại diện theo uỷ quyền của
người khởi kiện bà Trương Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản đối thoại và tại phiên tòa sơ thẩm,
người khởi kiện bà Trương Thị H trình bày:
Bà là chủ sở hữu quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02
diện tích 223,7m2 (thuộc mảnh trích đo địa chính số 88-2018 do Công ty TNHH
D lập ngày 01/8/2018) tại phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Nguồn gốc thửa đất trên là do Ủy ban nhân dân phường V (nay là phường
V) cấp cho ông Trương Ngọc T4 (ông T4 là em trai bà) năm 1987 để làm nhà ở.
Năm 2002, ông T4 lập giấy cho bà phần đất này và bà đã xây nhà ở và sử dụng
3
ổn định từ đó đến nay. Trong quá trình sử dụng đất bà đã kê khai, thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ thuế với cơ quan có thẩm quyền.
Để thực hiện dự án C & Spa, ngày 16/8/2022, Ủy ban nhân dân thành phố N
ban hành Quyết định số 1747/QĐ-UBND thu hồi toàn bộ thửa đất trên của bà mà
không bồi thường về đất cũng như hỗ trợ tái định cư cho bà là không đúng quy
định của Luật Đất đai năm 2013. Ủy ban nhân dân thành phố N, Ủy ban nhân dân
phường V xác định thửa đất bà bị thu hồi là đất do Ủy ban nhân dân phường V
cho ông Trần Tám M từ năm 1987 để trồng cây lâu năm và hoa màu là không
đúng sự thật và nguồn gốc của thửa đất. Thửa đất này do Ủy ban nhân dân phường
V cấp cho ông Trương Ngọc T4 năm 1987 để làm nhà ở, sau đó năm 2002 ông
Trương Ngọc T4 cho bà phần đất này và bà đã xây nhà ở ổn định từ năm 2002
đến nay. Quá trình sử dụng đất bà luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế nhà đất với
cơ quan Nhà nước.
Nhận thấy việc Ủy ban nhân dân thành phố N thu hồi đất của bà để thực hiện
dự án C & Spa mà không bồi thường và hỗ trợ tái định cư cho gia đình bà là xâm
phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà, không đúng với các
quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Vì vậy,
bà đề nghị Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 của Ủy ban nhân dân
thành phố N về việc thu hồi đất đối với hộ bà Trương Thị H để thực hiện dự án C
& Spa;
- Hủy Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 của Ủy ban nhân dân
thành phố N về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Trương Thị H khi Nhà nước
thu hồi đất để thực hiện dự án C & Spa.
* Tại Văn bản số 6413/UBND-TNMT ngày 09/8/2023, người bị kiện Ủy ban
nhân dân thành phố N trình bày:
1. Về việc yêu cầu hủy Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 của
Ủy ban nhân dân thành phố N về việc thu hồi đất đối với bà Trương Thị H đang
sử dụng để thực hiện dự án Champarama Resort & Spa, phường Vĩnh Hòa, thành
phố Nha Trang:
Dự án Champarama Resort & Spa đã được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp Giấy
chứng nhận đầu tư số 37121000389 ngày 16/4/2013 chứng nhận Công ty Cổ phần
D1 thực hiện dự án đầu tư C1 tại khu đất liền ven biển B, phường V, thành phố N
với diện tích khoảng 46ha; mục tiêu: đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp
(đạt tiêu chuẩn 5 sao) với vốn đầu tư khoảng 1.200 tỷ đồng; nguồn vốn: 100%
vốn trong nước, từ nguồn vốn tự có của Doanh nghiệp và vốn huy động khác; thời
hạn hoạt động: 50 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
4
Theo quy định của Luật Đất đai 2003, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 và hướng dẫn của Bộ T11 tại khoản 2 mục X Thông tư số 06/2007/TT-
BTNMT ngày 02/7/2007 quy định về việc thu hồi đất để thực hiện các dự án khu
dân cư, trung tâm thương mại, khách sạn cao cấp quy định khoản 2 Điều 34 Nghị
định số 84/2007/NĐ-CP. Cụ thể: “Các dự án phát triển kinh tế trong khu đô thị
hiện có gồm dự án xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê theo quy định của pháp
luật về nhà ở và pháp luật về kinh doanh bất động sản, dự án xây dựng nhà ở xã
hội, dự án xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư, dự án xây dựng nhà ở công vụ, dự
án xây dựng trung tâm thương mại, trung tâm H5; dự án xây dựng khách sạn cao
cấp đạt tiêu chuẩn từ hạng 3 sao trở lên”.
Như vậy, dự án C & S thuộc nhóm đối tượng Nhà nước thu hồi đất theo quy
định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 99 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ về xử lý các trường hợp đang thực hiện thủ tục thu hồi
đất trước ngày 01/7/2014. Cụ thể:
“1. Trường hợp đã có văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, giới thiệu địa
điểm hoặc thông báo thu hồi đất gửi đến từng người có đất thu hồi hoặc văn bản
cho phép chủ đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất thuộc phạm vi dự án từ
trước ngày 01/7/2014 nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì xử lý như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép tiếp tục thực hiện dự án và áp dụng
hình thức thu hồi đất hoặc chủ đầu tư nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng
đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai, nếu
phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt;”
Dự án Champarama Resort & Spa được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp chủ
trương đầu tư trước khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực. Thực hiện Luật Đất
đai năm 2013 và Điều 99 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính
phủ quy định về xử lý các trường hợp đang thực hiện thủ tục thu hồi đất trước
ngày 01/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh K đã thống nhất cho phép tiếp tục thực
hiện dự án và áp dụng hình thức thu hồi đất để thực hiện dự án, trình Hội đồng
nhân dân tỉnh Khánh Hòa thông qua tại Nghị quyết số 13/NQ-HĐND ngày
10/12/2014. Sau khi Hội đồng nhân dân tỉnh K thông qua Nghị quyết, Ủy ban
nhân dân thành phố N đã cập nhật phần diện tích thu hồi vào Kế hoạch sử dụng
đất từ năm 2015 cho đến nay của thành phố N.
Ngày 06/01/2016, Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư số
5488314111 cho Công ty Cổ phần K để thực hiện dự án C & Spa. Ngày
24/02/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh K ban hành Quyết định số 465/QĐ-UBND về
việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 Khu nghỉ dưỡng C, phường V,
5
thành phố N. Ngày 27/10/2016, Ủy ban nhân dân thành phố N đã ban hành Thông
báo số 826/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án C & S, phường V,
thành phố N.
Theo quy định tại khoản 60 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày
06/01/2017 của Chính phủ về bổ sung khoản 3, 4 vào Điều 99 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, cụ thể:
“3. Đối với dự án đầu tư thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy
định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhưng không
thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013
mà đã lựa chọn chủ đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư trước ngày
01/7/2014, phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh tổng hợp vào danh mục dự án cần thu hồi đất để trình Hội đồng
nhân dân thông qua trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thu
hồi đất. Trình tự, thủ tục thu hồi đất đối với trường hợp quy định tại khoản này
thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật Đất đai.”
Ngày 28/12/2018, T12 có văn bản số 329/CQHĐĐ- PGĐ,CTĐ gửi Sở T13
hướng dẫn chuyên môn về việc thu hồi đất thực hiện dự án. Ngày 25/01/2019, Sở
T13 có văn bản số 449/STNMT-CCQLĐĐ báo cáo giải trình và làm rõ nội dung
dự án C & Spa có được tiếp tục thực hiện theo hình thức Nhà nước thu hồi đất đối
với Khu B. Sở T13 kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh C2 Ủy ban nhân dân thành
phố N, các đơn vị liên quan tiếp tục triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư đối với phần diện tích còn lại của dự án là phù hợp quy định.
Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh K có văn bản số 1695/UBND-XDNĐ ngày
22/2/2019 và văn bản số 1064/UBND-XDNĐ ngày 30/01/2019 đồng ý với nội
dung đề nghị của Sở T13, yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố N, chủ đầu tư tiếp
tục thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với phần diện tích còn
lại của dự án C & Spa.
Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, Ủy ban nhân dân thành phố N ban
hành Thông báo số 826/TB-UBND Ngày 27/10/2016 về việc thu hồi đất để thực
hiện dự án C & S, phường V, thành phố N là đúng theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện dự án, hộ bà Trương Thị H đang sử dụng thửa đất
số 31, tờ bản đồ số 02 thuộc Mảnh trích đo địa chính số 88 - 2018 do Công ty
TNHH D thiết lập ngày 01/8/2018, được Sở T13 xác nhận 21/9/2018, trên cơ sở
bản đồ cắm mốc ranh giới số 175 - 2016 được Sở T13 xác nhận ngày 13/10/2016,
có diện tích 223,7m2 do bà Trương Thị H kê khai đã được Ủy ban nhân dân
phường V xác nhận tại Giấy xác nhận số 248/XN-UBND ngày 25/02/2022 nằm
trong phạm vi thu hồi đất để thực hiện dự án C & S, phường V, thành phố N.
Trước khi ban hành các Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt phương
6
án bồi thường hỗ trợ tái định cư, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng
mặt bằng đã tiến hành việc khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư. Như vậy, việc Ủy ban nhân dân thành phố N ban
hành Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 về việc thu hồi đất đối với
hộ bà Trương Thị H đang sử dụng để thực hiện dự án C & S, phường V, thành
phố N là đúng trình tự, thẩm quyền.
Do đó, bà Trương Thị H yêu cầu hủy Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày
16/8/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố N về việc thu hồi đất đối với hộ bà
Trương Thị H đang sử dụng để thực hiện dự án C & S, phường V, thành phố N là
không có cơ sở.
2. Về việc yêu cầu hủy Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 của
UBND thành phố N về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Trương Thị H khi
Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án C & S, phường V, thành phố N:
Theo Giấy xác nhận số 248/XN-UBND ngày 25/02/2022 của Ủy ban nhân
dân phường V: thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02 thuộc Mảnh trích đo địa chính số
88 - 2018 do Công ty TNHH D thiết lập ngày 01/8/2018, được Sở T13 xác nhận
21/9/2018, trên cơ sở bản đồ cắm mốc ranh giới số 175 - 2016 được Sở T13 xác
nhận ngày 13/10/2016 có diện tích 223,7m2.
“Nguồn gốc:
* Theo Sổ dã ngoại năm 1996: thuộc một phần diện tích do ông Nguyễn Thế
T5 (thửa số 39, tờ bản đồ số 04, diện tích: 4.135m2, loại ruộng đất: T6
* Theo giấy tờ:
Đất do Ủy ban nhân dân phường V cho ông Trần Tám M từ năm 1987 sử
dụng để trồng hoa màu và cây lâu năm.
Năm 2001, ông Trần T7 có kê khai hồ sơ kỹ thuật đền bù giải tỏa dự án Khu
nghỉ mát cao cấp Rusalka thửa số 113, diện tích 599,2m2.
Ngày 20/5/2002, ông Trần T7 sang nhượng cho ông Trương Ngọc T4 lô đất
diện tích 100m2 (bằng giấy viết tay không có xác nhận của cơ quan có thẩm
quyền).
Ngày 18/7/2002, ông Trần T7 sang nhượng cho ông Trương Ngọc T4
quyền), lô đất diện tích 200m2 (bằng giấy viết tay không có xác nhận của cơ quan
có thẩm quyền). Tổng diện tích đất ông Trương Ngọc T4 nhận chuyển nhượng
(theo giấy tờ): 300m2.
Ngày 10/4/2002, ông Trương Ngọc T4 cho chị gái là bà Trương Thị H, diện
tích 200m2 (bằng giấy viết tay không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền).
7
Ngày 11/3/2016, bà Trương Thị H đo vẽ trích đo địa chính thửa đất được
Văn phòng Đ1 chi nhánh thành phố N với diện tích 223,8m2.
Hiện nay, diện tích thực tế sử dụng của bà Trương Thị H là 223,7m2, chênh
lệch tăng 23,7m2 so với Giấy cho đất là do tặng cho áng chừng. Toàn bộ khuôn
viên ranh giới thửa đất đã được xác định, không có tranh chấp với những người
sử dụng đất liền kề. Bà Trương Thị H tiếp tục sử dụng đất từ đó cho đến nay ổn
định, không lấn, chiếm và không có tranh chấp.
- Hộ gia đình không trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại vị trí thửa đất bị giải
tỏa.
- Hộ gia đình có ăn ở, sinh hoạt tại vị trí thửa đất bị giải tỏa tình trạng cư trú:
+ Từ năm 2011 đến năm 2021: hộ gia đình ăn ở sinh hoạt tại vị trí thửa đất
bị giải tỏa.
+ Từ năm 2021 đến nay, hộ gia đình không ở sinh hoạt tại vị trí thửa đất bị
giải tỏa mà cho công nhân thuê nhà.
- Thời điểm sử dụng đất: tiếp tục từ năm 2002 đến nay.
Thời điểm xây dựng công trình và vật kiến trúc khác trên đất: năm 2011 -
không có giấy phép xây dựng.
- Số nhân khẩu: 01 khẩu (tại vị trí giải tỏa).
- Loại đất: đất công do Ủy ban nhân dân phường Q - không phải đất công
ích. Tổng diện tích đất: 223,7m2”.
Theo nội dung xác minh của Ủy ban nhân dân phường V, Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư đã họp xét thông qua Phương án bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư của hộ bà Trương Thị H vào ngày 17/03/2022 và được niêm yết
Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Thông báo số 86/TB-HĐBT ngày
27/04/2022. Theo đó, Ủy ban nhân dân thành phố N phê duyệt Phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư tại Quyết định số 1739/QĐ-UBND ngày 16/8/2022,
thu hồi đất tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 16/8/2022; bồi thường, hỗ trợ
tại Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 và bồi thường, hỗ trợ bổ sung
tại Quyết định số 146/QĐ-UBND ngày 30/01/2023. Phương án bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư cụ thể như sau:
+ Về đất: trường hợp hộ bà Trương Thị H sử dụng đất có nguồn gốc là đất
công do Uỷ ban nhân dân phường quản lý, không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
theo quy định, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên thửa đất này, loại đất:
đất công do Ủy ban nhân dân phường Q - không phải đất công ích. Do vậy, không
được bồi thường, hỗ trợ về đất theo khoản 2 Điều 82 của Luật Đất đai năm 2013.
8
+ Về tài sản gắn liền trên đất: thời điểm xây dựng công trình vật kiến trúc
của hộ bà Trương Thị H: năm 2011 (không có giấy phép xây dựng). Do vậy,
không được bồi thường theo khoản 2 Điều 92 của Luật Đất đai năm 2013, chỉ
được hỗ trợ theo điểm 7 khoản 4 Điều 1 Quyết định số 04/2022/QĐ-UBND ngày
09/3/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh K.
+ Về cây trồng: Ủy ban nhân dân thành phố N đã phê duyệt bồi thường, hỗ
trợ bổ sung đơn giá cây trồng của hộ bà Trương Thị H tại Quyết định số 146/QĐ-
UBND ngày 30/01/2023.
+ Về chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển
đổi nghề, tìm kiếm việc làm, hỗ trợ tiền thuê nhà: căn cứ Điều 83 của Luật Đất
đai 2013, Điều 19, Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu Nhà nước thu hồi đất
thì hộ bà Trương Thị H không trực tiếp sản xuất nông nghiệp và không đủ điều
kiện bồi thường về đất nên không đủ điều kiện hỗ trợ.
+ Về chính sách tái định cư: trường hợp hộ bà Trương Thị H bị thu hồi toàn
bộ diện tích đất (loại đất: đất công do Ủy ban nhân dân phường Q - không phải
đất công ích), không được bồi thường, hỗ trợ về đất.
Căn cứ các Điều 23, 24 Quyết định số 10/2021/QĐ-UBND ngày 26/8/2021
của Ủy ban nhân dân tỉnh K quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và khoản 5
Điều 1 Quyết định số 04/2022/QĐ-UBND ngày 09/3/2022 của Ủy ban nhân dân
tỉnh K thì trường hợp của hộ bà Trương Thị H không đủ điều kiện để bố trí tái
định cư theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất. Từ những nội dung nêu trên,
Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của hộ bà Trương Thị H đã được xét
duyệt là có căn cứ pháp luật.
Như vậy, bà H yêu cầu hủy Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 16/8/2022
của Ủy ban nhân dân thành phố N về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà H khi
Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án C & S, phường V, thành phố N là không
có cơ sở.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần V1 là ông Trần Văn Đ trình bày:
1. Đối với yêu cầu của bà Trương Thị H khởi kiện Quyết định số 1747/QĐ-
UBND ngày 16/08/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố N về việc thu hồi đất đối
với bà Trương Thị H đang sử dụng để thực hiện dự án C & S, phường V, thành
phố N và Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 16/08/2022 của Ủy ban nhân dân
thành phố N về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Trương Thị H khi Nhà nước
9
thu hồi đất để thực hiện dự án C & S, phường V, ông không có ý kiến gì. Đề nghị
Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Công ty V2 luôn tuân thủ và nghiêm chỉnh thực hiện theo quy định pháp
luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình triển
khai dự án. Cụ thể:
Dự án C & Spa là dự án đã được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp Giấy chứng
nhận đầu tư số 37121000389 ngày 16/04/2013 chứng nhận Công ty Cổ phần D1
với diện tích khoảng 46 ha. Theo quy định tại Luật Đất đai năm 2003, Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại
về đất đai và Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/07/2007 hướng dẫn thực
hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP thì dự án C & Spa thuộc nhóm
đối tượng Nhà nước thu hồi đất.
Dự án cũng đã được Hội đồng nhân dân tỉnh K thông qua tại Nghị quyết số
13/NQ-HĐND ngày 10/12/2014 về việc thông qua danh mục các dự án thu hồi
đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong năm 2015
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Dự án đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy
chứng nhận đầu tư số 5488314111 ngày 06/01/2016 cho Công ty Cổ phần K (tên
Công ty hiện đã thay đổi là Công ty Cổ phần V1) để thực hiện dự án.
Ngày 24/02/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh K ban hành Quyết định số 465/QĐ-
UBND về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 Khu nghỉ dưỡng C,
phường V, thành phố N.
Ngày 27/10/2016, Ủy ban nhân dân thành phố N đã ban hành Thông báo số
826/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án C & S, phường V, thành
phố N.
Công ty Cổ phần V2 nhận thấy quá trình triển khai công tác thu hồi đất của
dự án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã thực hiện công khai, minh bạch và
đúng quy định của pháp luật.
Trước khi ban hành các Quyết định thu hồi đất và Quyết định cưỡng chế thu
hồi đất, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố N đã mời các đơn vị liên quan
tiến hành việc khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư, tổ chức niêm yết công khai, lấy ý kiến theo đúng trình tự quy
định của pháp luật.
3. Ngoài Phương án bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước, Công ty Cổ phần V1
còn có chính sách hỗ trợ thêm đối với các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án,
trong đó bao gồm hộ bà Trương Thị H.
10
Công ty đã gửi chính sách hỗ trợ của Công ty đến hộ bà Trương Thị H theo
khung chính sách chung đã công khai tại văn bản số 90/2022/VB-Vega ngày
29/11/2022 và văn bản số 99/2022/VB-Vega ngày 23/12/2022. Theo đó, Công ty
sẽ không hỗ trợ đối với các thửa đất mà Nhà nước đã áp dụng biện pháp cưỡng
chế thu hồi. Tại các buổi họp vận động nhận tiền và bàn giao mặt bằng, đại diện
Ủy ban nhân dân phường V cùng các đơn vị liên quan đã nhiều lần vận động hộ
dân sớm nhận tiền và bàn giao mặt bằng theo chính sách hỗ trợ của Công ty V2
nhưng hộ bà Trương Thị H vẫn không đồng ý. Hiện tại, Công ty V2 không còn
chính sách hỗ trợ đối với trường hợp này.
Ông Trần Văn Đ xin được vắng mặt tại các buổi làm việc, công khai chứng
cứ, xét xử liên quan đến nội dung khởi kiện của bà Trương Thị H. Đề nghị Tòa
án xét xử theo đúng quy định của pháp luật.
- Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N trình bày:
1. Nội dung nguồn gốc phần diện tích đất 223,7m2 (thuộc thửa đất số 31, tờ
bản đồ số 02 Mảnh trích đo địa chính số 88 – 2018 do Công ty TNHH D thiết lập
ngày 01/8/2018, được Sở T13 xác nhận 21/9/2018:
Nội dung về nguồn gốc đất của thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02 do bà Trương
Thị H kê khai thuộc dự án C & S, phường V, thành phố N đã được Hội đồng
phường V đã tiến hành họp xét nguồn gốc đất, niêm yết nguồn gốc đất tại Thông
báo số 115/UBND ngày 25/01/2022 (đợt 32 - 24 trường hợp) thời gian niêm yết
từ ngày 25/01/2022 đến ngày 09/02/2022 tại Ủy ban nhân dân phường V và khu
dân cư theo quy định. Theo đó, Ủy ban nhân dân phường V đã xác nhận nguồn
gốc đất tại Giấy xác nhận số 248/XN-UBND ngày 25/02/2022.
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân phường V báo cáo rõ thêm nội dung được xác
định là đất công do Ủy ban nhân dân phường Q. Cụ thể như sau:
- Năm 1987, thửa đất nêu trên thuộc đất do Ủy ban nhân dân phường V quản
lý và cho ông Trần Tám M để trồng hoa màu và cây lâu năm.
- Năm 1996, khi lập hồ sơ dã ngoại, tại vị trí thửa đất (thửa đất số 31, tờ bản
đồ số 02 của bà Trương Thị H kê khai hồ sơ dự án C &Spa): ông Nguyễn Thế T5
đã kê khai phần diện tích đất nêu trên, cụ thể là thửa số 39, tờ bản đồ số 04, diện
tích: 4.135m, loại ruộng đất: T. Vị trí thửa đất được xác định trong bản đồ: phía
Đông: giáp đường số 02 và đất ông Nguyễn Thế T5; phía Tây: giáp đất Uỷ ban
nhân dân phường quản lý; phía Bắc: giáp đất bà Nguyễn Thị C; phía Nam: giáp
đất bà Nguyễn Thị Ngọc Y.
- Năm 1997, Phòng Địa chính thành phố N có văn bản số 112/ĐC ngày
17/5/1997 v/v hòa giải tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị V và ông Trần T7 với nội
dung:
11
“Phòng Địa chính ghi nhận sự tự nguyện hòa giải giữa các đương sự bà
Huỳnh Thị V sử dụng phần đất hướng Nam giáp đất bà Nguyễn Thị Ngọc Y, ông
Trần T7 sử dụng phần đất hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị C. Yêu cầu các
đương sự phải sử dụng đất trồng cây lâu năm; không được tự tiện chuyển đổi
chuyển nhượng đất sử dụng chưa hợp pháp cho đối tượng khác dưới mọi hình
thức. Khi Nhà nước có quy hoạch, thu hồi đất, các hộ tự nguyện trả đất cho Nhà
nước, không được bồi thường chi phí nào khác”.
Nội dung tại văn bản này xác định rõ thêm: vị trí đất của ông Trần T7 được
xác định phía Bắc giáp ranh đất bà Nguyễn Thị C đồng thời có vị trí Đông Tây tứ
cận đúng theo vị trí hồ sơ dã ngoại năm 1996 giải trình nêu trên (trong đó: bà
Huỳnh Thị V là mẹ ruột của ông Nguyễn Thế T5 - người kê khai hồ sơ dã ngoại
năm 1996). Nguồn gốc đất nêu trên được xác định là đất công do Ủy ban nhân
dân phường Q khi Nhà nước thu hồi thì hộ dân phải trả lại đất cho Nhà nước theo
quy định.
- Năm 2001, khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án khu nghỉ mát cao
cấp Rusalka tại B, ông Trần T7 có kê khai hồ sơ kỹ thuật đền bù giải tỏa dự án
Khu nghỉ mát cao cấp Rusalka thửa số 113, với diện tích 599,2m2. Cụ thể: phía
Đông: giáp đất ông Nguyễn Thế T5; phía Tây: giáp đất bà Nguyễn Thị Thu T8;
phía Bắc: giáp đất bà Nguyễn Thị C; phía Nam: giáp đất ông Nguyễn Thế T5.
Đồng thời, Ủy ban nhân dân phường V đã xác nhận nguồn gốc đất thửa đất
số 113 tại Giấy xác nhận số 01/CN-UB ngày 01/12/2002 để phục vụ cho việc giải
tỏa xây dựng khu nghỉ mát cao cấp Rusalka tại B, phường V, thành phố N với nội
dung: “Đất do UBND phường V cho ông Trần Tám M từ năm 1987 sử dụng để
trồng hoa màu và cây lâu năm”.
- Ngày 20/5/2002, ông Trần T7 sang nhượng cho ông Trương Ngọc T4 lô
đất diện tích 100m2 (bằng giấy viết tay không có xác nhận của cơ quan có thẩm
quyền).
- Ngày 18/7/2002, ông Trần T7 sang nhượng cho ông Trương Ngọc T4 lô
đất diện tích 200m2 (bằng giấy viết tay không có xác nhận của cơ quan có thẩm
quyền).
- Tổng diện tích đất ông Trương Ngọc T4 nhận chuyển nhượng (theo giấy
tờ): 300m2.
- Ngày 10/4/2002, ông Trương Ngọc T4 cho chị gái là bà Trương Thị H, diện
tích 200m2 (bằng giấy viết tay không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền -
giấy tờ này không hợp lệ về thời gian chuyển nhượng).
- Ngày 11/3/2016, bà Trương Thị H đo vẽ trích đo địa chính thửa đất được
Văn phòng Đ1 chi nhánh thành phố N với diện tích 223,8m2.
12
- Theo Mảnh trích đo địa chính số 88 - 2018 do Công ty TNHH D thiết lập
ngày 01/8/2018 và được Sở T13 xác nhận 21/9/2018, trên cơ sở bản đồ cắm mốc
ranh giới 175 - 2016 được Sở T13 xác nhận ngày 13/10/2016, vị trí thửa đất của
bà Trương Thị H có tiếp giáp cụ thể như sau: phía Đông: giáp đất ông Nguyễn
Văn T9 (có nguồn gốc đất từ ông Nguyễn Thế T5 chuyển nhượng) đúng theo vị
trí Bản đồ năm 1996 và năm 2001; phía Tây: giáp đất bà Nguyễn Thị C (có nguồn
gốc đất từ ông Trần T7 cho tặng) đúng theo vị trí Bản đồ năm 1996 và năm 2001;
phía Bắc: giáp đường đi và đất của ông Hà Tiến L1 (nguồn đất bà Nguyễn Thị C
chuyển nhượng); phía Nam: giáp đất bà Nguyễn Thị Ngọc H4 (có nguồn gốc đất
từ Trần Tám chuyển nhượng cho ông Trương Ngọc T4 và ông T4 chuyển nhượng
cho bà H4) đúng theo vị trí Bản đồ năm 1996 và năm 2001. Từ những nội dung
nêu trên khẳng định:
- Nguồn gốc đất của bà Trương Thị H có nguồn gốc đất từ ông Trần Tám M
đất Uỷ ban nhân dân phường quản lý, năm 2002, ông Trần T7 chuyển nhượng cho
ông Trương Ngọc T4 và ông Trương Ngọc T4 cho tặng cho bà Trương Thị H.
- Vị trí đất của bà Trương Thị H (thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02) thuộc vị trí
của ông Trần T7 đã kê khai tại hồ sơ dự án Rusalka năm 2001 - vị trí của Ủy ban
nhân dân phường Q.
2. Nội dung ông Trần T7 còn sống hay đã chết:
Hiện nay, ông Trần T7 đã chết. Ủy ban nhân dân phường V cung cấp Giấy
Trích lục Khai tử số 103/TLKT-BS ngày 20/11/2021.
- Ông Trương Ngọc T10 trình bày: năm 2002, ông Trần T7 có sang nhượng
cho vợ chồng ông một vườn cây ăn trái với diện tích 200m2 (10m x 20m) tại khu
B, phường V (nay là phường V). Cũng trong năm này (2002), chị gái ông là bà
Trương Thị H (sinh năm 1955) có nhu cầu sinh sống gần gia đình ông nên vợ
chồng ông có lập giấy cho chị phần đất vừa sang nhượng lại của ông Trần T7. Sau
khi được cho đất, bà H đã xây nhà ở và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Hiện nay,
thửa đất trên đã bị Nhà nước thu hồi để thực hiện án Champarama Resort & Spa
mà không bồi thường cho chị gái ông với lý do đất do phường V cho ông Trần
Tám M từ năm 1987 để trồng cây lâu năm và hoa màu là không đúng sự thật và
nguồn gốc của thửa đất. Vì theo ông được biết nguồn gốc thửa đất trên là do ông
Trần T7 khai hoang. Ông cam kết những gì ông trình bày ở trên là hoàn toàn đúng
sự thật. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật để
đảm bảo quyền lợi của bà H. Ông xin vắng mặt tại các phiên họp đối thoại và các
phiên tòa xét xử vụ án.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2024/HC-ST ngày 11/6/2024 của Toà
án nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã quyết định:
13
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206 của Luật Tố tụng Hành
chính; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Trương Thị H về việc
hủy các Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 của Ủy ban nhân dân
thành phố N về việc thu hồi đất đối với hộ bà Trương Thị H để thực hiện dự án C
& S, phường V, thành phố N; Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 16/8/2022
của Ủy ban nhân dân thành phố N về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Trương
Thị H để thực hiện dự án C & S, phường V, thành phố N.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/6/2024, ông Hoàng Anh T là người đại diện theo uỷ quyền của
người khởi kiện bà Trương Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Toà
án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
bà Trương Thị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Hoàng Anh T và ông Phan Đức H1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
nội dung kháng cáo. Ông Hoàng Anh T cho rằng xuất phát từ Quyết định thu hồi
đất số 1747/QĐ-UBND ngày 16/8/2022, Ủy ban nhân dân thành phố N đã ban
hành Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 về việc bồi thường, hỗ trợ
đối với hộ bà Trương Thị H không bảo đảm quyền lợi cho bà Trương Thị H nên
đề nghị Hội đồng xét xử huỷ cả hai Quyết định nêu trên.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Nguyễn
Hoàng L và ông Nguyễn Khánh H2 đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của
ông Hoàng Anh T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng, về phần
thủ tục tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo đúng quy định pháp luật. Đề nghị
Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Hoàng Anh T, giữ nguyên quyết định của
Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2024/HC-ST ngày 11/6/2024 của Toà án nhân
dân tỉnh Khánh Hoà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết
quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền
của người bị kiện là ông Lưu Thành N - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
14
N, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Nguyễn Duy T1
và bà Trương Thị Yến T2 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Công ty cổ phần
V1 vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng việc
vắng mặt Công ty cổ phần V1 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, đề nghị
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án. Ông Hoàng Anh T và ông Phan Đức H1
cũng đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ vào
Điều 225 của Luật Tố tụng Hành chính, quyết định tiến hành phiên toà phúc thẩm
xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Hoàng Anh T là người đại diện theo uỷ
quyền của người khởi kiện bà Trương Thị H yêu cầu huỷ Quyết định số 1747/QĐ-
UBND ngày 16/8/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố N, Hội đồng xét xử thấy
rằng:
[2.1] Ngày 16/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đầu tư
số 37121000389, chứng nhận Công ty cổ phần D1 thực hiện dự án đầu tư C1 tại
khu đất liền ven biển B, phường V, thành phố N, với diện tích khoảng 46ha, mục
đích đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp (đạt chuẩn 5 sao), thời hạn hoạt
động: 50 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Như vậy, dự án này
đã được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp chủ trương đầu tư trước khi Luật Đất đai
năm 2013 có hiệu lực. Tại Quyết định số 111/QĐ-UBND ngày 13/01/2014, Ủy
ban nhân dân tỉnh K đã thống nhất cho phép Công ty cổ phần D1 tiếp tục thực
hiện dự án và áp dụng hình thức thu hồi đất để thực hiện dự án. Ngày 10/12/2014,
Hội đồng nhân dân tỉnh K ban hành Nghị quyết số 13/NQ-HĐND về việc thu hồi
đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng trong năm 2015
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa; trong đó có dự án C & Spa thuộc dự án chuyển tiếp
theo Điều 99 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, là
đúng quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật Đất đai năm 2003, khoản 2 Điều 34
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ, khoản 2 mục X
Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/7/2007 của Bộ T11 quy định về việc
thu hồi đất để thực hiện các dự án khu dân cư, trung tâm thương mại, khách sạn
cao cấp.
[2.2] Ngày 24/02/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh K ban hành Quyết định số
465/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 Khu nghỉ
dưỡng C. Ngày 27/10/2016, Ủy ban nhân dân thành phố N có Thông báo số
826/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án C & S, phường V, thành
phố N, diện tích đất thu hồi Khu B (B1 + B2): 28,80ha. Ngày 14/11/2014, Ủy ban
nhân dân tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh giảm diện tích dự án còn
khoảng 44ha (khu B: khoảng 30ha; khu C: khoảng 14ha). Như vậy, dự án chỉ điều
chỉnh giảm diện tích đối với khu A, còn diện tích khu B vẫn không thay đổi. Do
đó, không có việc khu B đã được đưa ra khỏi diện tích đất dự kiến sử dụng để
thực hiện dự án. Hộ bà Trương Thị H đang sử dụng thửa đất số 31, tờ bản đồ số
15
02, địa chỉ: phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa với diện tích đất là 223,7m2
và diện tích đất này nằm trong phạm vi thu hồi đất để thực hiện dự án C & S,
phường V, thành phố N. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án C &
Spa đã lập Biên bản kiểm kê khối lượng bồi thường giải toả vào ngày 07/8/2017,
có bà Trương Thị H ký xác nhận. Như vậy, việc Ủy ban nhân dân thành phố N
ban hành Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 về việc thu hồi đất đối
với hộ bà Trương Thị H để thực hiện dự án C & S, phường V, thành phố N là
đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 69 của Luật Đất đai
năm 2013. Do đó, nội dung kháng cáo này của ông Hoàng Anh T không có cơ sở
chấp nhận.
[3] Đối với kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày
16/8/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố N về việc bồi thường, hỗ trợ đối với
hộ bà Trương Thị H khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án C & S, phường
V, thành phố N, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Tại Giấy xác nhận số 248/XN-UBND ngày 25/02/2022 của Ủy ban
nhân dân phường V thể hiện: nguồn gốc của thửa đất số 31, tờ bản đồ số 02 là đất
công do Ủy ban nhân dân phường Q; năm 1987, Ủy ban nhân dân phường V cho
ông Trần T7 mượn thửa đất này để sử dụng trồng hoa màu và cây lâu năm. Mặt
khác, ngày 17/5/1997, Phòng Địa chính thành phố N có văn bản số 112/ĐC v/v
hòa giải tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị V và ông Trần T7 có nội dung: ghi nhận
sự tự nguyện hòa giải giữa hai bên, bà Huỳnh Thị V sử dụng phần đất hướng Nam
giáp đất bà Nguyễn Thị Ngọc Y, ông Trần T7 sử dụng phần đất hướng Bắc giáp
đất bà Nguyễn Thị C. Phòng Địa chính còn yêu cầu các đương sự phải sử dụng
đất trồng cây lâu năm; không được tự tiện chuyển đổi chuyển nhượng đất sử dụng
chưa hợp pháp cho đối tượng khác dưới mọi hình thức. Khi Nhà nước có quy
hoạch, thu hồi đất, các hộ tự nguyện trả đất cho Nhà nước, không được bồi thường
chi phí nào khác. Tuy nhiên, ngày 20/5/2002 và ngày 18/7/2002, ông T7 lần lượt
chuyển nhượng cho ông Trương Ngọc T4 tổng diện tích đất là 300m², bằng giấy
viết tay, không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Ngày 10/4/2002, ông T4
tặng cho chị gái là bà Trương Thị H diện tích 200m2 đất cũng bằng giấy viết tay,
không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (Giấy cho đất này không phù hợp
về thời gian tặng cho). Như vậy, hộ gia đình bà H không trực tiếp sản xuất nông
nghiệp trên thửa đất này, không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định
nên Ủy ban nhân dân thành phố N không bồi thường, hỗ trợ về đất là đúng quy
định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Đất đai năm 2013.
[3.2] Theo Biên bản kiểm kê khối lượng bồi thường giải tỏa ngày 07/8/2017,
vật kiến trúc gắn liền với đất của hộ bà H, gồm: nhà 01 tầng, tường gạch, xây dày
100, tường sơn nước, nền gạch men, cửa sắt kính, không trần, mái lợp tole, có hệ
thống nhà vệ sinh hoàn chỉnh, diện tích 20m2, có hệ thống điện nước, mái che,
cột kèo sắt nền lát gạch men, diện tích 12,5m2, rào lưới B40, trụ bê tông cốt thép,
16
cao 1,5m; tường rào xây gạch tính từ mặt móng cao 2m, dài 13,99m, móng đá chẻ
01 lớp; sân láng xi măng có bê tông diện tích 13m2 (2,6m x5m). Xét bà H xây
dựng công trình, vật kiến trúc trên đất vào năm 2011, không có Giấy phép xây
dựng nên không được bồi thường theo khoản 2 Điều 92 của Luật Đất đai năm
2013 mà chỉ được hỗ trợ số tiền 70.555.366đồng, là đúng quy định tại điểm 7
khoản 4 Điều 1 Quyết định số 04/2022/QĐ-UBND ngày 09/3/2022 của Ủy ban
nhân dân tỉnh K. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân thành phố N cũng đã ban hành Quyết
định số 146/QĐ-UBND ngày 30/01/2023 về việc bồi thường, hỗ trợ bổ sung đơn
giá cây trồng đối với hộ bà Hiệu số tiền 26.700.00đồng là phù hợp.
[3.3] Do hộ gia đình bà H không có nhân khẩu đang trực tiếp sản xuất nông
nghiệp trên diện tích đất này và không đủ điều kiện bồi thường về đất nên không
thuộc đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển
đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ tiền thuê nhà theo quy định tại Điều 83 của
Luật Đất đai 2013; Điều 19, Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ.
[3.4] Đối với chính sách tái định cư: diện tích đất hộ bà H bị thu hồi là đất
công do Ủy ban nhân dân phường Q và từ năm 2021 đến nay hộ bà H không sinh
sống tại thửa đất số 31 mà cho công nhân thuê nhà. Vì vậy, hộ bà H không đủ điều
kiện bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 23, Điều
24 Quyết định số 10/2021/QĐ-UBND ngày 26/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh
K quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và khoản 5 Điều 1 Quyết định số
04/2022/QĐ-UBND ngày 09/3/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh K. Do đó, việc Ủy
ban nhân dân thành phố N ban hành Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày
16/8/2022 về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà H khi Nhà nước thu hồi đất để
thực hiện dự án C & S, phường V, thành phố N là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ
tục và có căn cứ.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy Toà án cấp sơ thẩm xử
bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H là đúng quy định của pháp
luật. Tại phiên toà phúc thẩm, ông Hoàng Anh T không xuất trình được tài liệu,
chứng cứ gì mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình. Vì vậy, Hội đồng
xét xử bác kháng cáo của ông Hoàng Anh T như đề nghị của đại diện Viện Kiểm
sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[5] Do toàn bộ nội dung kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra bà Trương
Thị H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Nhưng xét, bà Trương Thị H là
người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên bà Trương Thị H không phải chịu án
phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
17
[6] Quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính,
Bác kháng cáo của ông Hoàng Anh T là người đại diện theo uỷ quyền của
người khởi kiện bà Trương Thị H và giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số
20/2024/HC-ST ngày 11/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà.
Áp dụng Điều 69, Điều 82 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 19, Điều 20
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; điểm 7 khoản 4 Điều 1 Quyết
định số 04/2022/QĐ-UBND ngày 09/3/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh K sửa đổi,
bổ sung một số điều tại quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà ban hành kèm
theo Quyết định số 10/2021/QĐ-UBND ngày 26/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh
K; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H về việc yêu cầu Toà
án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 của Ủy ban nhân dân
thành phố N về việc thu hồi đất đối với hộ bà Trương Thị H để thực hiện dự án C
& S, phường V, thành phố N;
- Huỷ Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 của Ủy ban nhân dân
thành phố N về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Trương Thị H để thực hiện
dự án C & S, phường V, thành phố N.
2. Về án phí: miễn án phí hành chính phúc thẩm cho bà Trương Thị H.
3. Quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Khánh Hoà;
- VKSND tỉnh Khánh Hoà;
- Cục THA dân sự tỉnh Khánh Hoà;
- Đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
18
- Lưu hồ sơ vụ án, VP.
Trần Thị Kim Liên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm